Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả là đề Viết của Bài 2 Gõ cửa trái tim (tập một) sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức; Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo đặt đề gần giống ở Bài 7 Gia đình yêu thương (tập hai), còn Ngữ văn 6 Cánh diều có đề đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ có yếu tố tự sự, miêu tả ở Bài 7 (tập hai). Dưới đây là yêu cầu đề bài theo mỗi bộ sách, một dàn ý chung và 13 đoạn văn mẫu; mỗi đoạn bàn về một bài thơ riêng, từ các bài trong sách lớp 6 đến vài bài thơ kể chuyện quen thuộc ngoài sách. Những chuyện gia đình, bạn bè dùng để liên hệ trong các đoạn văn là tình huống giả định.

Yêu cầu của kiểu bài đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả
Bài thơ có yếu tố tự sự là bài thơ có câu chuyện: có nhân vật, có sự việc nối tiếp nhau, đôi khi có cả lời đối thoại và một người kể. Yếu tố miêu tả là những chi tiết giúp người đọc nhìn thấy cảnh, người, vật: dáng đi, khuôn mặt, màu sắc, âm thanh. Viết đoạn văn về loại thơ này, em không kể lại cả bài mà nói xem câu chuyện ấy, những hình ảnh ấy làm em xúc động, thích thú hay suy nghĩ điều gì, và vì sao.
| Tiêu chí | Đoạn văn đạt khi |
|---|---|
| Mở đoạn | Có tên bài thơ, tên tác giả cùng ấn tượng ban đầu của em; câu dẫn vào có thể là một việc em gặp, một câu hỏi hay một hình ảnh trong bài. |
| Yếu tố tự sự | Nhắc ngắn gọn câu chuyện (ai, làm gì, chuyện diễn ra thế nào) và chỉ ra điều em thấy hay ở cách kể: người kể là ai, sự việc nào bất ngờ, lời thoại nào đáng nhớ. |
| Yếu tố miêu tả | Chọn một hai hình ảnh, chi tiết tả người hoặc cảnh mà em ấn tượng, nói nó gợi cho em cảm giác gì. |
| Cảm xúc | Nói đúng cảm xúc của mình (thương, nghẹn, bật cười, hồi hộp, tự hào…) và gắn với chi tiết trong bài; có thể liên hệ chuyện của bản thân. |
| Kết đoạn | Khép lại cảm xúc hoặc nói điều bài thơ để lại cho em, không chép lại câu mở. |
| Hình thức | Một đoạn văn liền mạch, ngôi thứ nhất, câu đầu viết hoa lùi vào; dẫn thơ chính xác trong ngoặc kép; độ dài theo yêu cầu của thầy cô (sách Chân trời sáng tạo gợi ý khoảng 200 chữ). |
| Bộ sách | Vị trí | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 1, Bài 2 Gõ cửa trái tim | Sách hướng dẫn đi theo các bước: chọn bài thơ, đọc lại để tìm ý (câu chuyện được kể, chi tiết tả nổi bật, cảm xúc của em), lập dàn ý ba phần rồi mới viết và tự sửa. Các văn bản đọc của Bài 2: Chuyện cổ tích về loài người, Mây và sóng; thực hành đọc Những cánh buồm. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 2, Bài 7 Gia đình yêu thương (mục Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ) | Đề không bắt buộc thơ tự sự, nhưng các bài thơ đọc trong Bài 7 (Những cánh buồm, Mây và sóng, Con là…) đều nói về tình cảm gia đình, hai bài đầu có cả câu chuyện lẫn lời đối thoại. Sách cho đọc một đoạn văn mẫu về Những cánh buồm để nhận ra câu mở đoạn, thân đoạn, câu kết đoạn, những từ ngữ bộc lộ cảm xúc và cách lặp từ, thay từ để nối câu. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 7 Thơ (thơ có yếu tố tự sự, miêu tả) | Đề ghi “cảm nghĩ”. Sách nói rõ đoạn văn có thể chỉ xoáy vào một điểm em thích nhất, về nội dung hay về nghệ thuật, miễn là giải thích được vì sao. Phần thực hành để học sinh tự chọn viết về Đêm nay Bác không ngủ, Lượm hoặc Gấu con chân vòng kiềng. |
Dàn ý đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ có yếu tố tự sự và miêu tả
1. Mở đoạn
– Giới thiệu bài thơ, tác giả.
– Nêu ấn tượng chung trong một câu; nếu muốn, mở bằng một việc em gặp ngoài đời, một câu hỏi hoặc một hình ảnh đặc biệt trong bài.
2. Thân đoạn
– Tóm câu chuyện trong hai ba câu: nhân vật, sự việc chính, kết thúc.
– Điều em thấy hay trong cách kể: người kể, sự việc bất ngờ, lời đối thoại, cách lặp lại.
– Một hai chi tiết miêu tả em thích, kèm vài chữ hoặc một dòng thơ làm dẫn chứng, rồi nói chi tiết ấy gợi cảm xúc gì.
– Liên hệ với bản thân nếu có (không bắt buộc, nhưng làm đoạn văn có giọng riêng).
3. Kết đoạn
– Khép lại cảm xúc bằng một câu mới, không lặp câu mở.
– Điều bài thơ để lại: ai đó em muốn nhớ, điều em định làm, hay một cách nhìn mới.
Cách tìm ý nhanh: đọc xong, trả lời ba câu hỏi ra giấy nháp. Câu chuyện kể về ai, kết thúc ra sao? Hình ảnh nào em nhắm mắt lại vẫn thấy? Lúc đọc đến đâu em thấy lòng mình thay đổi (cười, lặng đi, hồi hộp)? Ba câu trả lời ấy gần như là đủ ý cho thân đoạn.
Cảm xúc về những bài thơ kể chuyện gia đình
Mẫu 1: Chuyện cổ tích về loài người (Xuân Quỳnh)
Tối qua, bé Bông nhà tôi hỏi một câu làm cả nhà bật cười: trước khi có mẹ thì trên đời có gì? Tôi chưa kịp nghĩ ra câu trả lời thì nhớ ngay tới Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh, văn bản đọc đầu tiên của Bài 2 trong sách Kết nối tri thức. Nhà thơ trả lời thật bất ngờ: “Trời sinh ra trước nhất” là trẻ con, khi trái đất còn trụi trần, tối om, chưa có lấy một ngọn cỏ. Từ đó, câu chuyện cứ nối tiếp như lời bà kể cổ tích. Vì trẻ con cần nhìn cho rõ nên mặt trời mọc lên; vì trẻ cần màu sắc, âm thanh nên có cỏ cây, hoa lá, tiếng chim; rồi mẹ đến để bế bồng, bà đến để kể chuyện, bố đến để dạy con biết nghĩ, sau cùng là thầy giáo với lớp học. Tôi thích mạch kể ấy vì nó giống một chiếc cầu thang, mỗi bậc lại có thêm một người thương em bé. Còn những chỗ tả thì đúng là nhìn bằng mắt trẻ con: cây chỉ cao bằng gang tay, chiếc bảng đen to bằng cái chiếu, thứ gì cũng nhỏ xinh và vừa vặn với các em. Đọc đến đoạn bà kể chuyện, tôi chợt nghĩ nhà mình cũng đủ cả những bậc thang ấy, chỉ là tôi chưa bao giờ đếm. Tôi đọc bài thơ cho bé Bông nghe. Nó nghe xong, nghiêm mặt bảo vậy là mọi thứ có ra là vì em. Tôi không cãi, chỉ thấy bài thơ của Xuân Quỳnh hóa ra dạy được cả người làm chị.
Mẫu 2: Mây và sóng (Ta-go)
Nếu một ngày có ai đứng trên đám mây gọi xuống, rủ tôi đi chơi từ sáng đến tối, chắc tôi sẽ gật đầu ngay. Em bé trong Mây và sóng của Ta-go thì khác, và chính điều đó khiến tôi đọc bài thơ ba lần liền. Cả bài là lời em bé kể lại cho mẹ nghe một chuyện vừa xảy ra. Lần thứ nhất, những người sống trên mây mời em lên vui đùa cùng bình minh vàng và vầng trăng bạc, chỉ cần ra bờ trái đất và giơ tay lên trời. Em hỏi cách lên, rồi lại từ chối vì mẹ đang đợi ở nhà. Lần thứ hai, những người trong sóng suốt ngày ca hát, đi khắp nơi, cũng gọi em, và em lại lắc đầu. Hai lần mời giống hệt nhau như trong truyện cổ tích, nên tôi hồi hộp chờ xem em bé có xiêu lòng không. Nhưng em không chỉ nói không. Em nghĩ ra một trò chơi hay hơn: con làm mây, mẹ làm trăng, hai bàn tay con trùm lấy mẹ, bầu trời xanh làm mái nhà; con là sóng, mẹ là bờ biển lạ, con cứ lăn vào lòng mẹ mà cười. Tôi thấy thú vị vì những hình ảnh tả thế giới trên trời, dưới biển đều được em mang về đặt vào căn nhà nhỏ. Thế giới thần tiên vẫn còn nguyên, chỉ là có thêm mẹ ở giữa. Câu cuối bài nói rằng chẳng ai trên đời biết hai mẹ con đang ở đâu, nghe như một bí mật chỉ hai người cùng giữ. Hồi nhỏ, tôi hay chui vào chăn rồi bảo mẹ đi tìm con. Bây giờ đọc Ta-go, tôi mới hiểu mẹ giả vờ không thấy là vì mẹ cũng đang chơi trò của em bé ấy.
Mẫu 3: Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông) – đoạn văn ngắn
Mùa hè năm ngoái đi biển, bố chụp cho hai bố con một tấm ảnh chỉ có hai cái bóng trên cát: bóng bố dài ngoẵng, bóng tôi lùn tịt. Vì thế, đọc Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông, tôi bật cười ngay ở chỗ bóng cha “dài lênh khênh”, bóng con “tròn chắc nịch”. Bài thơ kể một buổi sáng hai cha con đi dạo dọc bờ biển sau trận mưa đêm. Cậu bé hỏi vì sao ngoài xa chỉ có nước với trời, người cha giảng giải, rồi cậu nhờ cha mượn giúp một cánh buồm trắng cho mình đi xa. Điều làm tôi xúc động nằm ở mấy dòng cuối, khi bài thơ đi vào lòng người cha. Ông nghe câu xin của con mà như nghe lại chính mình hồi bé, để rồi nhận ra: “Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con”. Tối đó, tôi đưa bài thơ cho bố đọc. Bố im một lúc rồi kể rằng hồi nhỏ bố cũng muốn làm thủy thủ.
Mẫu 4: Con là… (Y Phương) – đoạn văn ngắn
Một hạt vừng nhỏ đến mức nào? Tôi đặt thử một hạt lên đầu ngón tay, nó chỉ như một chấm bút. Vậy mà trong bài Con là…, Y Phương lại nói niềm vui con mang đến dù “nhỏ bằng hạt vừng” vẫn không bao giờ hết. Bài thơ không kể một câu chuyện dài; nó giống lời người cha tâm sự, và những phép so sánh chính là cách ông vẽ đứa con bằng hình ảnh. Con là nỗi buồn “to bằng trời” mà cha vẫn lấp đầy được, là niềm vui bé xíu mà không vơi, là “sợi dây hạnh phúc” mảnh hơn sợi tóc buộc đời cha với mẹ. Những so sánh ngược đời ấy làm tôi phải đọc chậm lại để nghĩ. Thì ra với cha mẹ, đứa con không đo được bằng to hay nhỏ. Từ hôm ấy, mỗi lần ăn bánh vừng, tôi lại nhặt một hạt lên ngắm.
