Làm thơ từ tuổi thiếu niên đến lúc gần đất xa trời mà chỉ in đúng một tập thơ riêng, nhưng cái tên ông thì học sinh nào cũng biết nhờ một bài thơ năm chữ về người viết câu đối Tết. Vũ Đình Liên (1913 – 1996) là nhà thơ thuộc lớp đầu của phong trào Thơ mới, tác giả bài Ông đồ, đồng thời là nhà giáo dạy tiếng Pháp hơn ba mươi năm, dịch giả thơ Baudelaire và là Nhà giáo Nhân dân.
Người con phố Hàng Bạc, học trò trường Bưởi

| Tên | Vũ Đình Liên (ký tên thật) |
| Năm sinh – năm mất | 12/11/1913 – 18/1/1996 |
| Nơi sinh | Hà Nội |
| Quê gốc | Thôn Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ) |
| Nghề | Nhà thơ, nhà giáo, nhà nghiên cứu, dịch giả |
| Tác phẩm | Thơ: Ông đồ, Lòng ta là những hàng thành quách cũ, Người đàn bà điên ga Lưu Xá; tập thơ Đôi mắt (1975); nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu (1957); dịch Thơ Baudelaire |
| Danh hiệu | Nhà giáo Nhân dân (1990) |
| Trong SGK | Ông đồ (Ngữ văn 7 Cánh diều; Ngữ văn 8 chương trình 2006) |
Theo nhà nghiên cứu Nguyên An viết trên báo Công an Nhân dân, ông sinh ở phố Hàng Bạc, trong một gia đình làm nghề kim hoàn. Quê gốc của dòng họ ở làng Châu Khê, Bình Giang, đất Hải Dương. So với nhiều bạn thơ cùng thời như Nguyễn Bính hay Thâm Tâm, đường học của ông suôn sẻ hơn: học trường Bưởi, đỗ tú tài năm 1932, sau đó vừa học Luật (lấy bằng cử nhân) vừa đi dạy ở các trường tư thục Thăng Long, Gia Long, trường nữ sinh Hoài Đức để kiếm sống, rồi vào làm công chức ở Nha Thương chính (sở Đoan) Hà Nội.
Ông đồ và lứa đầu của Thơ mới
Ông có thơ in báo rất sớm. Bài viết của Nguyên An cho biết năm 1932, ông đăng bài Đứa trẻ ăn mày, rồi lần lượt có thơ trên các báo Phong hóa, Loa, Tinh hoa: Hồn xưa, Văn Miếu hoài cổ, Tháp Chàm, Lòng ta là những hàng thành quách cũ. Năm 1936, Ông đồ in trên báo Tinh hoa và đưa tên ông lên hàng những người mở đường của Thơ mới.
Bài thơ chỉ hai mươi câu năm chữ, dựng lại hình ảnh một ông đồ tóc đã bạc, mỗi dịp giáp Tết ra phố viết câu đối thuê: những năm đầu người xem vây quanh khen nét chữ, rồi khách thưa dần, giấy để lâu không ai mua, và đến một mùa xuân thì ông không ra phố nữa. Khổ cuối thường được trích nhất:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Cái hay của bài nằm ở cấu trúc vòng tròn. Khổ đầu mở bằng “mỗi năm hoa đào nở”, khổ cuối khép bằng “năm nay đào lại nở”: cảnh xuân vẫn y nguyên, chỉ người là mất. Giữa hai khổ ấy, nhà thơ không tả nỗi buồn bằng lời than mà bằng đồ vật: tờ giấy đỏ không thắm, nghiên mực đọng lại, lá vàng rơi trên giấy. Lối viết tiết chế, gần với lối “tả cảnh ngụ tình” của thơ cổ, lại dùng thể năm chữ vốn gần với vè, với đồng dao, khiến bài thơ dễ thuộc mà không nhạt. Wikipedia tiếng Việt ghi có nhà phê bình xếp bài vào nhóm mười bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, dù nó được viết bằng một giọng rất cũ.
Hai đường thi cảm của ông, theo cách Hoài Thanh nhận ra trong Thi nhân Việt Nam, là lòng thương người và tình hoài cổ. Ông đồ gói cả hai: thương một con người bị thời thế bỏ quên, và tiếc một nét văn hóa cũ đang tàn. Theo Wikipedia tiếng Việt, bài thơ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, bản tiếng Trung phổ biến dưới tên Lão tú tài.
Bức thư gửi Hoài Thanh năm 1941
Khi Hoài Thanh và Hoài Chân soạn Thi nhân Việt Nam, đầu năm 1941 Vũ Đình Liên gửi thư cho Hoài Thanh, trong đó có câu: “Tôi bao giờ cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình.” Ông viết tiếp rằng vì không tin thơ mình có giá trị nên đã lâu không làm thơ nữa. Hoài Thanh cho rằng ông tự hạ mình quá đáng, nhưng hiểu nỗi đau ấy.
Sự khắt khe với chính mình đi theo ông cả đời. Đến lúc mất, ông chỉ in đúng một tập thơ riêng là Đôi mắt (1975); nhiều bài khác chỉ lưu hành qua bản chép tay, và tập Người kỹ nữ cầu Trò chuẩn bị gần hai mươi năm vẫn còn là di cảo, theo báo Sài Gòn Giải Phóng. Vì thế có thời người ta xếp ông vào nhóm “nhà thơ một bài”. Thực ra ông vẫn viết đều, chỉ là ít khi chịu đem in.
Ba mươi năm đứng lớp tiếng Pháp
Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia kháng chiến chống Pháp rồi trở lại nghề dạy học, giữ một số chức vụ ở Bộ Giáo dục. Năm 1962, ông làm Chủ nhiệm Khoa Pháp văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đào tạo giáo viên tiếng Pháp (theo báo Sài Gòn Giải Phóng); báo Công an Nhân dân ghi ông có mười năm làm chủ nhiệm Khoa tiếng Pháp của Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ. Ông nghỉ hưu năm 1975.
Năm 1990, khi đã nghỉ hưu mười lăm năm, ông được Nhà nước phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Ở Khoa tiếng Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội) ngày nay có một hội trường mang tên ông. Ông từng nói nhà thơ và nhà giáo gần nhau ở tình nhân ái, và dẫn Nguyễn Trãi làm ví dụ cho một người vừa là thầy vừa là thi sĩ.
Người dịch Baudelaire và viết về Nguyễn Đình Chiểu
Phần việc lặng lẽ nhất của ông là nghiên cứu và dịch thuật. Năm 1957, ông cùng nhóm Lê Quý Đôn (Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Thước, Trương Chính, Lê Trí Viễn) biên soạn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, và cũng năm ấy in chuyên luận về Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ mù đất Gia Định mà về già ông vẫn thắp hương vào ngày giỗ.
Ông dành khoảng bốn mươi năm cho thơ Charles Baudelaire. Cuốn Thơ Baudelaire chỉ ra mắt vào khoảng năm ông mất (Wikipedia ghi 1995; báo Sài Gòn Giải Phóng viết sách in sau khi ông qua đời và được Hội Nhà văn Việt Nam trao thưởng năm 1996). Wikipedia tiếng Việt cũng ghi ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.
Gác Hương Lửa và những bài thơ về người khốn khổ
Lòng thương người ở Vũ Đình Liên không chỉ nằm trên trang giấy. Nhà thơ Trần Lê Văn kể, được báo Công an Nhân dân dẫn lại, rằng nhiều năm liền ông đi bộ từ nhà ở phố Bà Triệu vào làng Mọc trông nom nhà cửa cho gia đình con gái nhà văn Vũ Trọng Phụng, người bạn học thuở nhỏ; ông cũng hay dừng lại dỗ một đứa trẻ khóc, đỡ một em bé ngã bên đường.
Những bài thơ ông viết khi đã già phần lớn về người dưới đáy xã hội. Người kỹ nữ cầu Trò (1973) ra đời từ chuyện một cô đào hát chết rét bên lạch nước ở Phúc Thọ, Sơn Tây, mà ông nghe kể khi đi sơ tán. Người đàn bà điên ga Lưu Xá (1977) ghi lại cuộc gặp một người đàn bà điên rách rưới trên chuyến tàu lên Thái Nguyên dịp Tết; ông lấy gói bánh chưng, mứt sen mang theo trao cho chị. Bài thơ được coi là tiêu biểu cho chặng sau của thơ ông, nơi cái nhìn thương xót gặp ảnh hưởng của Baudelaire: thấy cái đẹp ngay trong sự tàn tạ.
Ông tiếp bạn văn, học trò trong căn gác nhỏ ở nhà 156B phố Bà Triệu mà ông đặt tên là gác Hương Lửa. Cũng theo bài viết của Nguyên An, ông cùng họa sĩ Bùi Xuân Phái và nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu biến ngôi nhà số 11 Hàng Bông thành một nơi tụ họp, thắp hương vào ngày giỗ Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đình Chiểu, cả Hugo và Baudelaire; người quen gọi vui đó là “bảo tàng Lưu – Liên – Phái”. Ông mất ngày 18/1/1996, thọ 82 tuổi.
Bài Ông đồ trong chương trình Ngữ văn: từ lớp 8 cũ đến lớp 7 Cánh diều
Ở chương trình 2006, Ông đồ là văn bản đọc hiểu trong Ngữ văn 8, tập hai, xếp cạnh các bài Thơ mới khác. Chương trình 2018 đưa bài thơ vào Ngữ văn 7 Cánh diều (tập một, Bài 2: Thơ bốn chữ, năm chữ), làm ví dụ cho thể thơ năm chữ.
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ông đồ | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1, Bài 2 | Soạn bài Ông đồ · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
| Ông đồ (bài viết) | Cảm nhận, phân tích, mở – kết bài | Cảm nhận · Phân tích · Mở bài · Kết bài |
Các bài thơ khác của ông được giới thiệu trong tuyển tập thơ Vũ Đình Liên. Đọc chúng sau Ông đồ sẽ thấy rõ hơn một điều: người thơ ấy hoài cổ không phải vì chuộng cái cũ, mà vì thương những con người bị thời gian bỏ lại.