Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt là bài Viết của Ngữ văn 6 ở cả ba bộ sách: Bài 5 Những nẻo đường xứ sở (Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập một), Bài 5 Trò chuyện cùng thiên nhiên (Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập một) và Bài 9 Truyện (Ngữ văn 6 Cánh diều, tập hai). Trang này gom yêu cầu của kiểu bài theo SGK, một dàn ý dùng chung, 12 bài văn mẫu tả 12 cảnh khác nhau ở trường, trong nhà, ngoài đồng, trên sông và giữa phố, kèm những lỗi hay gặp để em tránh khi tự viết.

Yêu cầu của kiểu bài tả cảnh sinh hoạt
Tả cảnh sinh hoạt là tả con người đang làm một việc gì đó trong một không gian và thời gian cụ thể: lao động, học tập, vui chơi, mua bán, đón Tết, dự lễ hội. Bài văn khác tả cảnh thiên nhiên ở chỗ trung tâm không phải sông núi, cây cỏ mà là hoạt động của người; khác tả người ở chỗ em không dừng lại ở một gương mặt mà vẽ lại cả một đám đông đang chuyển động, cùng không khí chung của nó. Có thể dùng bảng dưới đây để tự chấm bài trước khi nộp.
| Tiêu chí | Bài đạt khi |
|---|---|
| Giới thiệu cảnh | Mở bài cho biết đó là cảnh gì, diễn ra ở đâu, vào lúc nào, em quan sát hay trực tiếp tham gia. |
| Quang cảnh chung | Có vài câu tả bao quát: không gian rộng hẹp, đông hay vắng, âm thanh và màu sắc nổi bật, không khí (náo nức, khẩn trương, ấm cúng…). |
| Hoạt động cụ thể | Tả rõ việc làm, cử chỉ, lời nói của vài người tiêu biểu bằng động từ, tính từ chính xác, không chỉ kể tên việc. |
| Trình tự hợp lí | Theo thời gian (trước – trong – sau), theo không gian (xa – gần, ngoài – trong) hoặc từ toàn cảnh đến chi tiết; người đọc không bị lạc. |
| Phối hợp giác quan | Có cái nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, cảm thấy trên da, không chỉ có màu sắc. |
| Từ ngữ và biện pháp tu từ | Dùng từ gợi hình, gợi thanh; có so sánh, nhân hóa vừa phải, đúng chỗ. |
| Cảm xúc, suy nghĩ | Cảm xúc của người viết đan trong bài và được nói rõ hơn ở kết bài, gắn với một chi tiết cụ thể. |
| Bố cục | Đủ ba phần mở bài – thân bài – kết bài; mỗi ý một đoạn. |
Điểm riêng của từng bộ sách:
- Kết nối tri thức (tập một, trang 122–125): bài viết tham khảo tả một phiên chợ ở vùng cao. SGK gợi ý các đề tài như chợ cá bên bờ biển, Tết Trung thu ở quê, cảnh thu hoạch mùa màng, gói bánh chưng ngày Tết, một lễ hội ở địa phương; khi tìm ý, em ghi lại cảnh diễn ra lúc nào, ở đâu, toàn cảnh trông ra sao, có những ai và họ làm gì, nói gì.
- Chân trời sáng tạo (tập một, từ trang 124): văn bản mẫu viết về một phiên chợ nổi, đi từ toàn cảnh mặt sông đến từng hoạt động mua bán; người viết ngồi trên xuồng máy nên điểm nhìn di chuyển được. Đề thực hành yêu cầu tả một cảnh sinh hoạt em đã được chứng kiến hoặc tự mình tham gia. Cùng bài có mục Nói và nghe Trình bày về một cảnh sinh hoạt.
- Cánh diều (tập hai, từ trang 80): phần định hướng xem đây là kiểu bài miêu tả một người hoặc nhiều người đang làm việc, học tập, vui chơi, chơi thể thao, đi du lịch hay dự lễ hội; điều quan trọng là cho thấy hoạt động diễn ra theo các bước thế nào. Bài thực hành chọn đề tài là một trận bóng đá em từng xem.
Dàn ý bài văn tả cảnh sinh hoạt
1. Mở bài
- Giới thiệu cảnh sinh hoạt: cảnh gì, diễn ra ở đâu, vào lúc nào.
- Em đứng xem hay cùng tham gia; ấn tượng đầu tiên (một âm thanh, một màu sắc, một câu nói của ai đó).
2. Thân bài
- Tả bao quát: không gian, thời tiết, số người, không khí chung của cảnh.
- Tả cụ thể theo trình tự đã chọn: từng nhóm người, từng hoạt động; chọn 2–3 người tiêu biểu để tả kĩ dáng vẻ, động tác, lời nói.
- Đan âm thanh, mùi vị, màu sắc, cảm giác; dùng so sánh, nhân hóa để cảnh hiện lên rõ.
- Tìm một chi tiết riêng mà chỉ cảnh em tả mới có, để bài của em không giống bài của bạn.
- Xen cảm xúc của em ở từng lúc; nếu em tham gia thì kể em đã làm gì.
- Tả cảnh lúc kết thúc: người ra về, không gian lặng dần, dấu vết còn lại.
3. Kết bài
- Cảm nghĩ về cảnh sinh hoạt; điều em nhận ra về con người, nơi em sống.
- Một hình ảnh còn đọng lại hoặc mong muốn của em.
Ba cách sắp xếp thân bài
| Trình tự | Hợp với cảnh | Mẫu trong trang |
|---|---|---|
| Theo thời gian: trước – trong – sau hoạt động | Cảnh có diễn biến rõ: thi đấu, gói bánh, phiên chợ, chạy mưa | Mẫu 3, 5, 6, 7, 8, 9 |
| Theo không gian: xa – gần, chỗ này – chỗ kia | Cảnh rộng, nhiều nhóm người cùng lúc: sân trường, cổng trường, quanh hồ | Mẫu 1, 4, 12 |
| Từ toàn cảnh đến chi tiết | Cảnh đông người, cần cho người đọc thấy toàn cảnh trước: lễ hội, đồng diễn, đồi chè | Mẫu 2, 10, 11 |
Dàn ý chi tiết: phiên chợ cá trên bãi biển
- Mở bài: theo bà ngoại đi chợ cá ở làng chài lúc tờ mờ sáng, khi thuyền đánh đêm trở về.
- Thân bài: trời còn tối, gió lạnh và mặn, người đứng chờ trên bãi cát; thuyền về, thanh niên lội xuống kéo thuyền, chuyền cá lên bờ; cá đổ ra bạt: màu, hình dáng từng loại, mùi; cảnh mua bán: tiếng trả giá, bà chọn cá, chủ thuyền cân cá; góc khác: trẻ con nhặt cá rơi, ông lão vá lưới; mặt trời lên, chợ đông nhất, xe chở cá đi.
- Kết bài: chợ tan, bãi cát vắng, chim biển sà xuống; nghĩ về những người đi biển suốt đêm qua.
Bài văn tả cảnh sinh hoạt ở trường
Trường học có rất nhiều cảnh sinh hoạt để tả, nhưng chào cờ và giờ ra chơi bình thường thì bạn nào cũng viết. Bốn bài dưới đây chọn những khoảnh khắc hẹp hơn để có chi tiết riêng.
Mẫu 1: Sân trường giờ ra chơi sau cơn mưa rào
Cơn mưa rào đổ xuống giữa tiết Toán thứ hai, ào ào như ai dội nước lên mái tôn nhà xe, rồi tạnh hẳn đúng lúc trống ra chơi điểm ba hồi. Lớp 6A3 chúng em ùa ra hành lang, đứa nào cũng thò đầu qua lan can nhìn xuống xem cơn mưa đã để lại những gì.
Sân trường loáng nước. Mấy vũng nước đọng dưới gốc phượng in cả khoảng trời vừa được rửa sạch, xanh và trong. Lá phượng li ti bám đầy mặt gạch đỏ như ai vừa rắc cốm. Bác bảo vệ cầm chổi tre ra đầu sân, quét nước dồn về phía rãnh, tiếng chổi soàn soạt nghe rất vui tai.
Đám con trai lớp em không chịu đứng trên cao. Thành, Quân và Bảo chạy xuống trước, xắn ống quần lên tận gối, tranh nhau dẫm vào vũng nước to nhất cho nước bắn tung tóe. Mấy bạn nữ lớp bên thì cẩn thận hơn: các bạn tìm khoảng sân cao ráo cạnh bồn hoa để nhảy dây, mỗi lần sợi dây quất xuống lại bắn lên mấy giọt nước nhỏ. Dưới mái hiên nhà đa năng, vài anh lớp 9 đứng ăn bánh mì, bàn nhau trận bóng chiều nay chắc phải hoãn.
Em với Ngọc Anh ngồi xổm cạnh bồn cây bàng. Hai đứa phát hiện một chú ốc sên đang bò chậm rãi trên thành bồn, để lại một vệt sáng óng ánh. Ngọc Anh đặt một chiếc lá nhỏ chắn đường xem nó có rẽ không. Ốc sên ngập ngừng, rụt râu lại, rồi lặng lẽ bò vòng qua, khiến chúng em cười khúc khích.
Không khí sau mưa mát rượi, có mùi đất ẩm lẫn mùi lá bàng non. Tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng dép lẹp xẹp trên sân ướt hòa thành một thứ âm thanh rộn ràng. Có bạn trượt chân suýt ngã, cả đám vừa kêu vừa cười.
Trống vào lớp vang lên. Đám con trai lục tục chạy về, ống quần ướt sũng, mặt đỏ hồng. Em quay lại nhìn sân trường một lần nữa: vũng nước dưới gốc phượng đã lặng, chỉ còn in bóng một đám mây trắng đang trôi rất chậm.
Mẫu 2: Buổi tập đồng diễn chuẩn bị Hội khỏe Phù Đổng
Ba tuần trước ngày khai mạc Hội khỏe Phù Đổng cấp trường, cứ chiều thứ ba và thứ năm, sân trường em lại biến thành một bàn cờ khổng lồ. Hơn ba trăm học sinh khối 6 và khối 7 tập bài đồng diễn thể dục với hoa giấy.
Nhìn từ tầng ba xuống, chắc cảnh tập trông rất đẹp mắt. Mặt sân được kẻ phấn thành những ô vuông đều nhau, mỗi ô là chỗ đứng của một người. Các lớp mặc áo trắng, quần xanh, tay cầm hai bông hoa giấy, lớp đỏ, lớp vàng, xếp thành những khối màu xen kẽ. Chiếc loa đặt trên bậc thềm phát nhạc rộn rã, hết mỗi đoạn lại có tiếng thầy Hưng dạy thể dục đếm nhịp vào micro.
Nhưng đứng trong hàng thì chuyện không đơn giản như vậy. Em đứng ở ô thứ tư, hàng thứ bảy, kẹp giữa Minh Thư cao hơn em một cái đầu và Tuấn Anh lúc nào cũng nhanh hơn nhạc nửa nhịp. Động tác đầu tiên là giơ hai tay lên cao, hai bông hoa chụm lại thành hình chữ V. Cả khối giơ lên cùng lúc, mặt sân bừng lên một lớp sóng đỏ vàng. Đến động tác xoay người sang trái thì sóng bắt đầu vỡ: vài bạn xoay sang phải, đứng đối mặt nhau ngơ ngác, mấy hàng phía sau bật cười.
Thầy Hưng không quát. Thầy bước xuống giữa sân, mượn hai bông hoa của một bạn lớp 7, làm mẫu thật chậm từng động tác. Dáng thầy thẳng như cây sào, mỗi lần đưa tay ra đều dứt khoát, gọn gàng, đến bông hoa giấy trong tay thầy trông cũng cứng cáp hơn. Thầy dặn chúng em nhìn vai bạn bên cạnh mà giữ hàng, đừng cúi xuống nhìn chân.
Chúng em tập lại. Lần thứ hai đỡ hơn. Lần thứ ba, khi nhạc chuyển sang đoạn nhanh, cả khối cùng ngồi xuống rồi bật dậy, giơ hoa lên trời. Em nghe rõ tiếng giấy kim tuyến sột soạt quanh mình, tiếng giày bata dậm xuống mặt sân cùng một lúc, nghe như một tiếng trống lớn. Ngoài hành lang, mấy anh chị lớp 9 đứng xem, có người vỗ tay.
Nắng chiều ngả sang màu mật ong. Mồ hôi chảy ròng ròng sau gáy, áo dính vào lưng, hai tay mỏi nhừ vì giơ hoa mãi. Cô Lan tổng phụ trách đi dọc các hàng, phát cho mỗi lớp một thùng nước lọc. Chúng em ngồi bệt xuống ô phấn của mình, vừa uống nước vừa chỉ cho nhau chỗ ai sai.
Lúc tan tập, những ô phấn trên sân đã nhòe đi vì bao nhiêu bước chân. Em ôm hai bông hoa giấy đã hơi xơ, chợt nghĩ: muốn hơn ba trăm người cùng giơ tay lên một lúc thì ai cũng phải chịu nhìn vai người đứng cạnh mình.
Mẫu 3: Trận chung kết kéo co khối 6
Tiếng còi của thầy trọng tài vừa dứt, sợi dây thừng to bằng cổ tay đã căng lên như dây đàn. Trận chung kết kéo co khối 6 giữa lớp em, 6A1, với lớp 6A4 chính thức bắt đầu.
Sân bóng chuyền của trường chật kín người. Học sinh các lớp đứng thành hai vòng quanh sân, nhiều bạn trèo cả lên bậc xi măng của nhà đa năng để nhìn cho rõ. Giữa sân, một vạch vôi trắng chia hai bên. Mỗi đội mười bạn, năm nam năm nữ, đứng nghiêng người, hai chân chống chéo, tay nắm chặt sợi dây có buộc một dải vải đỏ ở chính giữa.