Mẫu 5: Mẹ vắng nhà ngày bão (Đặng Hiển)
Tuần trước mẹ tôi đi tập huấn ba ngày, đúng dịp trời mưa dầm. Ba ngày ấy, bố, tôi và thằng Phúc nấu cơm bữa khê bữa nhão, và tôi mới thấm bài Mẹ vắng nhà ngày bão của Đặng Hiển mà cô giáo từng đọc cho lớp nghe. Bài thơ kể một chuyện rất nhỏ: mẹ về quê đúng mấy ngày bão nổi, mưa dài chặn đường về. Ở nhà, ba bố con kéo nhau nằm chung một giường vì giường kia bị ướt, chăn ấm mà phía trong giường vẫn trống một chỗ. Chi tiết ấy làm tôi lặng đi, vì chỗ trống ấy chính là chỗ của mẹ. Rồi người kể đoán rằng ở quê, mẹ cũng đang thao thức, lo mấy bố con chẳng khéo tay, lo củi ướt khó nhóm bếp. Nhưng việc nhà vẫn chạy đều: chị vẫn kiếm lá cho thỏ, em lo cho đàn ngan ăn no, bố ra chợ mua cá nấu canh chua. Tôi thích những việc được kể ra gọn gàng ấy, vì nó cho thấy cả nhà đang cố gắng để mẹ yên lòng. Đoạn cuối, bão tan, trời xanh trở lại, và “Mẹ về như nắng mới”, sáng ấm cả gian nhà. Chỉ một hình ảnh tả mà chứa cả ba ngày mong ngóng. Hôm mẹ tôi về, nồi canh chua bố nấu còn chua quá, nhưng mẹ ăn hết một bát rồi khen ngon.
Cảm xúc về những bài thơ kể chuyện người chiến sĩ
Mẫu 6: Lượm (Tố Hữu)
Người lớn thường gọi một đứa trẻ là gì? Là cháu, là con, là bé. Trong bài Lượm, Tố Hữu gọi chú bé liên lạc bằng nhiều tên khác nhau, và chính những cách gọi ấy dẫn tôi đi hết câu chuyện. Người kể là một người chú, tình cờ gặp Lượm ở Hàng Bè trong những ngày Huế đổ máu. Lúc ấy chú gọi Lượm là cháu, còn Lượm khoe công việc của mình như khoe một chuyến đi chơi: “Cháu đi liên lạc / Vui lắm chú à”. Tôi đọc mà như nghe được giọng nói lanh lảnh và nụ cười híp mí của cậu bé. Lúc chia tay, Lượm chào chú là đồng chí, một tiếng chào vừa ngộ nghĩnh vừa nghiêm trang. Rồi tin dữ đến chỉ bằng hai tiếng “Ra thế”, và từ đó người chú gọi Lượm là “chú đồng chí nhỏ”. Tôi nghĩ đây là tên gọi cảm động nhất: nhỏ vì Lượm vẫn là trẻ con, đồng chí vì Lượm đã làm việc của một người lính. Cảnh Lượm hi sinh được tả rất lạ. Không có tiếng khóc than, chỉ có con đường quê vắng vẻ, lúa đang trổ đòng, cái ca lô nhô lên hụp xuống giữa đồng lúa rồi một chớp lửa đỏ. Lượm nằm trên lúa, “tay nắm chặt bông”, hương lúa thơm như sữa. Tôi thấy nhà thơ như đặt cậu bé vào lòng cánh đồng để ru cho ngủ. Đọc đến đó, tôi hiểu vì sao người chú cứ gọi lại tên Lượm nhiều lần, như sợ quên mất. Bài thơ cho tôi biết có những bạn nhỏ đã phải lớn trước tuổi, và người đọc như tôi có bổn phận nhớ tên các bạn ấy.
Mẫu 7: Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ)
Đêm cắm trại cuối năm lớp Năm, tôi tỉnh dậy lúc gần một giờ sáng và thấy ánh đèn pin của cô chủ nhiệm vẫn đi quanh các lều. Sáng ra, Uyên bảo cô thức trắng để canh gió. Lên lớp 6, học Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, tôi lại nhớ ánh đèn ấy. Câu chuyện trong bài diễn ra trong một đêm mưa rừng: mái lều tranh xơ xác, các chiến sĩ ngủ say, chỉ có Bác ngồi bên bếp lửa và một anh đội viên cứ chốc chốc lại thức giấc. Những nét tả không nhiều mà đủ: ngọn lửa hồng, gương mặt Bác trầm ngâm, mái tóc bạc khiến anh đội viên thấy Bác như người Cha. Nhưng chỗ khiến tôi nghĩ lâu nhất lại là lúc gần sáng, khi Bác nói vì sao mình không ngủ. Bác không lo cho bản thân, cũng không chỉ lo cho những người lính trong lều. Bác đang nghĩ đến đoàn dân công ngoài rừng, phải nằm trên lá, đắp áo thay chăn giữa trời mưa lạnh. Tình thương ấy đi ra khỏi căn lều, vươn tới cả những con người ở ngoài tầm mắt Bác. Nghe xong, anh đội viên không năn nỉ Bác đi nằm nữa mà ở lại thức luôn cùng Bác. Tôi thích kết thúc ấy, vì nó cho thấy người được thương sẽ học cách thương người khác. Cả câu chuyện được kể bằng những dòng năm chữ nhẹ nhàng, như lời thì thầm sợ đánh thức ai. Lần sau đi cắm trại, có lẽ tôi sẽ thử thức với cô một lúc.
Cảm xúc về những bài thơ kể chuyện loài vật, cây cỏ, thiên nhiên
Mẫu 8: Gấu con chân vòng kiềng (U-xa-chốp)
Gia ngồi bàn trên tôi mới niềng răng, mấy hôm đầu bạn không dám cười to vì sợ bị trêu. Khi lớp đọc Gấu con chân vòng kiềng ở Bài 7 sách Cánh diều, tôi nghĩ ngay đến Gia. Bài thơ của nhà thơ Nga U-xa-chốp kể chuyện như một truyện ngắn: gấu con đang dạo trong rừng thì quả thông rơi trúng đầu, chú loạng choạng ngã, thế là con sáo trên cành chê chân chú vòng kiềng, cả năm chú thỏ cũng cười theo. Gấu con chạy về nhà khóc với mẹ. Đoạn tôi thích nhất là lời gấu mẹ. Mẹ không mắng sáo, cũng không dỗ suông, mà kể rằng chân mẹ cũng vậy, chân bố cũng vậy, còn cái chân cong nổi tiếng khỏe nhất vùng lại là của ông nội. Một câu chuyện nhỏ về cả nhà đã biến đôi chân cong thành dấu hiệu tự hào. Hình ảnh cuối bài vui đến mức tôi muốn đọc thật to: gấu con ưỡn ngực đi vào rừng và hô “Chân vòng kiềng là ta”. Dòng thơ ngắn, kể nhanh, có tiếng chê, tiếng khóc rồi tiếng hô, nên đọc lên như xem phim hoạt hình. Hôm sau, tôi kể chuyện chú gấu cho Gia nghe, và lần đầu tiên sau một tuần, Gia cười nhe cả hàm răng niềng.
Mẫu 9: Đánh thức trầu (Trần Đăng Khoa)
Ông ngoại tôi có một thói quen lạ: trước khi tỉa cành ổi, ông vỗ nhẹ vào thân cây và lẩm bẩm xin phép. Tôi từng nghĩ ông nói đùa, cho đến khi đọc Đánh thức trầu của Trần Đăng Khoa (Chân trời sáng tạo, Bài 5). Chuyện trong bài xảy ra vào một đêm: cậu bé ra vườn hái vài lá trầu, nhưng trầu đang ngủ, nên cậu phải gọi trầu dậy trước đã. Cậu hỏi trầu ngủ rồi à, giục trầu tỉnh lại, bảo trầu mở mắt xanh ra, rồi dặn chiếc lá nào muốn cho thì chìa ra. Cách xưng mày, tao nghe như hai đứa bạn cùng xóm vừa cãi nhau vừa thương nhau. Chỗ tả không cần nhiều lời; chỉ hai chữ mắt xanh là tôi thấy ngay những chiếc lá trầu bóng loáng hé ra trong bóng tối. Tôi còn thích chi tiết cậu bé làm theo bà và mẹ: hái trầu ban đêm phải đánh thức, chỉ xin vài lá, để trầu khỏi lụi. Đó là một lời dặn của người quê, được kể lại bằng giọng con trẻ nên nghe vừa ngộ vừa thật. Đọc xong, tôi không cười ông ngoại nữa. Lần về quê tới, tôi định theo ông ra vườn và cũng chào cây ổi một câu.
Mẫu 10: Mưa (Trần Đăng Khoa) – đoạn văn ngắn
Sắp mưa, sắp mưa! Chiều thứ Bảy, đứng ở ban công nhìn trời tối sầm, tôi buột miệng đọc câu mở đầu bài Mưa của Trần Đăng Khoa. Bài thơ kể lại một trận mưa đúng theo thứ tự trước sau: lũ mối kéo nhau bay lên, đàn gà con cuống quýt đi trốn, ông trời “mặc áo giáp đen” ra trận, mía “múa gươm”, kiến hành quân đầy đường, rồi chớp rạch ngang trời, sấm cười khanh khách, và mưa đổ xuống ầm ào. Con vật nào, cái cây nào cũng có một việc để làm, như cả làng đang sửa soạn đón một vị khách lớn. Tôi thích nhất bụi tre “tần ngần gỡ tóc”, vì nó giống hệt chị tôi đứng gỡ tóc rối trước gương. Những dòng thơ ngắn, có dòng chỉ một chữ, rơi xuống lộp độp như chính hạt mưa. Bài thơ khép lại khi bố của cậu bé từ đồng về, “đội sấm”, “đội chớp”, “đội cả trời mưa”. Chiều hôm ấy, bố tôi chạy xe giao hàng về muộn, áo mưa ướt sũng. Tôi pha cho bố một cốc trà gừng.
Cảm xúc về bài thơ có yếu tố tự sự, miêu tả ngoài sách lớp 6
Mẫu 11: Bạn đến chơi nhà (Nguyễn Khuyến)
Ông nội tôi có một người bạn từ hồi đi bộ đội, lâu lắm mới ghé chơi. Hôm ấy bà đi chợ huyện, tôi đi học, nhà chỉ còn ấm trà nguội với đĩa lạc rang. Ông cười khà khà bảo đúng là cảnh Nguyễn Khuyến. Tối đó tôi tìm đọc Bạn đến chơi nhà, và cười suốt từ câu thứ hai đến câu thứ bảy. Bài thơ mở bằng một sự việc: người bạn lâu ngày tới nhà. Lẽ ra phải đãi bạn một bữa, vậy mà chủ nhà kể ra toàn chuyện trớ trêu: trẻ con đi vắng, chợ thì xa, “Ao sâu nước cả, khôn chài cá”, “Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà”. Cá có, gà có, mà cũng như không. Đến khu vườn, nhà thơ tả kĩ từng thứ: cải chưa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đang ra hoa. Đọc kĩ, tôi lại thấy một khu vườn xanh tươi, đang lớn, chỉ có điều chưa ăn được. Cái nghèo được kể bằng giọng đùa, như ông tôi chỉ vào đĩa lạc mà bảo đây là cỗ. Đến miếng trầu, thứ tối thiểu để mời khách, cũng không có nốt. Thế rồi câu cuối xoay ngược tất cả: “Bác đến chơi đây, ta với ta!”. Hai chữ ta, một chữ là chủ, một chữ là khách, vậy mà đọc lên như chỉ có một người. Tôi hiểu Nguyễn Khuyến kể ra đủ thứ không có chỉ để nói rằng tình bạn thì có thật. Hôm ấy hai ông ngồi đến tận tối, ấm trà pha đi pha lại đến nhạt thếch.
