Đọc xong Hai đứa trẻ, nhiều học sinh thấy khó kể lại: một buổi chiều, hai chị em ngồi trông hàng, đợi chuyến tàu đêm đi qua rồi đi ngủ. Vậy mà dư vị của truyện thì rất lâu tan. Cái khó kể mà khó quên ấy chính là chìa khóa để hiểu phong cách sáng tác của Thạch Lam. Thạch Lam (1910 – 1942), cây bút truyện ngắn của Tự Lực văn đoàn, viết ít sự kiện, nhiều cảm giác; viết về người nghèo bằng giọng nhỏ nhẹ; và để câu văn xuôi ngân lên như thơ. Bài này đi qua từng nét ấy, kèm dẫn chứng từ chính các truyện trong sách giáo khoa.
Trước khi đi vào chi tiết, em nên xem lại hoàn cảnh ra đời của Dưới bóng hoàng lan để nắm xuất xứ và cách chia đoạn.

Truyện “không có chuyện”: cốt truyện lùi lại, cảm giác bước lên
Thử tóm tắt ba truyện Thạch Lam quen thuộc nhất sẽ thấy điều lạ. Gió lạnh đầu mùa: hai chị em Sơn, Lan đem cho bé Hiên chiếc áo bông cũ. Dưới bóng hoàng lan: Thanh về thăm bà ít hôm rồi lại đi. Hai đứa trẻ: Liên và An thức đợi chuyến tàu chín giờ. Không có âm mưu, không có xung đột gay gắt, không có kết thúc bất ngờ.
Thứ thay chỗ cho cốt truyện là không khí và dòng cảm xúc. Thạch Lam đặt nhân vật vào một khoảnh khắc (một buổi chiều, một sáng đầu đông, một lần về nhà) rồi kéo chậm khoảnh khắc ấy ra để người đọc nghe được tiếng chõng tre kêu cót két, ngửi được mùi đất ẩm sau phiên chợ, thấy được bàn tay bà buông màn đuổi muỗi. Người ta hay gọi lối viết này là “truyện không có chuyện”. Gọi vậy không có nghĩa là truyện trống rỗng: chuyện vẫn có, chỉ là nó xảy ra ở bên trong nhân vật nhiều hơn bên ngoài.
Lối viết ấy đòi hỏi người đọc kiên nhẫn. Đổi lại, nó cho một thứ mà truyện nhiều tình tiết khó cho: cảm giác mình đã thật sự sống qua buổi chiều ấy cùng nhân vật.
Phố huyện, xóm chợ và những đời người lặng lẽ
Là em ruột Nhất Linh và Hoàng Đạo, sống giữa nhóm văn nổi tiếng với những tiểu thuyết về tình yêu và cải cách gia đình, Thạch Lam lại thường hướng ngòi bút về những nơi chật chội nhất: phố huyện nghèo, dãy nhà lá ven chợ, căn nhà thuê ở ngoại ô. Nhân vật của ông là chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng nước dưới gốc bàng; bác Siêu gánh phở mà trẻ con trong phố không bao giờ đủ tiền mua; gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu chờ khách.
Đậm nhất là Nhà mẹ Lê. Bác Lê một mình nuôi mười một đứa con, mùa rét cả nhà nằm trên ổ rơm. Không còn gì ăn, bác vào nhà ông Bá xin gạo rồi bị chó nhà ông ta cắn. Truyện kể lại mà không lên giọng tố cáo; chính sự bình thản ấy làm người đọc thấy nhói hơn. Ở Hai đứa trẻ, nhà văn chỉ dừng lại ở một câu ngắn về những người quanh hàng nước của chị Tí: họ “mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.
Có thể gọi đó là lòng thương người kín đáo. Thạch Lam ít khi bình luận thay nhân vật. Ông để Liên “động lòng thương” khi thấy lũ trẻ nhặt nhạnh rác chợ, rồi viết tiếp rằng chị cũng không có tiền để cho chúng. Lòng tốt và sự bất lực đặt cạnh nhau, không cần lời giải thích.

Chất thơ trong câu văn xuôi
Đoạn mở đầu Hai đứa trẻ thường được học sinh chép vào sổ tay:
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.
Câu văn có nhịp như một câu thơ: điệp từ “chiều” ở đầu, vế ngắn trước vế dài sau, những từ láy “văng vẳng”, “êm ả” gợi âm thanh nhiều hơn tả hình ảnh. Cũng truyện ấy, khi trời tối hẳn, nhà văn viết về “một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”. Ở Dưới bóng hoàng lan, Thanh cúi rửa mặt bên bể nước và thấy bóng mình lay động “với những mảnh trời xanh tan tác”.
Chất thơ này không đến từ chữ hoa mỹ. Câu văn Thạch Lam phần lớn dùng từ thường ngày, nhưng được sắp theo nhịp chậm, nhiều dấu phẩy, nhiều hình ảnh ánh sáng và bóng tối. Riêng Hai đứa trẻ có thể đọc như một bản hòa tấu của ánh sáng: ráng chiều đỏ rực, ngọn đèn con của chị Tí, bếp lửa bác Siêu, đom đóm, sao trời, rồi đoàn tàu sáng trưng vụt qua và tắt hút sau rặng tre.
Nghệ thuật bắt những rung động rất nhỏ
Thế mạnh thứ ba là khả năng ghi lại những biến đổi tâm trạng mà chính nhân vật cũng chưa gọi được tên. Liên “thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” mà “không hiểu sao”. Cuối truyện, chị thấy mình “sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết”, giống như ngọn đèn của chị Tí chỉ soi được một khoảnh đất nhỏ. Đó là cái nhìn của một cô bé, nhưng cũng là một nhận thức buồn về cuộc sống tù đọng nơi phố huyện.
Ở Dưới bóng hoàng lan, rung động còn mảnh hơn: Thanh nằm giả vờ ngủ để bà buông màn, “cảm động gần ứa nước mắt”, rồi nghe một tiếng cười quen mà chưa nhớ ra là của ai. Truyện Sợi tóc, in trong tập cùng tên, thì để nhân vật “tôi” nhìn lại một lần suýt ăn cắp và nhận ra giữa có lấy và không lấy chỉ cách nhau “một sợi tóc nhỏ”. Thạch Lam ít dùng độc thoại dài; ông lồng cảm giác của nhân vật vào cảnh vật và âm thanh xung quanh, nên tâm lý hiện ra rất tự nhiên.
Nhà văn Vũ Ngọc Phan, trong bộ Nhà văn hiện đại, nhận ra điều này rất sớm: Thạch Lam “có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp”.
Một dòng riêng trong Tự Lực văn đoàn
Đặt cạnh các anh em cùng nhóm, sự khác biệt càng rõ. Nhất Linh và Khái Hưng nổi tiếng với tiểu thuyết luận đề, nhân vật thường mang một tư tưởng cần chứng minh; tiểu thuyết của họ có tình tiết, có xung đột gia đình, có kết cục rõ. Thạch Lam thì gắn với truyện ngắn và tùy bút, không đặt luận đề lên trên nhân vật.
| Phương diện | Xu hướng chung của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn | Ở Thạch Lam |
|---|---|---|
| Thể loại sở trường | Tiểu thuyết luận đề | Truyện ngắn, tùy bút |
| Nhân vật | Thanh niên trí thức, gia đình khá giả | Người nghèo phố huyện, ngoại ô; trẻ em; phụ nữ |
| Cốt truyện | Nhiều tình tiết, xung đột rõ | Ít sự kiện, nặng về cảm giác |
| Giọng điệu | Hăng hái, có chủ ý thuyết phục | Nhỏ nhẹ, thủ thỉ, kín đáo |
Vì vậy, khi viết về Thạch Lam, các nhà nghiên cứu thường đặt ông ở vị trí gạch nối: trong nhóm lãng mạn nhưng gần với văn học hiện thực ở đề tài người nghèo. Nhà văn Nguyễn Tuân, người quen thân với nhóm, có một nhận xét ngắn mà trúng: “Nói đến Thạch Lam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”. Truyện dài duy nhất của ông, Ngày mới (1939), quả thật ít được nhắc đến bằng các tập Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc.
“Khí giới thanh cao”: quan niệm đứng sau lối viết
Lối viết nhẹ nhàng của Thạch Lam không phải là lối viết né tránh. Trong tập Gió đầu mùa, ông viết: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có”. Các bản in lại ghi tiếp ý ấy: văn chương dùng để tố cáo một thế giới giả dối, tàn ác và làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn.
Đọc câu này rồi đọc lại Nhà mẹ Lê hay Hai đứa trẻ sẽ thấy hai nửa của quan niệm ấy. Nửa “tố cáo” nằm ở những chi tiết lạnh lùng như con chó nhà giàu hay gian hàng tạp hóa cả ngày bán chẳng được bao nhiêu. Nửa “làm cho lòng người trong sạch” nằm ở cách nhà văn nâng niu một chiếc áo bông cũ, một tiếng gọi “bà ơi”. Ông không hô hào, mà để người đọc tự thấy thương.
Tập tiểu luận Theo dòng (1941; bản in đầu ghi Theo giòng) là nơi Thạch Lam nói kỹ hơn về nghề viết tiểu thuyết. Muốn hiểu vì sao ông coi trọng cảm giác hơn tình tiết, đây là cuốn nên tìm đọc sau khi đã quen với các truyện ngắn.
Khi phân tích truyện Thạch Lam trong sách giáo khoa
Ba truyện của ông hiện có trong chương trình: Gió lạnh đầu mùa (lớp 6 Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo; lớp 8 Cánh diều), Dưới bóng hoàng lan (lớp 10 Kết nối tri thức, đọc mở rộng ở Chân trời sáng tạo) và Hai đứa trẻ (lớp 12 Chân trời sáng tạo). Khi làm bài, đừng chỉ kể lại diễn biến; nên chỉ ra:
- Không gian và thời gian: lúc chiều tàn, đêm, sáng đầu đông, khu vườn yên tĩnh. Cảnh vật bao giờ cũng nhuốm tâm trạng nhân vật.
- Chi tiết nhỏ mang nghĩa lớn: chiếc áo bông của em Duyên, ngọn đèn của chị Tí, cây hoàng lan trước cửa sổ.
- Giọng kể: nhẹ, chậm, nhiều câu văn giàu nhịp điệu; hãy trích một câu và chỉ ra nhịp của nó.
- Tình cảm của nhà văn: thương người nghèo nhưng không thương hại; quý những điều tốt đẹp bình thường.
Bài soạn và văn mẫu cho từng truyện: soạn bài Hai đứa trẻ, phân tích Hai đứa trẻ, soạn bài Dưới bóng hoàng lan, phân tích Dưới bóng hoàng lan và tác giả, tác phẩm Gió lạnh đầu mùa.
Tóm lại: nhận ra văn Thạch Lam bằng những dấu hiệu nào?
Một trang văn có ít biến cố, nhiều ánh sáng và âm thanh; nhân vật là người nghèo hoặc trẻ nhỏ, được nhìn bằng con mắt trìu mến; câu văn chậm, êm, đọc lên có nhạc. Gặp những dấu hiệu ấy, rất có thể bạn đang đọc Thạch Lam. Đời văn của ông chỉ gói trong khoảng năm năm, từ Gió đầu mùa (1937) đến khi ông mất năm 1942, nhưng giọng văn ấy không lẫn với ai.
Muốn biết thêm về cuộc đời ông, xem bài giới thiệu tác giả Thạch Lam; danh mục các tập truyện có ở bài những tác phẩm của Thạch Lam. Bạn cũng có thể đọc Thạch Lam, nhà văn tiêu biểu của Tự Lực văn đoàn hoặc so sánh với phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân, người bạn văn đã viết những dòng trân trọng về ông.