Năm 1884, một chàng trai mười sáu tuổi đến thành phố Ca-dan với ý định vào đại học và bị từ chối vì không có bằng trung học. Gần bốn mươi năm sau, người ấy viết cuốn tự truyện mang tên Những trường đại học của tôi. Đó là Go-rơ-ki. Go-rơ-ki (Mác-xim Go-rơ-ki, Maxim Gorky, tên thật A-lếch-xây Mác-xi-mô-vích Pê-scốp, 1868 – 1936) là nhà văn, nhà viết kịch, nhà báo Nga – Xô viết, tác giả Bà lão I-déc-ghin, Người mẹ và bộ ba tự truyện Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi. Sách Ngữ văn hiện hành có bốn văn bản của ông, ở lớp 7, 9 và 11.
A-li-ô-sa trong ngôi nhà thợ nhuộm ở Nhi-giơ-ni Nốp-gô-rốt

| Tên thật | Алексей Максимович Пешков (A-lếch-xây Mác-xi-mô-vích Pê-scốp) |
| Bút danh | Maxim Gorky; SGK ghi Mác-xim Go-rơ-ki, M. Go-rơ-ki hoặc Go-rơ-ki |
| Năm sinh – năm mất | 28/3/1868 (16/3 theo lịch cũ) – 18/6/1936 |
| Quê quán | Thành phố Nhi-giơ-ni Nốp-gô-rốt, bên sông Vôn-ga, Nga |
| Thể loại | Truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tự truyện, hồi ký, chính luận |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bà lão I-déc-ghin (1895), Bài ca chim báo bão (1901), kịch Dưới đáy (1902), tiểu thuyết Người mẹ (1906), bộ ba tự truyện (1913 – 1923), Cuộc đời Clim Xam-ghin (dở dang) |
| Ghi nhận | Năm lần được đề cử giải Nô-ben Văn học (1918, 1923, hai lần năm 1928, 1933); Huân chương Lê-nin (1932) |
| Trong SGK hiện hành | Trái tim Đan-kô (Ngữ văn 7 CTST, Ngữ văn 11 Cánh diều); Khoa học muôn năm! (Ngữ văn 9 Cánh diều); Tôi đã học tập như thế nào? (Ngữ văn 11 CTST) |
A-li-ô-sa Pê-scốp chào đời trong ngôi nhà gỗ của ông ngoại Va-xi-li Ca-si-rin, chủ một xưởng nhuộm vải ở Nhi-giơ-ni Nốp-gô-rốt. Cha cậu, người thợ mộc Mác-xim Pê-scốp, mất năm 1871 vì bệnh dịch tả; theo Wikipedia tiếng Nga, ông bị lây từ chính cậu con trai ba tuổi, đứa trẻ đã qua khỏi. Năm 1879, khi cậu mười một tuổi, mẹ cậu mất vì bệnh lao.
Người thay cha mẹ nuôi cậu là bà ngoại A-cu-li-na I-va-nốp-na. Ông ngoại Ca-si-rin dạy cậu những bài kinh đầu tiên, còn xưởng nhuộm thì sa sút dần đến chỗ phá sản. Cậu chỉ học vài năm tiểu học, bỏ dở vì bệnh đậu mùa rồi vì bị bạn bè chế giễu là đứa nhặt giẻ rách. Ngôi nhà ấy, người bà ấy về sau sống lại trong Thời thơ ấu (1913 – 1914), phần đầu bộ ba tự truyện; dù vậy, giới nghiên cứu lưu ý rằng bộ ba là tác phẩm văn học, không nên đọc như một bản tiểu sử chính xác từng chi tiết. Năm 1880, cậu bé mười hai tuổi bỏ nhà đi kiếm sống.
Trượt đại học Ca-dan và năm năm đi bộ khắp nước Nga
Trước mười sáu tuổi, A-li-ô-sa đã làm chân rửa bát trên tàu thủy, học việc ở xưởng vẽ tranh thánh, chạy việc cho một cửa hiệu. Năm 1884 cậu đến Ca-dan, định thi vào đại học. Theo Wikipedia tiếng Nga, năm ấy điều lệ trường vừa cắt mạnh số chỗ dành cho con nhà nghèo, mà cậu lại không có bằng tốt nghiệp trung học. Không vào được giảng đường, cậu làm thợ bốc vác ở bến cảng, thợ làm bánh, và bắt đầu đến những buổi họp của thanh niên có tư tưởng cách mạng, đọc sách mác-xít.
Tháng 12/1887, chàng trai mười chín tuổi tìm cách tự tử nhưng không chết. Sau đó là năm năm đi bộ qua các miền của đế quốc Nga: làm đủ nghề để sống, cho đến tận vùng Cáp-ca-dơ. Ông gặp dân chài, người chăn cừu, kẻ lang thang, những người mà văn học Nga trước đó ít khi cho đứng ở trung tâm. Đó là kho chất liệu của cả đời viết.
Vì sao lại là Go-rơ-ki – cay đắng?
Khi viết báo tỉnh lẻ, ông từng ký những bút danh kỳ quặc như Iê-gu-đi-in Khla-mi-đa. Năm 1892, ở Típ-li-xi (nay là Tbi-li-xi, thủ đô Gru-di-a), nơi ông đang làm việc vặt trong xưởng đường sắt Cáp-ca-dơ, tờ báo Kavkaz in truyện ngắn đầu tay Ma-ca Chu-đra, ký tên Mác-xim Go-rơ-ki. Trong tiếng Nga, горький nghĩa là cay đắng. Cái tên vừa nói về cuộc đời người viết đã nếm trải, vừa như một lời hứa: sẽ nói ra sự thật cay đắng về đời sống nước Nga.
Còn chữ Mác-xim, theo lời những người Nhi-giơ-ni Nốp-gô-rốt cao tuổi mà Wikipedia tiếng Nga dẫn lại, là để tưởng nhớ người cha mất sớm. Bút danh ấy thành tên chính thức đến mức về sau chính quyền Xô viết đặt cho cả thành phố quê ông.
Đan-kô, chim báo bão và giai đoạn lãng mạn
Những truyện đầu tiên của Go-rơ-ki mang màu sắc lãng mạn rõ rệt: thảo nguyên, biển, những người Di-gan tự do, những truyền thuyết về người anh hùng. Bà lão I-déc-ghin viết mùa thu năm 1894, in trên báo Samarskaya Gazeta tháng 4/1895 nhờ sự giới thiệu của nhà văn Cô-rô-len-cô, người được coi là đã phát hiện ra Go-rơ-ki. Truyện gồm ba phần: bà lão kể truyền thuyết về Lạc-ra, kẻ kiêu ngạo bị loài người ruồng bỏ; kể chuyện đời mình; rồi kể truyền thuyết về Đan-kô, chàng trai moi trái tim cháy sáng của mình để dẫn đường cho bộ tộc ra khỏi rừng tối.
Cùng giai đoạn là Chen-cát (1895), Bài ca chim ưng, và bài thơ văn xuôi Bài ca chim báo bão (1901), mà hình ảnh con chim bay giữa giông tố được độc giả đương thời đọc như lời gọi cách mạng. Năm 1898, tập Tiểu luận và truyện ngắn gây tiếng vang lớn; người lang thang thành nhà văn nổi tiếng chỉ sau sáu năm cầm bút.
Dưới đáy, Người mẹ và bảy năm ở đảo Ca-pri
Từ năm 1901 ông chuyển sang viết kịch. Vở Dưới đáy (1902), đặt trong một nhà trọ tồi tàn của những người bị xã hội gạt ra lề, trở thành vở nổi tiếng nhất của ông. Cũng năm 1902, ông được bầu làm viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm, nhưng Nga hoàng Ni-cô-lai II ra lệnh hủy bỏ; Sê-khốp và Cô-rô-len-cô rút khỏi Viện để phản đối.
Ông bị bắt nhiều lần vì chống chế độ Nga hoàng. Năm 1905, trong lúc bị giam ở pháo đài Pê-tơ-rô-pa-vlốp-xcơ, ông viết vở Những đứa con của mặt trời; một chiến dịch ở khắp châu Âu, có sự ủng hộ của Ma-ri Quy-ri, Rô-đanh, A-na-tôn Phrăng-xơ, buộc chính quyền thả ông. Năm 1906, ông sang Mỹ quyên tiền cho phái Bôn-sê-vích; ở vùng núi A-đi-rôn-đắc, ông viết tiểu thuyết Người mẹ, chuyện một bà mẹ thợ thuyền dần trở thành người tham gia cách mạng. Đây là cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, dù chính tác giả và nhiều nhà phê bình về sau đánh giá thấp giá trị nghệ thuật của nó.
Từ 1906 đến 1913, vì sức khỏe và để tránh bị đàn áp, ông sống trên đảo Ca-pri ở miền Nam nước I-ta-li-a, cùng những người bạn Bôn-sê-vích mở một trường học cho công nhân. Năm 1913, nhân lễ kỷ niệm 300 năm triều Rô-ma-nốp có ân xá, ông về nước (Wikipedia tiếng Anh ghi năm 1914).
Những trường đại học không có giảng đường
Khoảng mười năm sau khi về nước, ông viết xong bộ ba tự truyện: Thời thơ ấu (1913 – 1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1923). Cái tên của cuốn thứ ba là một lời mỉa mai nhẹ: trường đại học của ông là bến cảng Ca-dan, lò bánh mì, những cuốn sách đọc trộm ban đêm và con người ông gặp trên đường.
Văn bản Tôi đã học tập như thế nào? trong sách Ngữ văn 11 cũng nói về con đường ấy. Bài được ghi năm 1918, khi ông đã ngoài năm mươi tuổi, nhìn lại quãng thơ ấu và thiếu niên cực nhọc, khi cậu bé tự học, tự vượt lên hoàn cảnh nhờ tình thương và nhờ sách. Đặt văn bản cạnh chuyện trượt đại học ở Ca-dan, ta hiểu vì sao cả đời ông đề cao việc tự học và giá trị của văn hóa.
Một quan hệ không yên ả với những người Bôn-sê-vích
Go-rơ-ki là bạn của Lê-nin, từng là nhà tài trợ lớn của phái Bôn-sê-vích. Hai người quen nhau từ năm 1902 theo Wikipedia tiếng Anh; tiểu sử trên trang lưu trữ Marxists.org thì ghi họ gặp nhau ở Đại hội lần thứ V của đảng tại Luân Đôn năm 1907. Nhưng sau Cách mạng Tháng Mười, ông phản đối gay gắt những vụ bắt bớ và việc bóp nghẹt tự do ngôn luận. Loạt bài báo in thành sách Những suy nghĩ không hợp thời (1918) mãi đến thời cải tổ mới được tái bản ở Nga.
Năm 1921, ông rời nước Nga, sau đó sống ở Xô-ren-tô, I-ta-li-a. Từ năm 1928 ông về thăm Liên Xô theo lời mời của Xta-lin và năm 1932 về hẳn. Ông được đón tiếp như một biểu tượng: thành phố Nhi-giơ-ni Nốp-gô-rốt đổi tên thành Go-rơ-ki, ông đứng đầu Hội Nhà văn Liên Xô mới thành lập và được tôn là người khai sinh chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng sau vụ ám sát Ki-rốp cuối năm 1934, ông gần như bị quản thúc ở nhà. Con trai ông, Mác-xim, mất đột ngột tháng 5/1934.
Ông mất ngày 18/6/1936 tại Go-rơ-ki, ngoại ô Mát-xcơ-va (địa danh trùng âm, không liên quan tới bút danh của ông). Thông báo chính thức nói ông mất vì viêm phổi; một số nhà sử học nêu khả năng ông bị đầu độc. Đến nay chưa có kết luận dứt khoát.
Go-rơ-ki trong sách giáo khoa: bốn bài học, ba bộ sách
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Trái tim Đan-kô (phần ba của Bà lão I-déc-ghin) | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (Trong thế giới viễn tưởng), đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài (lớp 7) · Tóm tắt |
| Trái tim Đan-kô | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 5 (Truyện ngắn) | Soạn bài (lớp 11) · Tác giả – tác phẩm |
| Khoa học muôn năm! | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1 – Bài 5 (Nghị luận xã hội) | Soạn bài |
| Tôi đã học tập như thế nào? | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (Những chân trời kí ức) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
Bốn văn bản cho thấy ba gương mặt của cùng một người: nhà văn lãng mạn của truyền thuyết Đan-kô, người diễn thuyết tin vào khoa học và lý trí, và người kể chuyện đời mình. Văn bản Khoa học muôn năm!, theo phần chú thích của sách, được in trong cuốn Những bài diễn thuyết nổi tiếng trong lịch sử thế giới (NXB Quân đội nhân dân, 2009). Học sinh lớp 9 cũng có thể đọc thêm đoạn trích Những đứa trẻ từ Thời thơ ấu, bài học trong chương trình cũ.
Các bản dịch tiếng Việt in trong sách giáo khoa (như bản dịch truyện Đan-kô của Cao Xuân Hạo và Phạm Mạnh Hùng) vẫn còn được bảo hộ, nên Văn VN không chép lại. Tác phẩm của Go-rơ-ki đã vào phạm vi công cộng; người đọc biết tiếng Nga có thể tìm nguyên bản Старуха Изергиль trong các thư viện điện tử.
Ông là nhà văn được xuất bản nhiều nhất ở Liên Xô: theo Wikipedia tiếng Nga, từ 1918 đến 1986 sách của ông in hơn 242 triệu bản. Con số ấy nói về một thời đại hơn là về văn chương. Điều còn lại lâu hơn có lẽ là hình ảnh cậu bé A-li-ô-sa vùi đầu vào sách giữa những năm làm thuê, và trái tim Đan-kô cháy giữa rừng đêm.