Đội lớp em do Hùng đứng đầu. Hùng thấp nhưng chắc nịch, hai bàn chân như cắm xuống đất, mặt đỏ gay. Cuối dây là Phương, bạn nặng cân nhất lớp, quấn dây một vòng quanh hông rồi ngả hẳn người ra sau như một quả tạ. Bên kia, đội 6A4 cao hơn hẳn, nhất là bạn lớp trưởng đứng đầu dây với đôi tay dài ngoằng.
Dải vải đỏ nhích dần về phía 6A4. Một bước. Hai bước. Lòng em thắt lại. Em đứng ngoài, cùng cả lớp hô theo nhịp tay của Thảo lớp trưởng: mỗi tiếng hô là một lần cả đội giật mạnh. Tiếng hô của hai lớp đuổi nhau, át cả tiếng loa. Có lúc sợi dây đứng im, hai đội gồng mình, mấy bạn nữ cắn chặt môi, mu bàn tay trắng bệch.
Sang phút thứ hai, đúng lúc 6A4 lấy hơi để giật tiếp, Hùng hét lên một tiếng, cả đội cùng lùi một bước dài. Dải vải đỏ trượt qua vạch vôi. Đội bạn chới với, mấy người ngã chồng lên nhau, bụi đất bay mù. Thầy trọng tài thổi một hồi còi dài.
Cả lớp em ùa vào sân, ôm nhau nhảy loạn xạ. Nhưng cảnh em thấy đẹp nhất lại đến sau đó: Hùng chạy sang kéo bạn lớp trưởng 6A4 đứng dậy, hai bạn phủi đất cho nhau rồi cùng cười. Sợi dây thừng nằm dài trên sân, dải vải đỏ đã sờn, vẫn còn ấm hơi tay của hai mươi người.
Mẫu 4: Cổng trường giờ tan học nhìn từ tầng ba
Hôm ấy đến lượt tổ em trực nhật, nên khi trống tan học buổi chiều vang lên, em vẫn đứng bên cửa sổ tầng ba, tay cầm giẻ lau bảng, và nhìn thấy cổng trường từ trên cao.
Con đường trước cổng như một dòng sông nhỏ đang lên nước. Xe máy của phụ huynh đỗ thành hai hàng dài dọc vỉa hè, xe nọ sát xe kia, những chiếc mũ bảo hiểm đủ màu nhấp nhô như một luống hoa. Cánh cổng sắt vừa mở, học sinh tràn ra, áo trắng lẫn vào nhau.
Ở gần cổng, mỗi người một vẻ. Một em lớp 6 đeo chiếc cặp to gần bằng người, kiễng chân tìm bố, rồi reo lên khi thấy chiếc áo mưa màu cam quen thuộc. Một bà cụ tóc bạc dắt xe đạp đứng sát gốc cây sấu, chờ đứa cháu. Hai bạn nữ khoác tay nhau đi chậm thật chậm, như còn chuyện chưa kể xong. Chú công an phường đứng giữa đường, tay cầm gậy chỉ hướng, thỉnh thoảng thổi một tiếng còi ngắn để dòng xe khỏi rối.
Bên kia đường, quán nước mía của cô Hạnh bắt đầu đông. Tiếng máy ép kêu rè rè, mùi nước mía ngòn ngọt hình như bay lên được tận tầng ba. Mấy bạn nam chen nhau trước xe xúc xích, tay cầm tiền lẻ giơ cao.
Chỉ chừng mười lăm phút, dòng sông ấy rút dần. Hàng xe thưa đi, bác bảo vệ khép một cánh cổng. Chỉ còn bà cụ vẫn đứng ở gốc sấu. Rồi một cậu bé chạy ào ra, sà vào lòng bà. Em nhìn theo hai bà cháu khuất ở đầu ngõ và tự hỏi: không biết bà đã đứng đợi như thế bao nhiêu buổi chiều rồi?
Bài văn tả cảnh sinh hoạt trong gia đình
Cảnh trong nhà dễ viết nhưng cũng dễ nhạt, vì bạn nào cũng có bữa cơm và ngày Tết. Hai bài dưới đây chọn những dịp cả nhà cùng tay làm một việc (nặn bánh ngày Tết Hàn thực, canh nồi bánh chưng đêm 28 Tết) để cảnh có chuyện xảy ra.
Mẫu 5: Cả nhà nặn bánh trôi, bánh chay ngày Tết Hàn thực
Sáng mồng ba tháng Ba âm lịch, em được nghỉ học vì trùng ngày Chủ nhật, nên theo mẹ về nhà bà ngoại từ sớm. Bà bảo hôm nay là Tết Hàn thực, nhà nào trong xóm cũng nặn bánh trôi, bánh chay để thắp hương. Nhà bà đông người nhất xóm, nên gian bếp nhỏ chẳng mấy chốc đã chật ních.
Bà ngoại ngồi giữa, trước mặt là cái mâm nhôm to đựng khối bột nếp trắng mịn đã ngâm, xay và để ráo từ tối hôm trước. Bà nhào bột bằng cả hai bàn tay, thỉnh thoảng lại vẩy thêm vài giọt nước ấm, cho đến khi khối bột dẻo quánh, ấn ngón tay vào không còn dính. Bên trái bà, mẹ và dì Út ngồi chẻ những thanh đường phên nâu sẫm thành từng viên nhỏ bằng đầu ngón tay út. Bên phải, mợ đang giã đỗ xanh đã đồ chín, mùi đỗ bùi bùi tỏa khắp gian bếp.
Việc của bọn trẻ con là nặn bánh trôi. Bà ngắt cho mỗi đứa một nắm bột, dạy ấn dẹt ra trong lòng bàn tay, đặt viên đường vào giữa rồi khép lại, xoe tròn. Em làm cái đầu tiên, viên đường lòi ra một góc. Cái thứ hai tròn hơn nhưng to gần bằng quả trứng gà. Thằng Tũn, con dì Út, mới lên năm, nặn được cái nào là giơ lên khoe cái ấy, bột dính đầy hai má trắng như hề. Cả nhà cười ầm, ông ngoại ở nhà trên cũng nói vọng xuống hỏi có chuyện gì mà vui thế.
Bánh chay thì người lớn làm. Viên to hơn, nhân đỗ xanh vo tròn, nặn xong xếp thẳng hàng trên chiếc nong tre lót lá chuối. Nhìn hai mâm bánh đặt cạnh nhau, một mâm viên nhỏ li ti, một mâm viên to tròn, trông như đàn con và đàn mẹ.
Gần trưa, mẹ bắc nồi nước to lên bếp. Nước sôi sùng sục, bà thả bánh vào từng mẻ. Lúc đầu bánh chìm hết xuống đáy nồi. Một lúc sau, từng viên một nổi lên, lăn tròn trên mặt nước. Bà bảo bánh nổi là bánh chín, rồi lấy cái muôi thủng vớt ra, thả ngay vào chậu nước lạnh cho bánh không dính vào nhau. Những viên bánh trôi trắng ngần, căng bóng, viên nào ló chút màu nâu của đường bên trong. Bánh chay được múc ra bát, chan nước đường thắng thơm mùi gừng, rắc lên ít vừng rang vàng.
Bát bánh đầu tiên được đặt lên bàn thờ. Bà thắp hương, khấn khẽ, cả nhà đứng phía sau. Xong rồi mới đến lượt mọi người. Thằng Tũn nhất định đòi ăn đúng cái bánh méo nó nặn. Còn em được bà bỏ vào bát cái bánh to bằng quả trứng của mình, cắn một miếng, đường chảy ra nóng bỏng đầu lưỡi mà vẫn không nỡ nhả.
Chiều về, trên đường đi, em cứ nhìn vào hai bàn tay vẫn còn thơm mùi bột nếp. Ở nhà mình trên phố, chẳng mấy khi cả nhà ngồi quây quần nặn từng viên bánh như thế. Em nhủ thầm, năm sau nhất định sẽ nặn được một cái bánh trôi tròn xoe, không lòi đường, để bà khen.
Mẫu 6: Gói và luộc bánh chưng đêm 28 Tết
Đêm 28 Tết năm nào, nhà bác cả em cũng thơm mùi lá dong. Năm nay em được ông cho ngồi gói bánh cùng người lớn, chứ không chỉ chạy quanh đưa lạt như mọi năm.
Từ đầu giờ chiều, sân gạch nhà bác đã bày la liệt. Lá dong xếp thành chồng cao, chiếc nào cũng được rửa sạch, lau khô từng mặt, gân lá xanh thẫm, bóng như được đánh sáp. Gạo nếp ngâm từ đêm trước, để ráo trong chiếc rổ to, hạt nào cũng trắng mẩy. Đậu xanh đồ chín, bác gái nắm thành từng nắm tròn vàng ươm. Thịt ba chỉ thái miếng dày, ướp hạt tiêu và hành khô, thơm hăng hắc. Cạnh đó là bó lạt giang mảnh như sợi chỉ, đã chẻ và ngâm cho mềm.
Bốn giờ chiều, mọi người ngồi thành vòng tròn trên tấm chiếu trải giữa sân. Ông nội ngồi chính giữa. Ông gói không cần khuôn. Ông xếp lá chéo nhau thành hình chữ thập, vuốt mép lá cho vuông, đổ một bát gạo dàn mỏng, đặt nắm đậu, miếng thịt, rồi lại đậu, lại gạo. Đôi bàn tay nhăn nheo, nổi gân của ông gấp từng mép lá thoăn thoắt, ấn bốn góc cho sắc rồi buộc lạt. Chưa đầy năm phút, một chiếc bánh vuông vức đã nằm trên chiếu, cạnh nào cũng thẳng như kẻ chỉ.
Bố em và chú Toàn dùng khuôn gỗ, gói chậm hơn nhưng bánh cũng rất đều. Mẹ và bác gái ngồi bên mâm, lo phần đong gạo, chia đậu. Mấy anh chị họ, người tước lạt, người xếp bánh vào thúng. Còn em, ông giao cho gói mấy chiếc bánh nhỏ bằng bàn tay cho trẻ con trong họ.
Chiếc bánh đầu tiên của em méo xệch, một góc phồng lên, góc kia lép kẹp, lạt buộc lệch hẳn sang một bên. Anh Khoa trêu bánh của em trông như cái gối bị ngồi bẹp. Ông không cười. Ông cầm tay em, chỉ cách gấp mép lá cho kín, cách dùng ngón cái miết dọc cạnh bánh. Đến chiếc thứ tư, bánh của em đã ra dáng vuông, dù vẫn nhỏ hơn bánh của ông cả một vòng.
Trời sẩm tối, gió bấc thổi từng cơn lạnh buốt. Bố và chú Toàn kê ba hòn gạch làm bếp ở góc sân, bắc lên chiếc nồi nhôm to, đáy đã đen bóng sau mấy chục cái Tết. Bánh được xếp vào nồi thành từng lớp ngay ngắn. Bác cả đổ nước ngập bánh, chặn lên trên mấy viên gạch để bánh khỏi nổi. Những thanh củi nhãn khô bén lửa, nổ lách tách, ánh lửa đỏ hắt lên mặt mọi người.
Bánh phải luộc suốt mười tiếng. Sau bữa tối, người lớn thay nhau canh nồi. Cả nhà kéo ghế nhựa ngồi quây quanh bếp. Mẹ vùi mấy củ khoai lang vào tro, lúc bới ra vỏ cháy xém, bẻ đôi thì ruột vàng ruộm, nóng bỏng tay. Ông kể những năm xưa cả xóm chung nhau mấy nồi bánh, đêm 28 trẻ con nằm ngủ ngay cạnh bếp. Thỉnh thoảng bác cả lại mở vung, múc nước sôi đổ thêm, hơi nước bốc lên trắng xóa, mang theo mùi lá dong chín ngai ngái mà dịu.
Khoảng mười giờ, bác cả giao cho em và anh Khoa giữ lửa. Hai anh em ngồi xổm trước miệng bếp, thay nhau đẩy củi vào. Củi đẩy sâu quá thì lửa bùng lên liếm cả thành nồi, rút ra nhiều quá thì lửa lụi, chỉ còn than đỏ âm ỉ. Anh Khoa bày em đặt hai thanh củi chụm đầu vào nhau cho lửa cháy đều. Khói cay xè làm em chảy nước mắt, mặt nóng ran trong khi lưng vẫn lạnh vì gió bấc.
Em định thức đến lúc vớt bánh, nhưng mắt cứ díp lại. Gần mười hai giờ, em ngủ gục trên vai mẹ, người khoác chiếc áo bông của bố. Trong giấc ngủ chập chờn, em vẫn nghe tiếng củi nổ và tiếng ông nói chuyện rì rầm.
Sáng hôm sau, bánh đã được vớt ra, rửa sạch, ép dưới tấm phản cho ráo nước. Giữa hàng bánh vuông vắn của ông có bốn chiếc bánh bé xíu, hơi méo, của em. Ông bảo năm sau sẽ cho em gói bánh to. Đống tro trong bếp gạch vẫn còn âm ấm, em chìa hai bàn tay lạnh cóng ra hơ, và bắt đầu đếm ngược đến đêm 28 năm sau.
Bài văn tả cảnh lao động ở làng quê
Cảnh lao động có sẵn rất nhiều động tác, âm thanh, mùi vị để tả. Điều cần nhớ là tả người đang làm việc, đừng biến bài văn thành bài giới thiệu cách làm.
Mẫu 7: Chợ cá làng chài lúc thuyền về
Bốn giờ sáng, em bị đánh thức bởi tiếng máy nổ phành phạch từ ngoài khơi vọng vào. Bà ngoại đã dậy từ lâu, đội chiếc nón cũ, xách đôi thúng ra cửa. Hè năm ấy về quê ngoại, em nằng nặc đòi bà cho đi xem chợ cá, phiên chợ chỉ họp trên bãi cát mỗi sớm khi thuyền đánh đêm trở về.
Trời còn tối, nhưng ở phía đông, một vệt sáng màu hồng nhạt đã kéo dài trên mặt biển. Gió biển thổi lạnh và mằn mặn, làm em phải rụt tay vào trong áo khoác. Bãi cát ban ngày vắng vẻ, lúc này đã lố nhố người. Các bà, các chị đội nón, quấn khăn kín mặt, đứng thành từng tốp, mắt hướng ra khơi. Những chiếc xe máy chở thùng xốp đỗ sát hàng phi lao. Ánh đèn pin, đèn điện thoại chiếu loang loáng như đom đóm.
Rồi thuyền về. Đầu tiên là một chấm đèn nhỏ, sau đó là hai, ba, rồi cả một hàng đèn lắc lư trên sóng. Những chiếc thuyền gỗ sơn xanh, mũi vẽ đôi mắt tròn, rẽ sóng tiến vào bờ. Tiếng máy tắt dần. Thuyền chưa cập hẳn, mấy anh thanh niên đã nhảy ùm xuống nước ngập đến thắt lưng, kéo dây, đẩy mạn thuyền vào sát bãi. Từ trên thuyền, người ta chuyền xuống những chiếc rổ nhựa đầy ắp cá.
Chợ họp ngay trên cát, không lều quán, không sạp hàng. Cá được đổ ra những tấm bạt xanh trải tạm, đổ đến đâu, ánh bạc lấp lánh đến đấy. Cá nục tròn mình, lưng xanh, bụng trắng; cá trích nhỏ, mảnh như những chiếc lá liễu; mấy con mực ống trong suốt, thân còn ánh lên những đốm tím đỏ, râu khẽ co lại. Ở một góc, mấy rổ ghẹ xanh giơ càng quờ quạng, con nào bò ra ngoài lại bị một bàn tay gạt vào. Mùi tanh nồng của cá tươi, mùi muối biển, mùi dầu máy trộn vào nhau, nồng đến mức em phải hít vào từng hơi ngắn.
Người mua vây quanh từng tấm bạt. Tiếng hỏi giá, trả giá, tiếng gọi nhau í ới, có cả tiếng cãi qua lại xem ai đến trước, ai đến sau. Bà ngoại em len vào giữa đám đông, ngồi xổm xuống, bốc một con cá nục lên tay, ấn ngón cái vào bụng cá, lật mang ra xem. Mang đỏ tươi, bụng chắc, bà gật gù. Chú chủ thuyền da đen bóng, chiếc áo thun bạc phếch còn ướt sũng, vừa cân cá vừa đọc số, giọng khàn khàn vì gió. Chiếc cân đồng hồ còn chao qua chao lại, bà đã nhẩm xong tiền.
Ở mép nước, cảnh còn nhộn nhịp hơn. Mấy đứa trẻ trong làng, có đứa chỉ trạc tuổi em, chạy tới chạy lui nhặt những con cá nhỏ rơi vãi bỏ vào xô. Một ông lão ngồi trên mạn chiếc thuyền đã kéo lên cạn, lặng lẽ vá những mắt lưới rách. Đôi tay ông luồn con suốt qua lại thoăn thoắt, chẳng cần nhìn. Em đứng xem mãi, đến khi bà gọi mới chạy lại.
Khi mặt trời nhô lên khỏi mặt biển, đỏ rực như một hòn than, chợ cũng đến lúc đông nhất. Nắng sớm rọi xuống những tấm bạt, làm cá lấp lánh như vừa được rắc kim tuyến. Trán người bán, người mua bóng mồ hôi. Những thùng xốp được đóng nắp, chằng dây lên xe máy, nối nhau chạy về phía chợ huyện. Tiếng xe nổ máy, tiếng còi bấm vội lẫn với tiếng sóng.
Chưa đầy hai tiếng, chợ tan. Bãi cát chỉ còn những vết chân chi chít, mấy tấm bạt ướt và vài con cá nhỏ bị bỏ sót. Lũ chim biển sà xuống, mổ lia lịa. Những chiếc thuyền nằm nghiêng trên cát, như những người thức trắng đêm qua đang ngủ thiếp đi. Bà ngoại gánh đôi thúng cá đi trước, em lon ton theo sau, áo khoác đã ngấm đầy mùi biển.
Về nhà, trong lúc bà kho nồi cá nục với nước mắm và gừng, em nghĩ đến những người đàn ông đã ở ngoài khơi suốt đêm qua. Bữa cơm trưa hôm ấy, miếng cá nào em ăn cũng như còn vương vị mặn của buổi sớm trên bãi cát.
Mẫu 8: Cả xóm dọn kênh sáng Chủ nhật
Sáu giờ sáng Chủ nhật, cái loa trên cột điện đầu xóm rè rè mấy tiếng rồi vang lên giọng bác trưởng thôn, nhắc mỗi nhà cử ít nhất một người ra dọn con kênh sau làng. Bố em đi công tác, mẹ phải trông hàng, thế là em được cử. Em cứ tưởng mình sẽ là người nhỏ nhất, hóa ra con kênh sáng hôm ấy đông vui như có đám.
Con kênh chạy dọc sau xóm, dài chừng vài trăm mét, là nơi lấy nước tưới cho cánh đồng phía tây. Mấy tháng nay, bèo tây mọc kín mặt nước, xanh rì như một tấm thảm, chỗ nào hở ra thì lềnh bềnh túi ni lông, vỏ chai, cả một chiếc dép tổ ong lẻ loi. Nước bên dưới đen đục, có gió là bốc mùi khó chịu.
Khi em ra đến nơi, hai bên bờ đã có hơn chục người. Các chú thanh niên mặc quần đùi, đi ủng cao su, lội hẳn xuống kênh, nước ngập đến bụng. Họ dùng cào sắt và những cây sào tre dài móc vào đám bèo rồi kéo vào bờ. Mỗi lần kéo, cả một mảng bèo dập dềnh trôi theo, rễ dài lòng thòng, đen sì bùn. Trên bờ, các cô các bác dùng chĩa hất bèo lên thành từng đống. Bác Tư bán tạp hóa đứng ở đầu kênh vừa làm vừa chỉ huy, giọng to hơn cả cái loa lúc sáng.
Bọn trẻ con chúng em được giao nhặt rác. Mỗi đứa một đôi găng tay cao su, một chiếc bao tải. Chúng em đi dọc bờ, nhặt vỏ chai nhựa, gỡ túi ni lông mắc trong rễ bèo. Thằng Tí nhà bên nhặt được một con búp bê không đầu, giơ lên dọa bé Na làm con bé hét ầm lên. Cả bờ kênh phá lên cười. Lát sau, chính thằng Tí lại hét to hơn, vì một con đỉa bám vào bắp chân lúc nó lội xuống mép nước. Chú Hải phải chạy đến gỡ ra, rồi xoa đầu nó, bảo đấy là cái giá của tội dọa con gái.
Gần trưa, nắng bắt đầu gắt. Lưng áo ai cũng ướt đẫm mồ hôi. Các bà, các mẹ mang ra mấy ấm chè xanh, một rổ bánh mì và nồi chè đỗ đen để nguội. Mọi người ngồi nghỉ dưới bóng cây gạo đầu xóm, chân tay lấm lem bùn. Bác trưởng thôn đếm được hơn hai mươi bao rác, ai nghe cũng giật mình. Mấy bác lớn tuổi bàn nhau làm tấm biển cấm đổ rác xuống kênh, còn các chú thanh niên hẹn tháng sau dọn tiếp đoạn cuối.
Buổi chiều, em quay lại bờ kênh. Mặt nước đã thoáng hẳn, soi cả bầu trời và hàng tre bên kia. Vài con cá nhỏ đớp mồi, làm những vòng tròn lan ra. Nước chưa trong hẳn, nhưng gió thổi lên đã mát. Em nhìn đôi bàn tay còn đỏ ửng vì găng cao su, thấy mỏi mà vui. Tối hôm ấy, mẹ khen em là người đàn ông duy nhất của nhà đã có mặt ở bờ kênh, vì bố còn đi vắng.
Mẫu 9: Cả xóm chạy mưa thu thóc ngày mùa
Vào vụ gặt tháng Năm, sân nhà em và cả con ngõ trước cửa lúc nào cũng vàng rực thóc. Nhưng buổi chiều em nhớ nhất trong mùa gặt năm ngoái lại không phải lúc thóc vàng đẹp nhất, mà là lúc cả xóm chạy mưa.
Hôm ấy trời nắng từ sáng. Mặt trời như treo lơ lửng trên ngọn tre, nóng đến nỗi mặt sân gạch bỏng rát bàn chân. Thóc nhà em, nhà bác Thìn bên cạnh và nhà ông Lự đầu ngõ được rải kín mặt sân, kín cả con đường bê tông dẫn ra đồng. Cứ chừng nửa tiếng, bà em lại đội nón ra, dùng chiếc cào gỗ cào thóc thành những luống dài như những đường kẻ vở, cho thóc khô đều. Hạt thóc vàng óng, mẩy căng, chạm vào lạo xạo. Bụi thóc bay lên làm ngứa ran cổ tay.
Khoảng ba giờ chiều, em đang ngồi làm bài thì nghe bà gọi giật giọng. Chạy ra, em thấy phía tây, một đám mây đen kịt đang cuộn lên, nuốt dần dãy núi xa. Gió nổi, cây nhãn đầu ngõ lật hết lá, trắng xóa. Mấy con gà nháo nhác chạy vào chuồng.
Cả xóm nhốn nháo. Tiếng gọi nhau í ới từ nhà nọ sang nhà kia. Bà em vồ lấy chiếc cào, cào thóc vào giữa sân thành đống. Em chạy đi lấy chổi và xẻng nhựa, vun thóc theo bà. Mẹ đi làm đồng về vừa kịp, quăng cái liềm vào góc sân, vơ lấy những chiếc bao tải. Hai mẹ con, một người giữ miệng bao, một người xúc thóc đổ vào. Thóc trượt trên xẻng, rơi lả tả xuống chân.
Bên kia hàng rào, bác Thìn ở nhà một mình với đứa cháu nhỏ, cuống quýt chẳng biết xoay xở thế nào. Anh Đức con ông Lự dồn xong thóc nhà mình liền chạy sang. Anh kéo tấm bạt lớn trùm lên đống thóc của bác, rồi lấy gạch chặn bốn góc. Mấy người trong xóm lại kéo sang sân nhà em. Không ai bảo ai, thóc nhà nào cũng có người xúm vào thu.
Hạt mưa đầu tiên rơi xuống, to như hạt ngô, đập lộp độp trên tấm bạt. Rồi mưa trút xuống ào ào, trắng xóa cả khoảng sân. Những người đàn ông khiêng bao thóc cuối cùng vào hiên, áo dính bết vào lưng. Em kéo tấm bạt cuối cùng trùm lên mấy bao còn để ngoài, nước mưa quất vào mặt rát như ai ném cát.
Mọi người chạy vào trú dưới hiên nhà em, đứng chen nhau, ai cũng ướt như chuột lột, thở hổn hển. Bà mang ra một ấm chè xanh. Nhìn nhau, ai cũng bật cười. Ông Lự vắt ống quần, kể có năm cả xóm chạy không kịp, thóc ướt mọc mầm trắng cả sân. Bác Thìn cứ cảm ơn mãi, mắt đỏ hoe.
Cơn mưa đến nhanh mà đi cũng nhanh. Chưa đầy nửa giờ sau, nắng lại le lói. Mặt sân gạch ướt loáng, vài hạt thóc sót trong kẽ gạch bóng lên như những hạt vàng. Mùi rơm rạ ẩm và mùi đất bốc lên ngai ngái.
Từ hôm ấy, mỗi lần thấy mây đen kéo về giữa mùa gặt, em lại nhớ cảnh cả xóm bì bõm chạy mưa, nhớ tấm bạt anh Đức trùm lên đống thóc của bác Thìn. Hạt thóc nhà nào cũng được che kín, bởi có bao nhiêu đôi tay cùng chạy.
Mẫu 10: Buổi sớm hái chè trên đồi
Quê nội em ở vùng trung du, nơi những quả đồi tròn trịa nối nhau như những chiếc bát úp, đồi nào cũng xanh mướt chè. Hè năm lớp 6, em theo cô Út đi hái chè lần đầu tiên.
Năm giờ sáng, sương còn giăng trắng thung lũng. Từ cửa nhà nhìn ra, những luống chè chạy vòng quanh sườn đồi như những đường chỉ xanh ai khâu lên đất. Trên các lối mòn, người đi hái chè đã lũ lượt kéo lên, mỗi người một chiếc nón, một chiếc giỏ tre đeo bên hông, áo dài tay, khăn trùm kín cổ. Tiếng nói cười rì rầm lẫn trong tiếng gà gáy từ dưới xóm vọng lên.
Lên đến đồi, mỗi người nhận một luống. Cô Út dạy em chỉ ngắt một búp và hai lá non ngay dưới, người làm chè gọi là một tôm hai lá. Búp chè non mơn mởn, xanh nõn, phủ một lớp lông tơ mịn; sương đọng trên lá lạnh buốt đầu ngón tay. Cô hái bằng cả hai tay, ngón cái và ngón trỏ ngắt nhẹ một cái là búp chè đã nằm gọn trong lòng bàn tay, đầy một nắm lại thả vào giỏ. Tay cô nhanh đến mức em không theo kịp, chỉ nghe những tiếng tách tách khe khẽ, đều đều như mưa nhỏ.
Em hái chậm, có lúc ngắt cả lá già, có lúc làm dập búp. Lá chè cọ vào cổ tay ngưa ngứa. Nhưng em vẫn thích, vì đứng giữa luống chè, mùi lá tươi hăng hăng, mát mát cứ quẩn quanh, hít vào thấy tỉnh cả người.
Mặt trời lên cao, sương tan dần. Cả quả đồi hiện ra rõ nét: những chiếc nón trắng nhấp nhô trên nền xanh, lúc ẩn lúc hiện sau những hàng chè cao ngang ngực. Có người vừa hái vừa hát, giọng ngân dài, người ở luống bên kia hát đối lại. Bà cụ Thoa ở luống cạnh em đã ngoài bảy mươi mà hái vẫn nhanh như người trẻ. Bà bảo bà đi hái chè từ lúc còn bé hơn em bây giờ.
Gần mười giờ, mọi người mang chè xuống đồi, đổ ra những chiếc nong lớn ở nhà cân. Chè được cân, ghi sổ, rồi trải mỏng cho ráo. Giỏ của em được hơn một cân, cô Út bảo lần đầu thế là giỏi.
Chiều hôm ấy, ông nội pha một ấm từ mẻ chè bà vừa sao trên chảo gang. Nước chè xanh vàng, thơm như cốm, vị chát ở đầu lưỡi rồi ngọt dần ở cổ. Em cầm chén chè nóng, nhìn ra quả đồi xanh thẫm trong nắng chiều, chợt hiểu vì sao ông vẫn bảo trong mỗi chén chè có cả một buổi sớm trên đồi.
Bài văn tả cảnh lễ hội và phố phường
Lễ hội đông người và ồn ào nên rất dễ tả lan man. Mẫu 11 đi từ toàn cảnh con đê đến cuộc đua; mẫu 12 thì ngược lại, chỉ là một buổi sáng bình thường nhưng được tả theo một vòng hồ.
Mẫu 11: Hội đua thuyền trên sông quê
Làng em nằm bên một khúc sông rộng. Năm nào cũng vậy, sau rằm tháng Tám, làng lại mở hội đua thuyền. Với người làng em, đó là ngày vui nhất năm, vì cả làng cùng kéo ra sông.
Từ sáng sớm, con đê chạy dọc bờ sông đã đông nghịt người. Có người làng em, người các làng bên, có cả khách từ thị trấn đi xe máy về xem. Ai cũng mặc quần áo đẹp, nhiều cụ bà mặc áo tứ thân màu nâu, các chị thì mặc áo dài. Trên mặt đê, hàng quán mọc lên san sát: hàng kẹo kéo, hàng bóng bay, xe kem, mấy gánh xôi gấc đỏ au. Cờ ngũ sắc cắm dọc bờ, bay phần phật trong gió sông. Chiếc loa của ban tổ chức đặt ở đình làng vang lên những bài dân ca rộn ràng.
Dưới sông, khung cảnh còn rực rỡ hơn. Sáu chiếc thuyền đua của sáu thôn xếp hàng ngang ở vạch xuất phát, mỗi chiếc một màu: đỏ, vàng, xanh, tím… Thuyền dài và hẹp như chiếc lá tre khổng lồ, mũi chạm hình đầu rồng, đuôi cong vút. Mỗi thuyền có hai mươi tay chèo ngồi thành hai hàng, mặc áo cùng màu với thuyền, đầu chít khăn. Giữa thuyền là người đánh trống, cuối thuyền là người cầm lái. Thuyền thôn Đông, thôn em, sơn màu đỏ, người đánh trống là chú Thắng, người to khỏe nhất thôn.
Đúng tám giờ, ba hồi trống lệnh từ đình làng vang lên. Cả con đê như nín thở. Rồi lá cờ đỏ trên thuyền trọng tài phất xuống.
Sáu chiếc thuyền lao vút đi. Mái chèo đồng loạt bổ xuống, nước bắn lên trắng xóa hai bên mạn. Tiếng trống dồn dập, tiếng hò của các tay chèo vang lên theo nhịp. Hai mươi mái chèo vung lên, bổ xuống đều tăm tắp như một chiếc lược chải trên mặt nước. Trên bờ, tiếng reo hò bùng lên. Người ta gọi tên thôn mình, vẫy cờ, vẫy nón, vẫy cả khăn mặt. Em đứng cùng bố trên một gò đất cao, vừa nhảy vừa gào khản cả cổ.
Đường đua là một vòng dài: thuyền phải đi ngược lên phía thượng nguồn, vòng qua chiếc cột cắm cờ giữa sông rồi quay về. Lúc đầu, thuyền xanh thôn Bắc dẫn trước. Đến chỗ vòng cờ, thuyền đỏ thôn em mới đuổi kịp. Người cầm lái thôn em nghiêng hẳn người, ghì chặt mái lái, chiếc thuyền ôm vòng sát cột cờ, vượt lên nửa thân. Cả đoạn đê chỗ em đứng như rung lên vì tiếng hét.
Chặng về là chặng khó nhất. Tay chèo hai thuyền dẫn đầu đã mệt, mồ hôi nhễ nhại, vai áo sẫm màu. Chú Thắng đổi nhịp, đánh trống nhanh hơn, mạnh hơn, mỗi tiếng trống như thúc vào lưng các tay chèo. Họ cúi rạp người, mặt đỏ gay, gân cổ nổi lên, mái chèo bổ xuống nhanh đến mức em không đếm kịp. Hai con thuyền xanh đỏ đuổi nhau sát rạt, mũi thuyền này vừa nhô lên thì mũi thuyền kia đã vượt.
Chỉ còn mấy chục mét. Trên đê, không ai đứng yên được nữa. Một bà cụ bên cạnh em túm chặt tay áo đứa cháu, miệng lẩm bẩm như khấn. Rồi chiếc thuyền đỏ chồm lên một nhịp cuối, đầu rồng chạm vạch đích trước thuyền xanh chừng một sải tay.
Tiếng reo vỡ òa. Các tay chèo thôn em giơ cao mái chèo, có người nhảy ùm xuống sông. Thuyền thôn Bắc chèo lại gần, các chú giơ mái chèo gõ vào mạn thuyền đỏ để chúc mừng. Trên bờ, người ta tung nón, ôm nhau, cười nói ầm ĩ. Bố nhấc bổng em lên vai cho em nhìn rõ chú Thắng đang giơ dùi trống lên trời.
Buổi chiều, lễ trao giải được tổ chức ở sân đình. Phần thưởng chỉ là một lá cờ thêu và mấy thùng bánh kẹo, nhưng người thôn em mừng như được mùa. Các cụ bày mâm cỗ khao, các tay chèo được mời ngồi mâm trên. Chú Thắng hai bàn tay phồng rộp mà vẫn cười suốt.
Chiều muộn, em theo bố ra đê thêm một lần. Khúc sông đã trở lại lặng lẽ. Những chiếc thuyền đua được kéo lên bờ, úp sấp dưới gốc đa, chờ đến hội năm sau. Trên mặt nước chỉ còn mấy chiếc thuyền nan của người đi thả lưới chiều. Em ngồi trên đê, trong tai vẫn văng vẳng tiếng trống của chú Thắng, dồn dập như nhịp tim mình buổi sáng.
Mẫu 12: Buổi sáng quanh hồ trong khu phố
Nhà em ở gần một hồ nước giữa khu đô thị. Sáng Chủ nhật nào em cũng theo bố chạy bộ một vòng quanh hồ, và mỗi vòng chạy là một lần được xem cả khu phố thức dậy.