Mẫu 12: Chân quê (Nguyễn Bính)
Tết vừa rồi, chị họ tôi học năm nhất trên thành phố về quê, tóc nhuộm màu hạt dẻ, nói chuyện thỉnh thoảng chen vài chữ tiếng Anh. Bà nội nhìn mãi rồi bảo con gái đi tỉnh về có khác. Câu nói ấy làm tôi nhớ Chân quê của Nguyễn Bính, bài thơ lục bát cô giáo cho cả lớp đọc thêm. Nguyễn Bính dựng hẳn một câu chuyện có đủ người, đủ việc: “Hôm qua em đi tỉnh về / Đợi em ở mãi con đê đầu làng”. Chàng trai ra tận đê đầu làng chờ, chờ mãi, để rồi thấy em xuất hiện với khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm. Nhà thơ tả bộ trang phục mới bằng hai chữ rộn ràng, rồi để chàng trai tiếc nuối gọi tên từng thứ đã vắng: cái yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen. Tôi chưa từng thấy những thứ ấy ngoài đời, nhưng nghe tên thôi đã thấy mộc mạc, thân quen. Câu tôi nhớ nhất là lời năn nỉ “Van em em hãy giữ nguyên quê mùa”. Chàng trai không ra lệnh, chàng van, vì chàng biết mình không có quyền bắt ai, chỉ có thể xin. Thú thật, ban đầu tôi thấy chàng hơi khó tính. Đọc lại, tôi hiểu điều chàng sợ không phải bộ quần áo mà là cái nết quê, cái hương đồng gió nội có thể phai đi. Chị họ tôi về được hai hôm thì xắn quần ra ruộng rau cùng bà, tóc vẫn màu hạt dẻ. Tôi nghĩ nếu chàng trai trong thơ gặp chị, chắc chàng cũng yên tâm.
Mẫu 13: Quê hương (Tế Hanh)
Mạnh, bạn cùng lớp tôi, chuyển từ một xóm chài ven biển lên thành phố từ năm lớp Bốn. Có lần bạn bảo điều bạn nhớ nhất ở quê không phải tiếng sóng mà là mùi cá phơi trên bãi. Tôi đã không hiểu, cho đến khi đọc Quê hương của Tế Hanh. Bài thơ kể lại một ngày của làng chài như một cuốn phim: sáng sớm trời trong, gió nhẹ, trai tráng đẩy thuyền ra khơi; chiếc thuyền hăng hái như “con tuấn mã”, cánh buồm căng gió như “mảnh hồn làng”; hôm sau cả làng ồn ào ra bến đón ghe đầy cá. Tôi thích cách nhà thơ tả những người dân chài: làn da sạm nắng gió, cả thân người như thở ra “vị xa xăm” của biển. Chiếc thuyền về bến cũng được tả như một người lao động, nằm nghỉ và lắng nghe muối thấm dần vào thớ vỏ. Phần kể và tả càng rõ thì đoạn cuối càng buồn, vì tất cả là những điều người con xa quê đang nhớ: nước biển xanh, cá lấp lánh, cánh buồm trắng phau, và nhất là “cái mùi nồng mặn”. Đến đây, tôi mới hiểu Mạnh. Có những nỗi nhớ không nằm trong mắt mà nằm trong hơi thở.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể lại toàn bộ câu chuyện trong bài thơ, đoạn văn thành bản tóm tắt. | Câu chuyện chỉ cần hai ba câu; phần còn lại dành cho cảm xúc và lí do. Xem Mẫu 3: tóm chuyện hai cha con trong hai câu rồi đi thẳng vào điều xúc động. |
| Quên chỉ ra yếu tố tự sự, miêu tả dù đề đã nêu rõ. | Nói ít nhất một ý về cách kể (ai kể, sự việc lặp lại, lời thoại, kết thúc bất ngờ) và một hình ảnh tả. Mẫu 6 bám vào cách người kể gọi tên nhân vật; Mẫu 2 bám vào hai lần mời giống nhau. |
| Viết cảm xúc chung chung: em rất xúc động, em rất thích. | Gọi tên cảm xúc và gắn với chi tiết: bật cười ở hình ảnh hai cái bóng, lặng đi ở chỗ trống phía trong giường (Mẫu 3, Mẫu 5). |
| Chép nguyên một khổ thơ dài vào bài. | Chỉ dẫn vài chữ hoặc một hai dòng, trích đúng từng chữ và để trong ngoặc kép; còn lại diễn đạt bằng lời của em. |
| Liên hệ gượng ép, dài hơn cả phần nói về bài thơ. | Liên hệ một hai câu, chọn chuyện thật sự giống với bài thơ (bữa trà của ông với Bạn đến chơi nhà, đèn pin của cô với Đêm nay Bác không ngủ). |
| Câu cuối đoạn nhắc lại gần nguyên câu đầu, hoặc khép lại bằng một lời hứa chung chung. | Kết bằng một việc nhỏ, một hình ảnh hay một nhận ra mới; đọc liền câu mở và câu kết, nếu na ná nhau thì viết lại câu kết. |
Mẹo nhỏ: với thơ có yếu tố tự sự, hãy thử tự hỏi: nếu kể chuyện này bằng văn xuôi thì mất gì? Câu trả lời thường chính là cái hay của bài thơ: nhịp ngắn như bước chân Lượm, cách gọi mày tao thân mật của cậu bé hái trầu, hay hai chữ ta ở câu cuối Bạn đến chơi nhà.
Chọn đoạn văn nào để luyện viết?
Nếu em học Kết nối tri thức, hãy đọc trước Mẫu 1, Mẫu 2 và Mẫu 3, ứng với ba bài thơ của Bài 2 Gõ cửa trái tim. Với Chân trời sáng tạo, các đoạn hợp với Bài 7 Gia đình yêu thương là Mẫu 2, Mẫu 3, Mẫu 4; Mẫu 9 viết về Đánh thức trầu, văn bản của Bài 5. Đề Cánh diều cho chọn Đêm nay Bác không ngủ, Lượm hoặc Gấu con chân vòng kiềng, tương ứng Mẫu 7, Mẫu 6 và Mẫu 8. Cần một đoạn ngắn để viết kịp trong giờ kiểm tra thì xem Mẫu 3, Mẫu 4 và Mẫu 10; muốn chọn bài thơ ngoài sách thì Mẫu 5, Mẫu 11, Mẫu 12 và Mẫu 13 là gợi ý. Khi đọc, hãy để ý mỗi đoạn gắn cảm xúc vào chi tiết kể, tả nào; còn câu chuyện liên hệ thì lấy từ đời sống của chính em.
Xem thêm:
- Soạn bài Chuyện cổ tích về loài người, Soạn bài Mây và sóng, Soạn bài Bức tranh của em gái tôi (Kết nối tri thức 6, Bài 2)
- Soạn bài Những cánh buồm, Soạn bài Con là… (Bài 7, Chân trời sáng tạo 6); Soạn bài Đánh thức trầu (Bài 5, Chân trời sáng tạo 6)
- Soạn bài Lượm, Soạn bài Đêm nay Bác không ngủ (Bài 7, Cánh diều 6); Cảm nghĩ về bài thơ Đêm nay Bác không ngủ, Mở bài, kết bài Lượm
- Chuyện cổ tích về loài người: tác giả, tác phẩm, Những cánh buồm: tác giả, tác phẩm, Đêm nay Bác không ngủ: tác giả, tác phẩm
- Bài thơ Mẹ vắng nhà ngày bão, Soạn bài Bạn đến chơi nhà, Soạn bài Chân quê, Soạn bài Quê hương (Tế Hanh)
- Văn mẫu cùng dạng: Đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ lục bát (lớp 6), Đoạn văn cảm xúc về bài thơ bốn chữ, năm chữ (lớp 7); văn mẫu lớp 6: Kể lại một trải nghiệm của em, Tả cảnh sinh hoạt