Khi chép lại cuộc đời Hưng Đạo vương, sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư có một nhận xét đáng chú ý: các danh tướng nhà Trần không chỉ giỏi việc võ, học vấn của Hưng Đạo vương lộ ra ở bài hịch, cũng như học vấn của Phạm Ngũ Lão lộ ra ở câu thơ. Trần Quốc Tuấn (? – 1300) là danh tướng thời Trần, Quốc công Tiết chế chỉ huy quân đội trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 và 1288, và là tác giả bài Hịch tướng sĩ mà học sinh lớp 8 nào cũng đọc. Bài này nhìn ông ở vai trò người cầm bút: ông viết gì, và văn bản nào thực sự còn lại.
Con trai Yên Sinh vương, Quốc công Tiết chế nhà Trần

| Tên thật | Trần Quốc Tuấn |
| Tước hiệu | Hưng Đạo vương, từ năm 1289 là Hưng Đạo Đại vương; dân gian tôn là Đức Thánh Trần |
| Năm sinh – năm mất | Năm sinh chưa rõ (thường ghi 1228 hoặc 1231) – mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) |
| Quê quán, xuất thân | Hoàng tộc nhà Trần; con Yên Sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú; mất tại phủ đệ Vạn Kiếp |
| Thể loại | Văn chính luận chữ Hán (hịch), sách binh pháp |
| Tác phẩm | Dụ chư tì tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ); Binh thư yếu lược (Binh gia diệu lý yếu lược); Vạn Kiếp tông bí truyền thư |
| Trong SGK hiện hành | Hịch tướng sĩ (Ngữ văn 8 KNTT, Ngữ văn 8 Cánh diều, Ngữ văn 10 CTST) |
Chính sử không ghi năm sinh của ông. Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh ghi 1228, nhiều tài liệu học tập ghi 1231, ngoài ra còn những con số khác, đều chưa có căn cứ chắc chắn. Toàn thư chỉ tả ông mặt mũi khôi ngô, sáng dạ khác thường, đọc nhiều sách, giỏi cả văn lẫn võ.
Những mốc chắc chắn hơn đều có trong Toàn thư. Tháng 9 năm 1257, vua Trần Thái Tông cho quân thủy bộ lên giữ biên giới phía bắc, đặt dưới quyền chỉ huy của Quốc Tuấn. Đến tháng 10 năm 1283, ông được phong Quốc công, nắm quyền chỉ huy toàn bộ quân đội. Tháng 8 năm 1284, ông duyệt binh lớn ở bến Đông Bộ Đầu. Sau thắng lợi năm 1288, đến tháng 4 năm 1289 ông được tiến phong Đại vương.
Một bài hịch viết cho các tì tướng
Tên gốc của bài văn là Dụ chư tì tướng hịch văn (諭諸裨將檄文), nghĩa là bài hịch răn bảo các tướng dưới quyền. “Hịch tướng sĩ” là cách gọi ngắn quen dùng trong nhà trường. Văn bản viết bằng chữ Hán, dài khoảng hơn một nghìn chữ.
Một chi tiết ít người để ý: Toàn thư không chép bài hịch ở năm 1284 mà chép trong mục năm 1300, lúc ghi việc ông mất, mở đầu bằng câu đại ý: Quốc Tuấn từng soạn sách binh pháp để dạy các tì tướng và dụ họ bằng bài hịch. Như vậy sử cũ không ghi năm viết. Việc xếp bài hịch vào khoảng năm 1284, trước cuộc kháng chiến lần thứ hai, và gắn nó với cuộc duyệt binh ở Đông Bộ Đầu là suy định của các nhà nghiên cứu, rất hợp lý nhưng không phải điều chính sử ghi thẳng.
Đoạn được nhắc nhiều nhất là lời chủ tướng tự bộc bạch. Nguyên văn phiên âm:
Dư thường lâm xan vong thực, trung dạ phủ chẩm,
thế tứ giao di, tâm phúc như đảo…
Diễn ý: đến bữa mà quên cả ăn, nửa đêm trằn trọc đập tay lên gối, nước mắt giàn giụa, trong lòng đau như bị giã. Ông còn nói, giá thân này có bỏ giữa đồng cỏ trăm lần, xác này có bọc trong da ngựa nghìn lần thì ông cũng cam tâm. Một vị Quốc công Tiết chế tự bày nỗi lòng mình ra trước thuộc tướng như thế là điều làm nên sức nặng của bài hịch.
Thể hịch qua ngòi bút một vị chủ tướng
Hịch là thể văn nghị luận thời trung đại, dùng để kêu gọi, cổ động, thường viết theo lối biền ngẫu với những vế câu sóng đôi. Trần Quốc Tuấn dùng thể văn này theo một trình tự rất chặt:
- Nêu gương những bề tôi xả thân vì chủ trong sử sách, mở đầu bằng chuyện Kỷ Tín chết thay cho Hán Cao Đế, Do Vu chịu giáo che cho Sở Chiêu Vương. Toàn thư coi đoạn dẫn chứng này là cách “dạy đạo trung”.
- Kể tội sứ giặc nghênh ngang, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng, và bày tỏ nỗi căm giận của chính mình.
- Nhắc ân nghĩa chủ – tướng, rồi phê phán thẳng thói ham chọi gà, mê cờ bạc, ưa săn bắn của tướng sĩ, chỉ ra kết cục nhục nhã nếu nước mất.
- Nêu việc cần làm: chuyên tâm học tập cuốn binh thư ông soạn.
Cái hay là giọng văn đổi liên tục: lúc ân cần như cha anh, lúc nghiêm khắc gần như mắng, lúc lại tha thiết. Đọc kỹ từng đoạn có thể xem bài phân tích Hịch tướng sĩ; muốn nắm nhanh bố cục, xem Hịch tướng sĩ: tác giả, tác phẩm. Trong Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, bài hịch đứng cùng chủ điểm “Lời sông núi” với Nam quốc sơn hà và Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, ba áng văn có thể đọc nối nhau để thấy giọng nói của những người giữ nước thời Lý – Trần.
Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư
Ngay trong bài hịch, Trần Quốc Tuấn nhắc tới một cuốn sách của mình: ông chọn lọc binh pháp các nhà, hợp thành một cuốn, đặt tên là Binh thư yếu lược. Toàn thư cũng ghi ông soạn sách Binh gia diệu lý yếu lược để dạy các tì tướng. Đáng tiếc, nguyên bản cuốn sách này đã thất truyền. Bản mang tên Binh thư yếu lược đang lưu hành, theo Wikipedia dẫn nghiên cứu của Ngô Đức Thọ (1986), xuất hiện muộn, sớm nhất là thế kỷ XIX, nên bị giới nghiên cứu nghi là do người đời sau soạn.
Cuốn thứ hai là Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Theo Toàn thư, đây là sách ông gom góp phép dùng binh của nhiều nhà mà soạn nên, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư viết lời tựa. Sách nay cũng thất lạc, chỉ còn bài tựa của Trần Khánh Dư được chép lại trong sử.
Vì thế, nói một cách chặt chẽ, văn bản đáng tin cậy nhất của Trần Quốc Tuấn còn đến hôm nay chính là bài hịch, cùng vài lời nói được sử chép lại.
Những lời nói được sử chép lại, và một câu hay bị gán nhầm
Ngoài bài hịch, Toàn thư giữ lại mấy câu nói của ông, ngắn mà có sức nặng như văn:
- “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng.” Theo Toàn thư, Thượng hoàng Trần Thánh Tông vờ hỏi rằng thế giặc như vậy, hay là hàng; ông trả lời bằng câu này (nguyên văn 先斷臣首然後降).
- “Năm nay đánh giặc nhàn.” Cuối năm Đinh Hợi (1287), khi quân Nguyên kéo sang lần thứ ba, vua hỏi giặc đến thì làm thế nào, ông đáp như vậy (chữ “nhàn” ở đây nghĩa là dễ). Mấy tháng sau là trận Bạch Đằng năm 1288.
- Lời trối năm 1300. Khi vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi kế giữ nước, ông dặn vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Nguyên văn chữ Hán là 寬民力 (khoan dân lực); chữ “thư” là do bản dịch thêm vào cho rõ nghĩa.
Còn câu “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” thường bị gán cho Trần Hưng Đạo thì thật ra không phải của ông. Toàn thư chép đó là lời Thái sư Trần Thủ Độ nói với vua Trần Thái Tông tháng 12 năm 1257, trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Khi làm bài văn nghị luận, học sinh nên tránh nhầm hai câu này.
Phủ đệ Vạn Kiếp và những người ông tiến cử
Một chi tiết cho thấy bên cạnh việc binh, Trần Quốc Tuấn còn là người trọng văn: theo Toàn thư, ông tiến cử nhiều người tài, từ gia thần Dã Tượng, Yết Kiêu đến các môn khách Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực, những người “đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự”. Phạm Ngũ Lão về sau để lại bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài), còn Trương Hán Siêu là tác giả Bạch Đằng giang phú.
Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300) tại phủ đệ Vạn Kiếp, dặn con hỏa táng, chôn kín trong vườn, san đất trồng cây như cũ để không ai biết chỗ. Theo Toàn thư, người phương Bắc chỉ gọi ông là An Nam Hưng Đạo vương, kiêng không gọi thẳng tên. Dân gian tôn ông là Đức Thánh Trần; đền Kiếp Bạc mở hội vào trung tuần tháng 8 âm lịch, đúng dịp ngày mất. Những câu chuyện truyền miệng về ông được kể lại trong truyện Hưng Đạo Đại Vương.
Hịch tướng sĩ trong sách giáo khoa
| Sách – bài học | Bài trên Văn VN |
|---|---|
| Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 (Lời sông núi) | Soạn bài Hịch tướng sĩ |
| Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 – Bài 5 (Nghị luận xã hội) | Soạn bài Hịch tướng sĩ (Cánh diều) |
| Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (Khát vọng độc lập và tự do) | Soạn bài Hịch tướng sĩ |
| Ôn tập | Tóm tắt · Mở bài · Kết bài |
Hịch tướng sĩ có nhiều bản dịch: Trần Trọng Kim dịch từ năm 1919, Ngô Tất Tố cũng có bản dịch riêng, và bản in trong sách giáo khoa hiện hành khác cả hai. Khi trích dẫn trong bài kiểm tra, cách an toàn là chép đúng câu chữ trong sách mình học.