Năm giờ rưỡi, đèn đường còn sáng, mặt hồ xám bạc, phẳng lặng. Ở góc hồ gần cổng công viên, khoảng hai chục cô bác đã xếp thành ba hàng tập dưỡng sinh. Ai cũng mặc đồ thể thao rộng, tay đưa lên hạ xuống thật chậm theo tiếng nhạc phát ra từ chiếc loa nhỏ đặt trên ghế đá. Bà Tâm hàng xóm nhà em đứng đầu hàng, tóc bạc búi gọn, dáng nhỏ bé mà động tác rất mềm.
Đi tiếp một đoạn là bãi cỏ, nơi các cô chú tập nhảy dân vũ. Nhạc ở đây rộn ràng hơn hẳn, chân tay mọi người lên xuống nhịp nhàng, áo đồng phục đỏ rực một góc. Ngay cạnh đó, mấy ông cụ ngồi đánh cờ tướng trên chiếc bàn đá, người xem đứng vòng trong vòng ngoài, chẳng ai nói gì, thỉnh thoảng mới có tiếng chép miệng.
Sang phía đông hồ, đường chạy đã đông. Một anh thanh niên đeo tai nghe chạy vượt lên, hơi thở đều đặn. Một chị đẩy xe nôi đi bộ, em bé trong xe mở mắt tròn xoe nhìn đàn chim sẻ. Một chú ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, cắm ba chiếc cần câu, mắt không rời phao.
Khi hai bố con về đến chỗ cũ, mặt trời đã nhô lên sau dãy nhà cao tầng. Mặt hồ chuyển từ xám sang hồng rồi lấp lánh vàng. Tiếng xe máy ngoài đường lớn dày dần. Các cô bác tập dưỡng sinh thu dọn loa, chào nhau ra về.
Chỉ một vòng hồ mà em đã gặp bao nhiêu người, mỗi người một cách đón buổi sáng. Em thở ra một hơi dài, mồ hôi rịn trên trán, thấy mình cũng là một phần nhỏ của buổi sáng ấy.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi thường gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Tả trời mây, cây cối quá dài, con người xuất hiện ít | Thiên nhiên chỉ làm nền trong vài câu; phần lớn bài dành cho người và việc họ đang làm. |
| Liệt kê như bản báo cáo: bố làm việc này, mẹ làm việc kia | Chọn 2–3 người tiêu biểu, tả kĩ dáng vẻ, động tác, lời nói; những người còn lại tả lướt. |
| Biến bài tả thành bài kể chuyện | Mỗi bước diễn biến phải đi kèm hình ảnh, âm thanh, màu sắc; câu tả nhiều hơn câu kể. |
| Chỉ dùng mắt để quan sát | Thêm tiếng động, mùi, cảm giác trên da (gió, nắng, nước, hơi nóng của bếp lửa). |
| Trình tự lộn xộn, đoạn trước tả lúc tan, đoạn sau lại quay về lúc bắt đầu | Chọn một trình tự ngay từ dàn ý; dùng từ chuyển như lúc đầu, một lát sau, ở phía bên kia, đến gần hơn. |
| Dùng từ chung chung: đông vui, nhộn nhịp, rất đẹp | Thay bằng chi tiết chứng minh: bao nhiêu người, họ mặc gì, nghe thấy tiếng gì. |
| Kết bài chỉ một câu cảm thán chung | Gắn cảm xúc với một chi tiết cụ thể của cảnh, hoặc kết bằng một hình ảnh còn đọng lại. |
- Ghi nhanh trước khi viết năm cột: thấy gì, nghe gì, ngửi thấy gì, chạm vào thấy thế nào, em nghĩ gì. Cột nào trống thì đó là chỗ bài sẽ nhạt.
- Đặt tên cho người trong cảnh (bác Tư, chú Thắng, thằng Tí): người đọc dễ hình dung và bài văn bớt chung chung.
- Dùng động từ cụ thể: thay chữ làm bằng cào, xúc, vun, ghì, bổ, ngắt, miết… Mỗi động từ đúng là một hình ảnh.
- Chọn một khoảnh khắc hẹp thay vì cả một ngày: giờ ra chơi ngay sau cơn mưa dễ có chi tiết riêng hơn giờ ra chơi nói chung.
- Đọc to bài sau khi viết: câu nào đọc vấp hoặc quá dài thì tách ra; từ nào lặp lại ba lần trong một đoạn thì thay.
- Học cách sắp xếp, đừng học thuộc câu: bài mẫu cho em thấy cách đi từ toàn cảnh đến chi tiết; câu chữ phải là của em, tả cảnh em đã thấy.
Gợi ý bài nói: Trình bày về một cảnh sinh hoạt
Sách Chân trời sáng tạo có mục Nói và nghe cùng đề trong Bài 5. Có thể chuyển bài viết thành bài nói như sau:
- Rút bài viết thành dàn ý gạch đầu dòng ghi trên một tấm phiếu nhỏ; không đọc nguyên bài.
- Mở đầu bằng một câu hỏi hoặc một âm thanh của cảnh để gây chú ý, rồi giới thiệu cảnh ở đâu, khi nào.
- Chỉ chọn 2–3 hình ảnh đặc sắc nhất để nói kĩ; có thể dùng tranh, ảnh hoặc đoạn phim ngắn minh họa.
- Dùng giọng kể lên xuống theo không khí của cảnh: nhanh ở đoạn sôi động, chậm lại ở đoạn lắng; nhìn vào người nghe.
- Kết thúc bằng cảm nghĩ ngắn và mời các bạn hỏi lại hoặc chia sẻ cảnh tương tự.
Đoạn mở đầu bài nói tham khảo: Thưa cô và các bạn, các bạn đã bao giờ đứng trên một con đê và hét đến khản cổ chỉ vì một chiếc thuyền chưa? Mình thì có rồi, ngay rằm tháng Tám vừa qua, ở hội đua thuyền của làng mình. Hôm nay, mình muốn đưa các bạn về con đê ấy, để cùng nghe tiếng trống của chú Thắng và xem chiếc thuyền đỏ của thôn mình vượt lên như thế nào.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu em cần một bài làm trong một tiết kiểm tra, hãy luyện theo các mẫu ngắn (Mẫu 1, 3, 4, 12): một khoảnh khắc, một trình tự, khoảng một trang giấy thi. Nếu muốn học cách tả đám đông và phối hợp nhiều giác quan, hãy đọc kĩ Mẫu 6, 7 và 11, để ý cách bài đi từ toàn cảnh đến từng con người. Còn khi chưa biết chọn cảnh gì, hãy nghĩ đến một việc nhiều người cùng làm mà em đã thật sự có mặt, dù là một buổi dọn kênh hay một buổi nặn bánh ở nhà bà; cảnh em đã thấy tận mắt bao giờ cũng cho nhiều chi tiết hơn cảnh em phải tưởng tượng.
Xem thêm:
- Soạn bài Cô Tô (Kết nối tri thức)
- Soạn bài Hang Én (Kết nối tri thức)
- Soạn bài Cửu Long Giang ta ơi (Kết nối tri thức)
- Soạn bài Lao xao ngày hè (Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Thương nhớ bầy ong (Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Điều không tính trước (Cánh diều)
- Văn mẫu kể lại một trải nghiệm của em (lớp 6)