Đầu tháng 4/2019, cuốn tùy bút Tự tình cùng cái đẹp được bạn bè và người thân giúp in xong. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 18/4, tác giả của nó qua đời ở Bệnh viện E, Hà Nội. Chu Văn Sơn (1962 – 2019) là nhà giáo, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam, tiến sĩ, giảng viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Ba đỉnh cao Thơ mới và Thơ – điệu hồn và cấu trúc. Học sinh hôm nay gặp ông qua ba bài phê bình trong sách Ngữ văn 9 và 10, về Thương vợ, Tiếng thu và Thu vịnh.
Cậu học trò Đông Hương và khoa Ngữ văn Sư phạm Hà Nội

| Tên | Chu Văn Sơn (còn được gọi là Chu Sơn) |
| Năm sinh – năm mất | 19/8/1962 – 18/4/2019 |
| Quê quán | Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa |
| Nghề nghiệp | Giảng viên Văn học Việt Nam hiện đại, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; tiến sĩ Ngữ văn (2001); hội viên Hội Nhà văn Việt Nam |
| Thể loại | Phê bình, nghiên cứu văn học; tùy bút |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hàn Mặc Tử, văn chương và dư luận (2002), Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử (2003), Thơ – điệu hồn và cấu trúc (2007), Tự tình cùng cái đẹp (2019), Đa mang một cõi lòng không yên định (2021) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2021 cho Đa mang một cõi lòng không yên định (theo Znews), cùng giải của một số tạp chí văn nghệ |
| Trong SGK | Về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” (Ngữ văn 9 CTST); Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (Ngữ văn 10 KNTT); Gió thanh lay động cành cô trúc (Ngữ văn 10 Cánh diều) |
Ông sinh ở Đông Hương, nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Tài liệu giới thiệu tác giả trong chương trình Ngữ văn ghi ông học trường chuyên Hàm Rồng; báo Tiền Phong gọi ông là học sinh đoạt giải Nhất văn toàn quốc năm xưa, có tài liệu ghi là giải đặc biệt. Dù là giải nào, chuyện đó giải thích vì sao về sau ông gắn bó với các đội tuyển học sinh giỏi đến vậy.
Ông học cử nhân rồi thạc sĩ ở Đại học Sư phạm Hà Nội, nhận bằng tiến sĩ Ngữ văn năm 2001. Năm ông bắt đầu đứng lớp ở khoa Ngữ văn thì các báo ghi khác nhau: Thanh Niên ghi 1984, VietNamNet ghi 1986, Tuổi Trẻ ghi 1988. VietNamNet và trang của Hội Nhà văn còn cho biết trước đó ông từng dạy ở Trường Đại học Quy Nhơn; một số báo khác chỉ nói ông dạy chuyên đề ở Quy Nhơn, Hồng Đức, Vinh. Có thể chắc một điều: hơn ba mươi năm, ông là giảng viên bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại của trường.
Ba đỉnh cao Thơ mới và lối phê bình bằng chân dung
Cuốn sách làm nên tên tuổi Chu Văn Sơn là Ba đỉnh cao Thơ mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử. Báo Thanh Niên gọi đó là tiểu luận chân dung và ghi năm 2003; một số tài liệu học tập ghi 2005, có lẽ theo một lần in sau. Trước đó một năm, ông đã có Hàn Mặc Tử, văn chương và dư luận (2002).
Chọn ba nhà thơ ấy là chọn ba hướng rất khác của phong trào Thơ mới: một người say đời, mê cái mới phương Tây; một người giữ hồn quê và lục bát; một người đi đến tận cùng của đau đớn và mê sảng. Ông không viết theo lối khái quát trào lưu mà dựng từng chân dung, đi từ con người đến thế giới thơ. Muốn đọc tiểu sử ba nhà thơ trước khi đọc sách của ông, có thể xem bài giới thiệu tác giả Xuân Diệu, nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ Hàn Mặc Tử trên Văn VN.
Báo Tiền Phong cho biết sinh thời giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đánh giá rất cao cách viết phê bình sáng tạo, hấp dẫn của Chu Văn Sơn. Mối liên hệ ấy không chỉ là lời khen: khi đưa tin ông mất, Hội Nhà văn và báo chí đều kể bộ Nguyễn Đăng Mạnh tuyển tập trong danh mục công trình của ông. Một bài viết trên Znews ít ngày sau khi ông mất cho biết rằng ông xem phê bình là sự hòa quyện của nghệ thuật và khoa học, nên mỗi bài phê bình vừa phải là một công trình nghiên cứu vừa phải là một tác phẩm.
Đọc thơ bằng tai: Thơ – điệu hồn và cấu trúc
Cuốn Thơ – điệu hồn và cấu trúc (Nhà xuất bản Giáo dục, 2007) là nơi lộ rõ nhất cách đọc thơ của Chu Văn Sơn. Hai trong ba văn bản của ông đang có trong sách giáo khoa đều lấy từ cuốn này. Cách làm quen thuộc của ông là đọc chậm từng chữ, nghe âm thanh, nhịp điệu, thanh bằng thanh trắc, rồi từ những chi tiết rất nhỏ ấy đi tới tâm hồn người viết.
Ví dụ rõ nhất là bài viết về Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Bài thơ chín câu năm chữ ấy được ông nghe như một bản nhạc, với những vang ngân và thế hài hòa giữa các thanh điệu; nhan đề “bản hòa âm ngôn từ” nói đúng điều đó. Với Thu vịnh của Nguyễn Khuyến, ông đi lần lượt các cặp câu đề, thực, luận, kết, rồi khép lại bằng hình ảnh cây cô trúc trong làn gió thanh, hình ảnh mà người đọc thường hiểu là chân dung của chính nhà thơ Yên Đổ: thanh cao, ở nơi yên mà lòng không yên.
Nhận xét của người biên tập, không trích của ai: đọc Chu Văn Sơn, học sinh học được nhiều về cách đặt câu hỏi với một chữ trong thơ (vì sao chữ này, không phải chữ khác) hơn là học thuộc kết luận. Lời văn của ông đẹp, nhưng cái nên học là phương pháp.
Ba bài phê bình trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Bàn về tác phẩm | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 2 (Giá trị của văn chương) | Thương vợ (Trần Tế Xương) | Soạn bài |
| Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 (Vẻ đẹp của thơ ca) | Tiếng thu (Lưu Trọng Lư) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
| Gió thanh lay động cành cô trúc | Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 2 – Bài 8 (Văn bản nghị luận) | Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) | Soạn bài |
Ba văn bản bàn về ba nhà thơ thuộc ba thời: Tú Xương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Khuyến cùng thời ấy nhưng ở một giọng khác hẳn, và Lưu Trọng Lư của Thơ mới. Bài về bà Tú được dạy ở bài học về giá trị của văn chương; đoạn đáng nhớ là chỗ ông dựa vào phát hiện của Xuân Diệu để giảng câu thơ nuôi đủ năm con với một chồng: người chồng tự đếm mình như một đứa con nữa mà vợ phải nuôi. Hai bài lớp 10 thì là mẫu của văn nghị luận văn học: luận điểm rõ, dẫn chứng là chính chữ trong thơ.
Trước khi đọc các văn bản này, nên đọc lại bài thơ gốc: Thương vợ, Tiếng thu và Thu vịnh. Với Thu vịnh, Văn VN có bài phân tích bài thơ Thu vịnh; muốn biết thêm về người được ông viết về, có thể đọc bài giới thiệu tác giả Tú Xương và tác giả Lưu Trọng Lư.
Người thầy của các đội tuyển và những lớp học trên sóng truyền hình
Ngoài giảng đường, Chu Văn Sơn được nhiều người biết đến qua các chương trình dạy văn trên truyền hình mà ông tham gia trong nhiều năm, theo báo Tiền Phong. Ông cũng dạy các đội tuyển học sinh giỏi văn. Khi ông mất, Znews dẫn lời biên kịch Thu Thủy (phim Chạy trốn thanh xuân) kể bà chỉ được học thầy vài buổi hồi ôn đội tuyển lớp 12 ở Hà Nội, nhưng vẫn nhớ bài văn đoạt giải nhất của thầy và câu thầy viết tặng trong cuốn sổ.
PGS.TS Văn Giá, nhà phê bình và cũng là một người dạy văn, viết trên trang cá nhân (được Tiền Phong dẫn lại) về những gì học trò làm khi biết thầy ốm: một bức chân dung vẽ tặng suốt nửa tháng, một bức tượng tạc từ gỗ Tây Nguyên, một góc riêng dành cho thầy trong phòng làm việc của một cô giáo ở xa. Ông dùng những chi tiết ấy để nói về uy tín của Chu Văn Sơn trong cộng đồng dạy và học văn ở nhà trường.
Tùy bút: Sơn Đoòng, Angkor, tượng nhà mồ
Ngoài phê bình, Chu Văn Sơn còn là người mê xê dịch. Ông đi nhiều và viết tùy bút về những nơi đã đến. Tập Tự tình cùng cái đẹp (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2019) gồm mười một tùy bút; theo Znews, những bài được giới văn chương nhắc nhiều là bài về hang Sơn Đoòng, về tượng nhà mồ Tây Nguyên và về Angkor.
Bài về Sơn Đoòng được trang của Hội Nhà văn Việt Nam đăng lại ngay sau khi ông mất, như bài tùy bút cuối cùng của ông; Văn VN cũng lưu lại bài tùy bút về Sơn Đoòng ấy, cùng tùy bút Đà Lạt và tôi. Đọc tùy bút của ông sẽ thấy cùng một con mắt đã đọc thơ: chậm, mê cái đẹp, thích chơi chữ, đôi khi tự giễu.
Hai năm cuối đời và những cuốn sách in sau khi ông mất
Theo TS La Khắc Hòa, bạn thân của ông, nói với báo Tiền Phong, Chu Văn Sơn phát hiện bệnh ung thư phổi khoảng hai năm trước khi mất và đã chữa trị nhiều nơi. Hai năm ấy ông gần như vắng bóng ở các hội thảo và lớp học. Ông mất lúc 13 giờ 40 ngày 18/4/2019, hưởng dương 58 tuổi. Lễ tang tổ chức ngày 21/4 ở Nhà tang lễ quận Cầu Giấy; ông được hỏa táng và an nghỉ ở nghĩa trang Vĩnh Hằng, Ba Vì.
Di sản của ông còn được in tiếp. Năm 2021, tập phê bình Đa mang một cõi lòng không yên định ra đời, tập hợp các bài viết về Nguyên Hồng, Hoài Thanh, Xuân Quỳnh, Huy Cận, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Y Phương… và được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải năm 2021. Theo bà Nguyễn Vân Anh, vợ ông, nhan đề là chữ ông dùng khi viết về Xuân Quỳnh, và cũng là hình ảnh của chính ông. Ai muốn đọc thêm về nữ thi sĩ ấy có thể xem bài giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh.
Xem thêm: