Lượm là bài thơ bốn chữ nổi tiếng của Tố Hữu, kể về chú bé liên lạc hồn nhiên đã hi sinh trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn bản được học ở Bài 7 (Thơ có yếu tố tự sự, miêu tả), sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập hai, cùng với Đêm nay Bác không ngủ. Bài viết tổng hợp nội dung bài thơ, thông tin tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, cách chia đoạn, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.

Nội dung bài thơ Lượm
Mở đầu bài thơ, người chú – nhà thơ vừa từ Hà Nội về – tình cờ gặp chú bé Lượm ở Hàng Bè, đúng lúc thành Huế ngập trong máu lửa chiến tranh. Hiện lên trước mắt người chú là một cậu bé nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và rất ngộ nghĩnh:
Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Lượm đội mũ ca lô lệch, vừa đi vừa huýt sáo, nhảy nhót như chú chim nhỏ trên con đường vàng nắng. Em hồn nhiên khoe công việc liên lạc ở đồn Mang Cá còn thích hơn ở nhà, cười híp mắt, má đỏ hồng rồi chào người chú bằng hai tiếng “đồng chí” trước khi đi xa dần.
Hai chú cháu chia tay mỗi người một ngả. Đến tháng sáu, người chú bất ngờ nghe tin Lượm đã hi sinh. Khổ thơ vỡ ra thành những dòng ngắn như tiếng nấc. Người chú hình dung lại chuyến đi cuối cùng của em: vẫn như mọi ngày, Lượm cho thư vào bao, băng qua mặt trận giữa làn đạn, chẳng ngại hiểm nguy vì bức thư mang dấu khẩn. Trên con đường quê vắng giữa đồng lúa trổ đòng, chiếc mũ ca lô nhấp nhô thì bỗng một chớp lửa lóe lên. Lượm ngã xuống giữa ruộng, bàn tay nhỏ còn nắm lấy bông lúa đang ngậm sữa thơm, như thể linh hồn em hòa vào quê hương.
Bài thơ khép lại bằng câu hỏi day dứt “Lượm ơi, còn không?” rồi lặp lại hình ảnh chú bé loắt choắt, tinh nghịch ở khổ đầu – như khẳng định Lượm vẫn sống mãi, vẫn nhảy nhót trên con đường vàng trong kí ức mọi người.
Thơ Tố Hữu hiện vẫn trong thời hạn bảo hộ nên bài chỉ trích một khổ ngắn. Em có thể đọc toàn văn trong SGK và xem lời giải câu hỏi tại bài Soạn bài Lượm – Ngữ văn 6 Cánh diều.
Thông tin tác giả Tố Hữu
Nhà thơ Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế). Ông lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, từ nhỏ đã được cha mẹ cho tiếp xúc với ca dao, dân ca xứ Huế – nguồn mạch đậm đà trong thơ ông về sau.
Tố Hữu giác ngộ cách mạng từ thời học sinh, bị thực dân Pháp bắt giam ở nhiều nhà tù, rồi vượt ngục tiếp tục hoạt động. Sau Cách mạng tháng Tám, ông đảm nhận nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước, trong đó có nhiều năm phụ trách công tác văn hóa, văn nghệ.
Ông được xem là nhà thơ tiêu biểu nhất của dòng thơ cách mạng nước ta. Con đường thơ gắn liền với con đường cách mạng, thể hiện qua bảy tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta. Thơ ông mang đậm chất trữ tình chính trị, giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ dân tộc và lời ăn tiếng nói của nhân dân. Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Tìm hiểu kĩ hơn tại bài Tiểu sử nhà thơ Tố Hữu hoặc đọc thêm tuyển tập thơ Tố Hữu.
Thông tin tác phẩm Lượm
Dưới đây là những câu hỏi học sinh thường tra khi học bài thơ.
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Lượm
Năm 1946, khi quân Pháp đánh chiếm Huế, Tố Hữu từ Hà Nội trở về và tình cờ gặp một chú bé đưa thư cho các chiến sĩ ở đồn Mang Cá. Không lâu sau, ông được tin cậu bé ấy đã ngã xuống khi mang công văn băng qua trận địa. Xúc động trước tấm gương nhỏ tuổi mà gan dạ ấy, năm 1949 nhà thơ viết bài Lượm; tác phẩm được in trong tập thơ Việt Bắc.
Thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể thơ: thơ bốn chữ, phần lớn khổ bốn dòng, gieo vần chân xen vần lưng, nhịp chủ yếu 2/2.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Nhân vật trữ tình: người chú – người chiến sĩ, xưng “chú”, gọi Lượm là “cháu” rồi “đồng chí nhỏ”.
Bố cục bài thơ Lượm có mấy phần?
- Phần 1 (năm khổ đầu): cuộc gặp gỡ tình cờ ở Huế và hình ảnh Lượm hồn nhiên, vui tươi.
- Phần 2 (từ khổ “Cháu đi đường cháu” đến “Hồn bay giữa đồng”): tin dữ và cảnh Lượm ngã xuống khi đang đưa thư.
- Phần 3 (còn lại): nỗi xót thương và hình ảnh Lượm sống mãi.
Ý nghĩa cách xưng hô trong bài thơ
Lúc gặp nhau, hai người gọi nhau “chú – cháu”, thân mật như người trong nhà. Khi kể về nhiệm vụ và sự hi sinh, người chú gọi Lượm là “chú đồng chí nhỏ”: cách gọi vừa trìu mến vừa trân trọng, nâng chú bé lên ngang hàng những người chiến sĩ. Sự thay đổi ấy cho thấy tình cảm của nhà thơ chuyển từ yêu mến sang cảm phục.
Giá trị nội dung
- Dựng lên chân dung một chú bé giao liên nhỏ tuổi: tinh nghịch, yêu đời, say mê công việc và không sợ hiểm nguy.
- Thể hiện tình yêu mến, niềm xót thương và lòng cảm phục của nhà thơ trước sự hi sinh của em.
- Khẳng định Lượm đã hóa thân vào quê hương, đất nước và sống mãi trong lòng mọi người; ngợi ca những thiếu niên góp sức cho cuộc kháng chiến.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ bốn chữ nhịp nhàng, gần với đồng dao, hợp với giọng kể và hình ảnh nhân vật thiếu nhi.
- Các từ láy giàu hình ảnh (xinh xinh, loắt choắt, nghênh nghênh, thoăn thoắt) cùng phép so sánh với chú chim chích làm nổi bật dáng vẻ nhanh nhẹn, tinh nghịch.
- Kết hợp kể, tả và bộc lộ cảm xúc; câu thơ ngắt đôi, câu cảm thán, câu hỏi tu từ diễn tả nỗi đau đột ngột.
- Khổ thơ tả Lượm ở đầu bài xuất hiện thêm một lần khi khép bài (kết cấu vòng tròn), cho thấy Lượm vẫn còn mãi.
Sơ đồ tư duy bài thơ Lượm
Sơ đồ tóm tắt sáu nhóm kiến thức trọng tâm của bài thơ.

Lời kết
Khi ôn bài thơ Lượm, em cần nhớ: tác giả Tố Hữu, sáng tác năm 1949, sau in ở tập Việt Bắc; thể thơ bốn chữ kết hợp tự sự, miêu tả, biểu cảm; bố cục ba phần; hình ảnh Lượm hồn nhiên, dũng cảm và sống mãi với quê hương. Các chi tiết đắt giá nên ghi nhớ là những từ láy tả dáng hình, dòng thơ bị ngắt đôi khi nghe tin dữ và khổ thơ lặp lại ở cuối bài.
Xem thêm: