Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ lục bát là bài viết đầu tiên về thơ mà học sinh lớp 6 gặp ở cả ba bộ sách: Bài 4 của Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (tập 1), Bài 3 của Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo (tập 1) và Bài 4 của Ngữ văn 6 Cánh diều (tập 1). Trang này tóm tắt yêu cầu của đề theo từng bộ, đưa ra dàn ý một đoạn văn và 12 đoạn văn mẫu, mỗi đoạn viết về một bài thơ hoặc một bài ca dao lục bát khác nhau, từ những bài có trong sách giáo khoa đến những bài quen thuộc ngoài sách.

Yêu cầu của kiểu bài đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ lục bát
Đề yêu cầu một đoạn văn, không phải bài văn: chỉ một đoạn, bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Trong đoạn ấy, em nói ra điều mình cảm thấy khi đọc bài thơ và chỉ rõ cảm xúc ấy đến từ đâu trong bài thơ. Bảng sau giúp em tự kiểm tra sau khi viết.
| Tiêu chí | Đoạn văn đạt khi |
|---|---|
| Câu mở đoạn | Nêu tên bài thơ, tác giả (ca dao thì ghi là ca dao) và cảm xúc chung của em, có thể dẫn vào từ một chuyện nhỏ của bản thân. |
| Cảm xúc về nội dung | Nói được em xúc động, thích thú, tự hào, thương… trước hình ảnh, con người, cảnh vật nào trong bài thơ. |
| Cảm xúc về hình thức | Chỉ ra ít nhất một nét nghệ thuật: nhịp lục bát, vần, từ láy, điệp từ, so sánh, nhân hóa, cách gọi tên sự vật… và nói nó làm em cảm thấy gì. |
| Dẫn chứng | Dẫn từ ngữ, hình ảnh hoặc một hai dòng thơ, chép đúng nguyên văn, đặt trong ngoặc kép. |
| Ngôi kể | Dùng ngôi thứ nhất (tôi, em) để bày tỏ cảm xúc của chính mình. |
| Câu kết đoạn | Khép lại cảm xúc, có thể liên hệ với bản thân hoặc với người thân, không lặp nguyên câu mở đoạn. |
| Độ dài, hình thức | Khoảng 150–250 chữ (Chân trời sáng tạo ghi rõ 150–200 chữ); các câu nối nhau mạch lạc; không gạch đầu dòng, không xuống dòng giữa đoạn. |
Nhắc lại luật thơ lục bát để dễ nhận xét nghệ thuật: một cặp lục bát gồm dòng sáu tiếng và dòng tám tiếng; tiếng thứ sáu dòng lục vần với tiếng thứ sáu dòng bát, tiếng thứ tám dòng bát lại vần với tiếng thứ sáu dòng lục kế tiếp; các tiếng thứ hai, tư, sáu, tám thường theo thanh bằng – trắc – bằng – bằng; nhịp hay gặp là nhịp chẵn (2/2/2, 4/4). Bài lục bát biến thể là bài có dòng dài hơn hoặc ngắn hơn, vần, thanh không theo đúng luật.
| Bộ sách | Vị trí | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 1, Bài 4 (Quê hương yêu dấu): Viết đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát | Học sau Chùm ca dao về quê hương đất nước và Chuyện cổ nước mình, cùng bài với Tập làm một bài thơ lục bát. Em được chọn bài thơ hoặc bài ca dao lục bát mình thích; nên viết về bài em đã đọc kĩ. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 3 (Vẻ đẹp quê hương), Viết, trang 74 | Đề ghi rõ đoạn văn 150–200 chữ. Đi theo các bước: chuẩn bị (xác định đề tài, thu thập tư liệu), tìm ý và lập dàn ý, viết đoạn, xem lại và chỉnh sửa. Văn bản đọc cùng bài: Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương, Việt Nam quê hương ta, Hoa bìm. |
| Cánh diều | Tập 1, Bài 4, Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về bài thơ lục bát | Định hướng: đọc kĩ bài thơ, chọn những yếu tố em thấy hay nhất rồi nói rõ em thích chi tiết nào và vì sao. Bài thực hành gợi ý viết về À ơi tay mẹ, Về thăm mẹ (học ở Bài 2) hoặc một bài ca dao đã học. |
Dàn ý đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ lục bát
1. Mở đoạn (1–2 câu)
– Giới thiệu tên bài thơ, tác giả hoặc ghi là ca dao.
– Nêu cảm xúc chung: thích, xúc động, tự hào, bâng khuâng… Có thể dẫn vào bằng một chuyện nhỏ của em liên quan đến bài thơ.
2. Thân đoạn (5–8 câu)
– Cảm xúc về nội dung: hình ảnh, con người, cảnh vật em nhớ nhất; vì sao những hình ảnh ấy chạm vào em.
– Dẫn một vài từ ngữ hoặc dòng thơ tiêu biểu làm bằng chứng.
– Cảm xúc về nghệ thuật: nhịp và vần lục bát, từ láy, điệp từ, so sánh, nhân hóa, cách dùng tên riêng, địa danh…; nét nghệ thuật ấy giúp em cảm nhận bài thơ ra sao.
3. Kết đoạn (1–2 câu)
– Khẳng định lại cảm xúc bằng cách nói khác câu mở.
– Liên hệ: điều bài thơ khiến em muốn làm, muốn nhớ, hoặc người em nghĩ đến.
Mẹo tìm ý: đọc bài thơ to lên hai lần, lần đầu gạch dưới chỗ làm em dừng lại, lần thứ hai tự hỏi chỗ ấy hay vì nghĩa, vì âm thanh hay vì hình ảnh. Mỗi câu trả lời là một câu trong thân đoạn.
Cảm xúc về bài thơ lục bát viết về mẹ
Mẫu 1: À ơi tay mẹ (Bình Nguyên)
Tối qua, nghe mẹ ru bé Mít bằng mấy câu hát không đầu không cuối, tôi bỗng nhớ đến bài thơ À ơi tay mẹ của Bình Nguyên mà lớp vừa học. Bài thơ là lời ru của chính người mẹ, nên đọc lên tôi nghe như có tiếng võng kẽo kẹt ở đâu đây. Điều làm tôi xúc động nhất là đôi bàn tay. Bàn tay ấy chắn mưa sa, chặn bão cho mùa màng, lại thức trọn một đời để hát ru con. Nhà thơ không kể dài dòng mẹ vất vả ra sao, chỉ để bàn tay làm thay mọi việc, vậy mà tôi hiểu hết. Tôi thích cả cách mẹ gọi con, khi là cái trăng vàng, khi là cái trăng tròn, như thể đứa bé là cả bầu trời của mẹ. Những tiếng à ơi, ru cho lặp đi lặp lại, cộng với nhịp lục bát lên xuống đều đều, khiến bài thơ giống hệt một bài hát ru. Đến đoạn người mẹ nói mai sau dù bể cạn non mòn thì tay mẹ vẫn còn hát ru, tôi thấy sống mũi cay cay, vì tình mẹ ở đây không chịu thua cả thời gian. Nhà thơ còn bảo bàn tay ấy có phép nhiệm màu, mà phép màu đó chỉ là bao nhiêu năm mẹ dãi nắng dầm mưa. Gấp sách lại, tôi nhìn sang tay mẹ đang vỗ nhẹ lưng em tôi, mấy ngón tay chai vì xách nước tưới rau, và lần đầu tiên thấy bàn tay ấy đẹp đến thế.
Mẫu 2: Về thăm mẹ (Đinh Nam Khương)
Bạn đã bao giờ chạy ào vào nhà gọi mẹ mà chỉ nghe tiếng mình vọng lại chưa? Người con trong bài thơ Về thăm mẹ của Đinh Nam Khương gặp đúng cảnh ấy: trời chiều mùa đông, gian bếp còn lạnh tanh, mẹ đi vắng. Lạ là cả bài thơ hầu như không có mẹ xuất hiện, mà chỗ nào tôi cũng thấy mẹ. Mẹ ở trong chiếc nón mê đã cũ, trong tấm áo tơi sờn, những thứ theo mẹ ra đồng qua bao mùa mưa nắng. Mẹ ở trong đàn gà con lích chích quanh nhà, trong căn bếp lạnh đang đợi người về nhóm lửa. Đọc tới đó, tôi mới hiểu đồ vật cũng biết kể chuyện, nếu người viết đủ thương để lắng nghe. Chi tiết làm tôi lặng đi lâu nhất là mấy quả na cuối vụ mẹ vẫn để phần con. Không biết bao giờ con mới về, mẹ vẫn giữ lại, như một lời hẹn không cần nói ra. Thể lục bát với lời kể chậm rãi, giản dị làm tôi hình dung người con đang đi một vòng quanh ngôi nhà, dừng lại trước từng đồ vật. Bài thơ ngắn, không một lời than, nhưng đọc xong tôi thương mẹ mình hơn, thương cả những người mẹ ở quê đang lặng lẽ để dành cho con những thứ ngon nhất.
Mẫu 3: Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa)
Trong tủ sách nhà tôi có cuốn thơ Trần Đăng Khoa bố mua từ hồi bố còn đi học, gáy sách đã bong. Bài tôi mở nhiều nhất là Mẹ ốm, bài thơ lục bát nhà thơ viết khi mới là một cậu bé. Ngay mấy dòng đầu, căn nhà như lặng hẳn đi: người mẹ mọi hôm hay vui chơi nay chẳng nói cười, lá trầu khô nằm trong cơi, cuốn Truyện Kiều gấp lại, ruộng vườn vắng bóng người cuốc cày. Chỉ bằng vài đồ vật, cậu bé cho thấy mẹ ốm thì mọi thứ quanh mẹ cũng như ốm theo. Tôi thương nhất ý thơ nói những nắng mưa từ ngày xưa đã lặn vào đời mẹ đến giờ chưa tan, vì nó giúp tôi hiểu cơn đau hôm nay là bao năm vất vả dồn lại. Rồi bài thơ ấm dần khi cô bác xóm làng mang trứng, mang cam tới, anh y sĩ mang thuốc vào. Đoạn tôi thích nhất lại là đoạn buồn cười: để mẹ vui, cậu bé ngâm thơ, kể chuyện, múa hát, diễn kịch giữa nhà, một mình sắm cả ba vai chèo. Tôi hình dung cậu đổi giọng liên tục, mặt đỏ lựng, còn mẹ nằm cười mà mắt rưng rưng. Bài thơ khép lại bằng một câu rất lớn: “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con”. Một đứa trẻ ở làng quê đã nói được điều mà nhiều người lớn còn ngập ngừng chưa dám nói.
Cảm xúc về bài thơ lục bát viết về quê hương
Mẫu 4: Việt Nam quê hương ta (Nguyễn Đình Thi)
Bài thơ Việt Nam quê hương ta của Nguyễn Đình Thi mở ra bằng một tiếng gọi: “Việt Nam đất nước ta ơi”. Tôi đọc to câu ấy trong giờ Văn và giật mình vì giọng mình run run, như đang gọi một người thân. Liền sau đó là cả một biển lúa mênh mông, rồi lời tự hỏi có nơi nào đẹp hơn thế. Thêm những con cò chao cánh, thêm mây mờ che đỉnh Trường Sơn: chỉ bốn dòng mà có đồng bằng, có núi, có trời, như bức tranh vẽ bằng rất ít nét. Đọc tiếp, tôi nhận ra bài thơ không chỉ tả cảnh. Nó kể về những con người gương mặt hằn dấu nhọc nhằn, cả nam lẫn nữ cùng một màu áo nâu, khi có giặc thì vùng lên, đánh xong lại hiền như xưa. Tôi phục cái hiền ấy hơn cả cái dữ dội. Nhịp lục bát êm, vần nối nhau như những đợt sóng lúa, các từ láy mênh mông, rập rờn khiến lời thơ nhẹ mà vẫn đầy tự hào. Tôi chưa từng thấy Trường Sơn, nhưng nhờ bài thơ, tôi mong có ngày được đứng giữa một cánh đồng thật rộng, nhìn mây trên núi xa và khẽ gọi tên đất nước mình.
Mẫu 5: Hoa bìm (Nguyễn Đức Mậu)
Nhà bà nội tôi có một bờ rào duối, mùa hè bìm bìm leo kín, sáng nào cũng nở những bông tím nhạt. Vì thế lần đầu đọc bài thơ Hoa bìm của Nguyễn Đức Mậu, tôi có cảm giác bài thơ viết về chính góc vườn ấy. Hai dòng mở đầu “Rung rinh bờ giậu hoa bìm / Màu hoa tim tím tôi tìm tuổi thơ” chơi chữ rất khéo: tiếng tím và tiếng tìm đứng sát nhau, đọc lên nghe như màu hoa dắt người ta đi tìm lại những ngày bé. Sau đó, nhà thơ cứ thế kể bằng chữ có: có con chuồn ớt lơ ngơ bay lên bắt nắng, có cây hồng trĩu cành, có cánh diều trên mây, có con thuyền giấy… Tôi thích nhất hình ảnh buổi trưa rụng xuống một vài tiếng chim, vì tiếng chim vốn để nghe, vậy mà ở đây nó rơi như một quả chín. Những thứ nhà thơ kể đều nhỏ bé, chẳng có gì đắt giá, nhưng ghép lại thành trọn một mùa hè tuổi nhỏ ở làng quê. Cuối bài là câu hỏi về người bạn cũ đã mười năm chưa hẹn ngày về, không ai trả lời, để lại một khoảng bâng khuâng. Đọc xong, tôi hiểu vì sao bố tôi mỗi lần về quê hay đứng rất lâu trước bờ rào cũ. Hè này về nội, tôi định ngồi bên giậu bìm lâu hơn một chút, trước khi tôi cũng lớn lên và phải đi tìm lại nó.
Mẫu 6: Chuyện cổ nước mình (Lâm Thị Mỹ Dạ)
Hồi lớp Một, tôi có một chồng truyện tranh cổ tích mỏng, đọc đến mủn cả gáy. Bây giờ học Chuyện cổ nước mình của Lâm Thị Mỹ Dạ, tôi mới hiểu mình đã được nhận gì từ chồng truyện ấy. Nhà thơ nói thẳng vì sao yêu truyện cổ: truyện hiền hậu mà ý nghĩa thì sâu, dạy người ta thương người như thương thân, tin rằng người hiền sẽ gặp điều lành. Điều làm tôi thích thú nhất là bài thơ giấu những câu chuyện quen ngay trong từng dòng. Chỉ một hình ảnh quả thị thơm, tôi đã nhận ra cô Tấm; chỉ một lời nhắc chuyện đẽo cày chiều theo người qua đường, tôi nhớ ngay anh thợ mộc mất trắng vốn liếng giữa đường. Đọc thơ mà như chơi trò đoán truyện. Bốn dòng nói đời cha ông đã cách ta xa tít, như chân trời cuối một dòng sông, chỉ còn chuyện cổ cho con cháu nhận mặt ông cha, khiến tôi nghĩ truyện cổ giống một sợi dây nối người hôm nay với những người đã sống từ rất lâu. Nhịp lục bát mềm mại làm lời thơ nghe như lời kể bên hiên nhà, rất hợp với những câu chuyện vốn được truyền bằng miệng. Tôi định chép bài thơ vào trang đầu cuốn sổ truyện cổ đang sưu tầm cho em gái.
Cảm xúc về một bài ca dao lục bát
Mẫu 7: Gió đưa cành trúc la đà (ca dao về Hà Nội)
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Nếu được chọn một bài ca dao để gửi cho người bạn ở xa chưa từng đến Hà Nội, tôi sẽ chọn bài này. Bốn dòng lục bát chứa trọn một buổi sớm Thăng Long, và lạ thay, phần lớn được vẽ bằng âm thanh. Dòng đầu là gió và cành trúc nghiêng la đà, một chuyển động rất khẽ. Sang dòng thứ hai, tiếng chuông đền Trấn Vũ (có bản chép là Trấn Võ) hòa với tiếng gà gáy canh ở Thọ Xương, tiếng ngân dài, tiếng gáy giòn, nghe như thành phố đang thức dậy từng chút một. Dòng thứ ba phủ lên tất cả một lớp khói sương mịt mù, khiến bức tranh mờ đi như được nhìn qua ô kính đọng hơi nước. Đến dòng cuối, nhịp chày giã giấy của làng Yên Thái vang lên đều đều, rồi mặt hồ Tây hiện ra phẳng lặng như một tấm gương. Tôi thích cách tác giả dân gian để cái đẹp hiện ra dần dần, từ nghe đến thấy, giống người đi trong sương sớm, nghe tiếng trước rồi mới gặp cảnh. Mỗi địa danh lại là một nét riêng của đất kinh kì: đền cổ, phường xưa, làng nghề, hồ rộng. Đọc xong, tôi tò mò muốn biết ngày nay còn ai ở Yên Thái làm giấy dó không, và hẹn với mình rằng lần đầu ra Hà Nội, tôi sẽ dậy thật sớm ra hồ Tây, xem còn nghe được chút gì của buổi sớm năm xưa.
Mẫu 8: Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá (ca dao về Huế)
Bà ngoại tôi người Huế, mỗi lần ru cháu là bà ngân mấy câu hò kéo dài đến mức tôi tưởng bà quên lời. Vì vậy, gặp bài ca dao mở đầu bằng dòng “Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá” trong sách Ngữ văn 6, tôi đọc theo giọng bà và thấy dòng sông hiện lên ngay. Bài ca dao không đếm chữ ngay ngắn như lục bát thường gặp: hai dòng đầu dài tám tiếng, toàn tên bến, tên làng, con đò đi từ Đông Ba qua Đập Đá, về Vĩ Dạ rồi tới ngã ba Sình. Chính vì phá cách như thế, câu thơ có nhịp của mái chèo, cứ khua đều hết bến này sang bến khác. Sang hai dòng sau, thơ trở lại nhịp sáu tám quen thuộc, trăng chênh chếch, bóng đổ lờ đờ trên nước, tiếng hò vọng lại từ xa. Con đò đang đi bỗng chậm hẳn, như người chèo buông mái để nghe. Tôi cảm được tình của người Huế với dòng sông quê mình: không cần nói yêu, chỉ cần gọi tên từng bến nước. Lần sau gọi điện cho bà, tôi sẽ nhờ bà hò lại bài này thật chậm để tôi ghi âm.
Mẫu 9: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ (đoạn văn ngắn)
Bài ca dao Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ giống một lời mời đi chơi rất vui. Chỉ trong hai dòng đầu, tác giả dân gian đã dắt ta đi một vòng: cầu Thê Húc, chùa Ngọc Sơn, rồi Đài Nghiên, Tháp Bút vẫn còn chưa mòn. Chữ xem lặp lại làm bước chân như nhanh hơn, háo hức hơn. Nhưng tôi nhớ nhất dòng cuối, vì nó là một câu hỏi: ai đã gây dựng nên non nước này? (Có bản chép là non sông, có bản là xây dựng.) Câu hỏi không cần trả lời, ai cũng biết đó là ông cha ta, những người đã đắp nên hồ, dựng nên cầu, xây nên tháp. Đang mải ngắm cảnh, người đọc bỗng được nhắc phải biết ơn. Hôm theo bố đi qua cây cầu son đỏ, tôi nhẩm lại bài ca dao và thấy nó hợp đến lạ, như được viết ra để đọc đúng chỗ ấy.
Mẫu 10: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh (đoạn văn ngắn)
Cô Diệp dạy Toán lớp tôi quê Hà Tĩnh. Một lần cô đọc hai câu “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh / Non xanh nước biếc như tranh họa đồ” và bảo đó là lời giới thiệu hay nhất về quê cô. Về nhà đọc lại, tôi thấy cô nói đúng. Hai chữ quanh quanh vẽ ra con đường uốn lượn theo núi, theo sông, đi mãi chưa tới mà chẳng ai thấy mệt. Câu sau ví cả vùng đất với một bức tranh: núi xanh, nước biếc, như họa sĩ đã vẽ sẵn. Chỉ một cặp lục bát mà vừa có đường đi, vừa có cảnh, vừa có lời mời ngầm. Vần quanh và tranh ôm lấy nhau, đọc lên tròn trịa như tiếng gọi. Có bản còn thêm hai dòng mời người ta vô xứ Nghệ, nhưng với tôi, hai dòng này đã đủ để mong một lần được đi trên con đường quanh quanh ấy.
Mẫu 11: Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Nhà nội tôi giờ là nhà mái bằng, nhưng trên tường vẫn treo tấm ảnh chụp ngôi nhà tranh cũ, nơi các cụ từng sống. Lần đầu nghe câu ca dao “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”, tôi phải hỏi bố nuộc lạt là gì. Bố chỉ vào tấm ảnh: mỗi chỗ buộc lạt giữ tranh vào rui, vào mè là một nuộc, một mái nhà có không biết bao nhiêu mà đếm. Từ đó tôi mới thấy cái tài của người xưa. Nỗi nhớ vốn không đo được, vậy mà ca dao đem nó so với một thứ đếm được, rồi bảo nhớ nhiều bằng ấy, tức là nhớ không kể xiết. Hình ảnh lại lấy ngay từ mái nhà, thứ ông bà dựng lên để che cho con cháu, nên càng nhìn lên càng nhớ người đã dựng. Hai chữ ngó lên ở dòng đầu cũng làm tôi chú ý: người ta ngước nhìn mái nhà như ngước nhìn một người lớn hơn mình. Cặp lục bát ngắn ngủi, giọng nhẹ như lời tự nói, mà chứa cả lòng biết ơn của mấy thế hệ. Chiều ba mươi Tết năm nay, khi bố thắp hương, tôi sẽ đứng cạnh và nhìn tấm ảnh ngôi nhà tranh lâu hơn một chút.
Mẫu 12: Công cha như núi Thái Sơn
Có bản ca dao nói công cha như núi ngất trời, nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông; còn bà tôi thì vẫn hát bản quen thuộc hơn:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hai bản khác nhau vài chữ nhưng cùng một cách nói: lấy những thứ lớn nhất con người nhìn thấy, núi cao và dòng nước chảy mãi từ nguồn, để so với công ơn cha mẹ. Núi Thái Sơn sừng sững gợi công cha vững chãi, nước trong nguồn không bao giờ cạn gợi tình mẹ dạt dào. Đọc đến đây, tôi thấy mình nhỏ xíu trước công ơn ấy. Nhưng hai dòng sau lại kéo tôi về những việc rất gần: một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu. Chữ hiếu nghe to tát, mà thật ra có thể bắt đầu từ việc không để mẹ gọi đến lần thứ ba mới chịu tắt máy tính đi ngủ. Nhịp lục bát đều đặn khiến lời dạy này không nặng nề, dễ thuộc như một bài hát. Có lẽ vì thế mà bao đời nay, người Việt vẫn hát nó cho con nghe từ thuở còn nằm nôi.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Viết thành bài văn ba phần, xuống dòng nhiều lần. | Đề yêu cầu một đoạn: viết liền một mạch, câu đầu lùi vào, chỉ chấm xuống dòng ở câu cuối. |
| Kể lại hoặc chép lại gần hết bài thơ. | Chỉ dẫn một hai dòng hay từ ngữ đắt nhất; phần còn lại là cảm xúc và lời giải thích của em. |
| Cảm xúc chung chung kiểu bài thơ rất hay, em rất thích. | Gắn mỗi cảm xúc với một hình ảnh cụ thể (bàn tay mẹ, quả na cuối vụ, nuộc lạt mái nhà) và nói vì sao. |
| Chỉ nói nội dung, quên nghệ thuật. | Thêm ít nhất một câu về nhịp, vần lục bát hoặc một biện pháp tu từ, kèm tác dụng của nó với em. |
| Chép sai câu thơ, sai tên tác giả (ví dụ gán Hoa bìm cho Nguyễn Bính). | Mở sách đối chiếu trước khi dẫn. Ca dao có nhiều dị bản thì ghi theo bản trong sách giáo khoa. |
| Chọn bài lục bát biến thể nhưng nhận xét như lục bát chuẩn. | Chỉ ra chỗ biến thể (dòng dài hơn, vần khác) và nói nó tạo nhịp điệu gì, như Mẫu 8. |
| Câu kết lặp lại câu mở. | Kết bằng một việc em muốn làm, một người em nghĩ tới hay một hình ảnh, như cách các Mẫu 5, 8, 11 khép lại. |
Mẹo nhỏ: viết xong hãy đếm chữ. Dưới 150 chữ thường là thiếu phần nghệ thuật; quá 250 chữ thường là đang kể lại bài thơ. Đọc to đoạn văn một lần, chỗ nào phải ngắt hơi giữa chừng là câu đang quá dài.
Gợi ý bài nói: Trình bày cảm xúc về một bài thơ lục bát
Chân trời sáng tạo đặt phần Nói và nghe Trình bày cảm xúc về một bài thơ lục bát ngay sau bài viết này. Em có thể dùng chính đoạn văn của mình:
- Mở đầu bằng lời chào, rồi đọc diễn cảm hai dòng thơ em thích nhất để người nghe cùng vào bài.
- Ghi lên phiếu ba ý: cảm xúc chung, hình ảnh làm em xúc động nhất, một nét nghệ thuật; nói theo phiếu, không đọc nguyên đoạn văn.
- Đọc câu thơ chậm, ngắt đúng nhịp chẵn của lục bát; nói phần cảm xúc bằng giọng tự nhiên như kể chuyện.
- Kết thúc bằng một câu liên hệ ngắn và lời cảm ơn; mời các bạn chia sẻ bài lục bát các bạn thích.
Ví dụ đoạn mở đầu bài nói: Em chào cô và các bạn. Các bạn có nhớ lần gần nhất mình về nhà mà mẹ đi vắng không? Bài thơ em muốn chia sẻ hôm nay bắt đầu đúng từ một buổi chiều như thế. Đó là bài Về thăm mẹ của nhà thơ Đinh Nam Khương.
Chọn đoạn văn nào để luyện viết?
Học sinh dùng sách Cánh diều nên đọc Mẫu 1 và Mẫu 2, vì bài thực hành gợi ý đúng hai bài thơ ấy. Học sinh dùng Chân trời sáng tạo có thể bắt đầu từ Mẫu 4 và Mẫu 5, hai bài thơ học cùng bài. Với Kết nối tri thức, Mẫu 6, Mẫu 7 và Mẫu 8 viết về các văn bản trong Bài 4. Nếu đề bài cho chọn tự do, các Mẫu 9 đến 12 về ca dao giúp em tập viết gọn, còn Mẫu 3 là một gợi ý chọn bài thơ ngoài sách. Đọc mẫu để học cách nói ra cảm xúc, còn chi tiết liên hệ thì hãy lấy từ chính chuyện nhà mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Chùm ca dao về quê hương đất nước, Soạn bài Chuyện cổ nước mình, Soạn bài Cây tre Việt Nam (Bài 4, Kết nối tri thức 6)
- Soạn bài Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương, Soạn bài Việt Nam quê hương ta, Soạn bài Hoa bìm (Bài 3, Chân trời sáng tạo 6)
- Soạn bài À ơi tay mẹ, Soạn bài Về thăm mẹ, Soạn bài Vẻ đẹp của một bài ca dao (Cánh diều 6)
- Văn mẫu từng bài thơ: Cảm nghĩ về bài thơ À ơi tay mẹ, Cảm nghĩ về bài thơ Về thăm mẹ, Cảm nghĩ về bài thơ Việt Nam quê hương ta
- Cách làm thơ lục bát và những bài lục bát hay, Bài thơ Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa), Ca dao về xứ Nghệ
- Văn mẫu lớp 6 cùng học kì: Kể lại một trải nghiệm của em, Tả cảnh sinh hoạt