Mùa thu năm 766, ở Quỳ Châu bên bờ Trường Giang, một ông quan nhỏ đã bỏ chức, ốm yếu và xa quê ngồi nhìn sương móc làm tơi tả rừng phong rồi viết liền tám bài thơ thất ngôn. Ông là Đỗ Phủ. Đỗ Phủ (杜甫, 712 – 770), tự Tử Mỹ, hiệu Thiếu Lăng dã lão, là nhà thơ lớn đời Đường mà hậu thế tôn là Thi thánh; thơ ông ghi lại sát sao những năm loạn lạc của nhà Đường đến mức người đời gọi là “thi sử”, lịch sử viết bằng thơ. Học sinh Việt Nam gặp ông qua bài thứ nhất của chùm tám bài ấy: Thu hứng, quen gọi là Cảm xúc mùa thu, trong sách Ngữ văn 10.
Cháu nội Đỗ Thẩm Ngôn và mười năm lận đận ở Trường An

| Tên, tự, hiệu | Đỗ Phủ (杜甫), tự Tử Mỹ (子美), hiệu Thiếu Lăng dã lão; người đời còn gọi theo chức quan là Đỗ Thập Di, Đỗ Công Bộ |
| Năm sinh – năm mất | 712 – 770 |
| Quê | Huyện Củng, gần Lạc Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) |
| Thời đại | Nhà Đường, sống qua thời thịnh trị của Đường Huyền Tông và cuộc loạn An Sử (755 – 763) |
| Thể loại | Thơ cổ thể và thơ cận thể (luật thi); còn lại khoảng 1.400 bài |
| Danh xưng | Thi thánh; thơ được gọi là “thi sử” |
| Tác phẩm tiêu biểu | Binh xa hành, Xuân vọng, Tam lại – Tam biệt, Mao ốc vị thu phong sở phá ca, Thu hứng (8 bài), Đăng cao |
| Trong SGK | Thu hứng (Ngữ văn 10 Kết nối tri thức); Cảm xúc mùa thu (Ngữ văn 10 Cánh diều) |
Đỗ Phủ sinh ra trong một dòng họ có truyền thống làm quan và làm văn. Ông nội ông là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ có tiếng đầu đời Đường; xa hơn nữa, họ Đỗ nhận Đỗ Dự, danh tướng và học giả đời Tấn, làm tổ. Mẹ mất sớm, cậu bé lớn lên một thời gian trong nhà người cô ở Lạc Dương. Theo lời chính ông kể lại trong thơ, bảy tuổi đã làm thơ về chim phượng hoàng.
Tuổi trẻ của ông là những chuyến đi dài về phía đông nam (vùng Ngô Việt) rồi lên phía bắc (vùng Tề Triệu). Khoảng năm 735 – 736, ông dự kỳ thi Tiến sĩ và trượt. Năm 747, Đường Huyền Tông mở một kỳ thi đặc biệt để tìm người tài; tể tướng Lý Lâm Phủ đánh trượt toàn bộ thí sinh rồi tâu rằng trong dân gian không còn sót nhân tài nào. Đỗ Phủ nằm trong số thí sinh ấy.
Gần mười năm sau đó ở Trường An là chuỗi ngày dâng thơ, dâng phú, đi lại cửa các nhà quyền quý mà không được việc. Năm 751, ông dâng ba bài phú về các lễ lớn, được vua khen và cho chờ bổ dụng, nhưng chức quan mãi chưa tới. Chính trong những năm nghèo túng này, ông viết Binh xa hành (Bài ca xe binh), cảnh cha mẹ vợ con khóc tiễn trai tráng bị bắt đi lính, bụi tung mù cả cầu Hàm Dương. Người thanh niên dòng dõi quan lại bắt đầu nhìn thời thịnh trị từ phía người bị bắt lính.
Mùa hè năm 744: hai nhà thơ lớn nhất đời Đường gặp nhau
Năm 744, ở Lạc Dương, Đỗ Phủ ba mươi hai tuổi gặp Lý Bạch, người hơn ông mười một tuổi, vừa rời triều đình sau ba năm làm việc ở Hàn lâm viện. Hai người cùng đi chơi vùng Lương, Tống (có cả nhà thơ Cao Thích), rồi năm sau gặp lại ở vùng Tề, Lỗ. Sau đó họ chia tay và, theo những gì thơ văn còn ghi, không bao giờ gặp lại.
Cuộc gặp ngắn ngủi ấy để lại một sự chênh lệch đáng chú ý: Đỗ Phủ viết về Lý Bạch hơn chục bài, nhớ bạn, mơ thấy bạn, lo cho bạn khi Lý Bạch bị đày đi Dạ Lang; Lý Bạch chỉ còn để lại vài bài gửi Đỗ Phủ. Mấy chục năm sau, Hàn Dũ viết trong bài Điệu Trương Tịch: “Lý Đỗ văn chương tại, quang diệm vạn trượng trường” (văn chương Lý, Đỗ còn đó, ánh lửa dài muôn trượng). Người sau gọi hai ông là Lý – Đỗ, đặt cạnh nhau như hai đỉnh cao của thơ Đường: một bên phóng khoáng, bay bổng như tiên; một bên nặng trĩu chuyện đời, chuyện người.
Loạn An Sử – vết cắt chia đôi đời thơ
Năm 755, Đỗ Phủ mới được một chức quan nhỏ trông coi kho binh khí. Cuối năm ấy ông về huyện Phụng Tiên thăm vợ con thì đứa con nhỏ vừa chết đói. Bài thơ dài năm trăm chữ ông viết trên đường đi có hai câu về sau thành câu cửa miệng của người Trung Quốc:
Chu môn tửu nhục xú,
Lộ hữu đống tử cốt.
(Cửa son rượu thịt ôi thối, ngoài đường có xương người chết rét.) Cũng tháng ấy, An Lộc Sơn khởi binh. Năm 756, Trường An thất thủ, Huyền Tông chạy vào đất Thục, thái tử lên ngôi ở Linh Vũ (Đường Túc Tông). Đỗ Phủ đưa gia đình đi lánh nạn rồi một mình tìm đến hành tại của vua mới, giữa đường bị quân phản loạn bắt đưa về Trường An. Mùa xuân năm 757, trong thành Trường An bị chiếm, ông viết Xuân vọng (Cảnh xuân trông ra), mở đầu bằng câu: Quốc phá sơn hà tại – nước mất, núi sông còn đó.
Mùa hè năm ấy ông trốn được ra Phượng Tường, chân đi giày gai đến gặp Túc Tông, được phong chức Tả thập di, một chức gián quan nhỏ. Chẳng bao lâu, vì dâng sớ bênh vực tể tướng Phòng Quản bị cách chức, ông bị vua ghét; năm 758 bị đẩy ra làm Tư công tham quân ở Hoa Châu. Năm 759, trên đường đi lại giữa Lạc Dương và Hoa Châu, ông viết sáu bài thơ thường được gọi chung là “Tam lại, Tam biệt”: ba bài về những viên lại đi bắt lính ở Tân An, Thạch Hào, Đồng Quan và ba cuộc chia ly (cô dâu mới cưới tiễn chồng, ông già ra trận, người lính không còn nhà để về).
Cũng trong năm 759, ông bỏ quan, đưa gia đình về phía tây. Từ đây đến cuối đời, Đỗ Phủ không còn một chỗ ở lâu dài nào.
Vì sao thơ Đỗ Phủ được gọi là “thi sử”?
Khoảng hơn một trăm năm sau khi ông mất, Mạnh Khải, tác giả cuốn Bản sự thi (cuối đời Đường), ghi rằng Đỗ Phủ gặp loạn An Lộc Sơn, lưu lạc khắp đất Lũng, đất Thục và đem hết những điều mắt thấy tai nghe vào thơ, nên người đương thời gọi thơ ông là thi sử. Danh xưng ấy theo ông đến tận ngày nay.
Đọc kỹ thì thấy lý do khá cụ thể. Thơ ông có địa danh, có mốc thời gian, có những con người không tên mà rất thật: viên lại đêm đêm đi bắt người, bà lão tình nguyện theo quân để nấu cơm cho lính, người lính về làng chỉ thấy cỏ hoang. Những sự kiện chính sử ghi một dòng, thơ Đỗ Phủ kể bằng số phận từng nhà.
| Bài thơ | Khoảng năm | Thời sự được ghi lại |
|---|---|---|
| Binh xa hành | khoảng 750 | Chính sách mở mang bờ cõi, bắt lính đi đánh biên ải |
| Xuân vọng | 757 | Trường An bị quân An Lộc Sơn chiếm đóng |
| Thạch Hào lại | 759 | Quân Đường thua ở Tương Châu, quan lại vét người bổ sung quân |
| Mao ốc vị thu phong sở phá ca | 761 | Đời sống người tị nạn ở Thành Đô |
| Thu hứng (8 bài) | 766 | Đất nước sau loạn, nỗi nhớ kinh đô cũ |
Hậu thế còn tôn ông là Thi thánh, ngang hàng với Lý Bạch là Thi tiên. Hai cách gọi nhấn vào hai mặt khác nhau: “thi sử” nói về nội dung ghi chép thời đại, “thi thánh” nói về độ hoàn hảo của nghề thơ, nhất là thể luật thi mà ông đẩy lên mức chặt chẽ và sâu sắc hiếm có.
Mái nhà tranh bên khe Hoán Hoa
Cuối năm 759, sau một chặng đường gian khổ qua Tần Châu, Đồng Cốc, gia đình Đỗ Phủ đến Thành Đô. Mùa xuân năm 760, nhờ bạn bè giúp, ông dựng được một ngôi nhà tranh bên khe Hoán Hoa ở ngoại thành. Mấy năm ở đây là quãng yên ổn hiếm hoi: ông trồng cây, làm vườn, viết nhiều bài thơ nhẹ nhõm về mưa xuân, chim én, bạn hàng xóm.
Yên ổn nhưng vẫn nghèo. Một đêm thu năm 761, gió lớn cuốn mất mấy lớp tranh trên mái, lũ trẻ trong xóm ôm tranh chạy mất, mưa dột suốt đêm. Bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài ca nhà tranh bị gió thu phá) kết bằng một ước nguyện vượt lên nỗi khổ riêng: giá có được ngàn vạn gian nhà rộng che chở cho hết thảy kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, thì riêng nhà mình có đổ nát, mình có chết cóng cũng cam lòng.
Người bạn và cũng là chỗ dựa của ông ở đất Thục là Nghiêm Vũ, quan trấn thủ vùng này. Năm 764, Nghiêm Vũ tiến cử ông vào làm việc trong mạc phủ và xin cho ông hàm Kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang, vì thế người đời sau gọi ông là Đỗ Công Bộ. Năm 765, Nghiêm Vũ mất; Đỗ Phủ rời Thành Đô, xuôi dòng Trường Giang. Cuối đời Đường, nhà thơ Vi Trang tìm lại nền cũ và dựng lại căn nhà tranh; qua các triều đại sau nơi này được trùng tu nhiều lần, và từ năm 1985 mang tên Bảo tàng Đỗ Phủ thảo đường Thành Đô.
Quỳ Châu và tám bài Thu hứng
Ông dừng chân ở Quỳ Châu, thị trấn gần thành Bạch Đế, đầu dải Tam Hiệp, từ năm 766 đến đầu năm 768. Chưa đầy hai năm mà ông viết khoảng bốn trăm bài, chiếm gần một phần ba số thơ còn lại của cả đời. Đây là lúc nghề thơ của ông chín nhất, đặc biệt là thể thất ngôn bát cú.
Chùm Thu hứng (Cảm hứng mùa thu) gồm tám bài liền mạch, viết trong thời gian ở Quỳ Châu; sách giáo khoa ghi năm 766. Ba bài đầu đặt người đọc ở Quỳ Châu, trong sương thu, tiếng chày đập áo, chiếc thuyền buộc mãi chưa đi; năm bài sau là Trường An trong ký ức: hồ Côn Minh, sông Khúc Giang, cung Bồng Lai của một thời thịnh trị đã mất. Bài thứ nhất, bài được học trong sách giáo khoa, mở ra bằng cảnh rừng phong và khép lại bằng tiếng chày trên thành Bạch Đế:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Tạm dịch nghĩa: sương móc trắng làm tiêu điều rừng phong; núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt. Giữa lòng sông sóng vọt lên tận trời, trên cửa ải mây gió sa sầm sát đất. Khóm cúc nở hai lần, giọt lệ ngày trước; con thuyền lẻ loi buộc mãi một tấm lòng nhớ vườn cũ. Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo buổi chiều dồn dập.
Chữ “lưỡng khai” (nở hai lần) cho biết ông đã ở xa quê qua hai mùa cúc; chữ “nhất hệ” (buộc một lần) là con thuyền chờ mãi không đi được. Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ nỗi riêng ấy hòa vào cảnh đất nước chưa yên, như các bài phân tích trên Văn VN đã chỉ ra. Cũng ở Quỳ Châu, năm 767, ông viết Đăng cao (Lên cao), bài thất ngôn bát cú thường được xếp vào hàng hay nhất của thơ Đường.
Thu hứng trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
Hai bộ sách hiện hành cùng chọn bài thứ nhất của chùm Thu hứng, nhưng đặt tên khác nhau. Sách in phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ; người học nên đọc kỹ phần dịch nghĩa trước, vì bản dịch thơ dù dễ nhớ vẫn có chỗ bỏ sót chữ của nguyên tác (như “lưỡng khai”, “cô chu”).
| Bộ sách | Tên văn bản | Vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 | Thu hứng | Bài 2 (Vẻ đẹp của thơ ca), đọc cùng Chùm thơ hai-cư Nhật Bản | Soạn bài Thu hứng |
| Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 1 | Cảm xúc mùa thu | Bài 2 (Thơ Đường luật) | Soạn bài Cảm xúc mùa thu |
Để ôn cả bài, em có thể đọc phần tác giả, tác phẩm Cảm xúc mùa thu, các mẫu tóm tắt bài thơ Thu hứng và bài phân tích Thu hứng có dàn ý. Trong cùng bài học ở sách Kết nối tri thức còn có ba bài thơ của Ba-sô, Chi-ô và Ít-sa; nhà thơ hai-cư Ba-sô vốn là người rất mê thơ Đỗ Phủ.
Con thuyền trên sông Tương và người đọc đời sau

Đầu năm 768, Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, ra khỏi Tam Hiệp, lênh đênh trên sông nước vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, sống phần lớn trên thuyền. Năm 770, ông mất vì bệnh, năm mươi tám tuổi. Phần lớn tài liệu cho rằng ông mất trên thuyền, trên sông Tương vùng Đàm Châu (Trường Sa); có sách lại ghi ông mất ở Lỗi Dương. Tân Đường thư còn chép chuyện ông bị nước lũ vây nhiều ngày, được quan huyện Lỗi Dương đem thịt bò, rượu đến, ăn uống xong thì mất qua đêm; các nhà nghiên cứu hiện nay phần lớn không tin chuyện này. Linh cữu ông tạm gửi ở Nhạc Dương; mãi đến năm 813, cháu nội ông mới đưa được về chôn ở Yển Sư, Hà Nam, và nhờ nhà thơ Nguyên Chẩn viết bài minh trên mộ.
Trong bài minh ấy, Nguyên Chẩn viết: “Thi nhân dĩ lai, vị hữu như Tử Mỹ giả” (từ khi có thi nhân đến nay, chưa ai được như Tử Mỹ). Lúc sống, thơ ông không được chuộng bằng nhiều người cùng thời. Phải đến đời Trung Đường và đời Tống, khi các nhà thơ như Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn, rồi Tô Thức, Hoàng Đình Kiên đọc lại, Đỗ Phủ mới thành người thầy của luật thi. Ảnh hưởng ấy vượt ra ngoài Trung Quốc. Ở Việt Nam, trên đường đi sứ, Nguyễn Du ghé mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương và để lại hai bài thơ chữ Hán Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ trong tập Bắc hành tạp lục (1813 – 1814). Ở Nhật Bản, Ba-sô đứng trước tàn tích Hiraizumi đã nhắc lại câu “nước mất, núi sông còn” của Xuân vọng trong tập du ký nổi tiếng của mình.
Một người cả đời không đỗ đạt, chức quan cao nhất chỉ là một gián quan nhỏ, chết trên con thuyền giữa sông, nhưng hơn một nghìn bài thơ ông để lại đã thành cuốn sổ ghi chép trung thực nhất về một thời loạn. Vì thế, đọc Thu hứng cũng là nghe một con người nói về đất nước mình bằng giọng trầm và chậm, giữa một mùa thu xa quê.
Xem thêm: