Tự sự là phương thức kể lại một chuỗi sự việc có nhân vật, việc trước dẫn tới việc sau và khép lại bằng một kết thúc mang ý nghĩa nào đó. Nói gọn cho dễ nhớ: tự sự là kể chuyện. Văn tự sự vì thế là loại văn bản lấy việc kể làm chính, từ truyện cổ tích, truyện ngắn đến bài văn kể lại một trải nghiệm của em.
| Nghĩa | Kể lại sự việc theo một trình tự, qua đó nêu lên ý nghĩa |
| Thuộc | Một trong sáu phương thức biểu đạt (Ngữ văn THCS) |
| Yếu tố cốt lõi | Sự việc, nhân vật, cốt truyện, người kể với ngôi kể |
| Dấu hiệu nhận biết | Có câu chuyện: ai, làm gì, xảy ra thế nào, kết cục ra sao |

Tự sự nghĩa là kể chuyện, nhưng kể thế nào?
Hai chữ “tự sự” là từ Hán Việt: “tự” (敘) là bày ra, thuật lại; “sự” (事) là việc. Ghép lại thành “thuật lại việc”. Nghĩa gốc ấy khớp với cách sách Ngữ văn giải thích: tự sự trình bày một chuỗi sự việc nối tiếp nhau, việc trước kéo theo việc sau, rồi khép lại ở một kết cục chứa đựng ý nghĩa.
Điểm mấu chốt nằm ở chữ “chuỗi”. Một câu “Hôm qua em đi học” chưa phải tự sự trọn vẹn. Phải có diễn biến: em đi học, giữa đường gặp chuyện, em xử lí ra sao, chuyện kết thúc thế nào và em rút ra điều gì. Thiếu sự nối tiếp, ta chỉ có thông báo; thiếu ý nghĩa, ta có một bản liệt kê việc vặt.
Trong bảng sáu phương thức biểu đạt học ở THCS, tự sự đứng cạnh miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và hành chính – công vụ. Một văn bản thường dùng nhiều phương thức, nhưng nếu phần kể là xương sống thì ta gọi đó là văn bản tự sự.
Bốn thứ không thể thiếu trong một văn bản tự sự
Sự việc. Là những gì xảy ra. Sự việc trong tự sự cần cụ thể: xảy ra ở đâu, lúc nào, vì sao, diễn biến ra sao. Các sự việc chính nối với nhau thành mạch truyện.
Nhân vật. Là người (hoặc con vật, đồ vật được nhân cách hóa) làm ra sự việc hay chịu tác động của sự việc. Có nhân vật chính, gánh phần lớn câu chuyện, và nhân vật phụ giúp câu chuyện tiếp diễn. Nhân vật hiện lên qua tên gọi, ngoại hình, lời nói, việc làm và cách người khác nhìn về họ.
Cốt truyện. Là cách các sự việc được sắp xếp. Có truyện kể thẳng từ đầu đến cuối, có truyện mở bằng kết cục rồi quay lại kể nguyên do. Cùng một chuỗi việc, đổi thứ tự là đổi hẳn sức hút.
Người kể chuyện. Câu chuyện nào cũng phải có người kể. Người này có thể xuất hiện, xưng “tôi”, hoặc đứng ngoài, giấu mình đi. Cách đứng ấy gọi là ngôi kể, phần tiếp theo sẽ nói kĩ.
Ngôi kể và điểm nhìn: ai kể, đứng ở đâu mà kể?
| Ngôi kể | Người kể xưng | Ưu thế | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Ngôi thứ nhất | “tôi”, “em”, “mình” | Kể được suy nghĩ, cảm xúc bên trong, giọng gần gũi như tâm sự | Chỉ biết những gì “tôi” thấy, nghe, đoán |
| Ngôi thứ ba | Không xưng, gọi nhân vật bằng tên hoặc “anh ấy”, “cô ấy” | Linh hoạt, có thể kể nhiều nơi, nhiều nhân vật | Dễ khô nếu chỉ thuật việc mà không đi vào nội tâm |
Chọn ngôi kể trong văn tự sự là chọn chỗ đứng cho người kể. Ngôi kể dựa trên các ngôi xưng hô của tiếng Việt; muốn ôn lại đại từ ở từng ngôi, xem bài ba ngôi xưng hô trong tiếng Việt và ví dụ. Kể ở ngôi thứ hai (“bạn bước vào căn phòng…”) rất hiếm trong văn học, gần như không gặp trong đề thi THCS.
Lên lớp trên, SGK mới dùng thêm khái niệm điểm nhìn: câu chuyện được nhìn qua mắt ai. Người kể ngôi thứ ba vẫn có thể “mượn mắt” một nhân vật để kể, như máy quay đặt sau vai nhân vật đó. Giới trẻ gọi lối quay ấy là POV, chuyện chữ này liên quan thế nào tới truyện được giải thích ở bài POV và điểm nhìn trong truyện.
Bố cục ba phần của bài văn tự sự
- Mở bài: giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh, hoặc nêu sự việc sẽ kể.
- Thân bài: kể diễn biến theo một trình tự hợp lí, có lúc thắt nút, có cao trào, có chỗ mở nút.
- Kết bài: nêu kết cục, cảm nghĩ hoặc bài học rút ra.
Bài văn kể chuyện điểm thấp thường mắc hai lỗi. Một là kể lan man, việc nào cũng dài như nhau nên không có cao trào. Hai là kết thúc bằng câu sáo kiểu “đó là kỉ niệm em nhớ mãi” mà không cho thấy vì sao nhớ. Chọn một chi tiết đắt, kể chậm ở chỗ đó, phần còn lại lướt nhanh.
Chuyện chữ nghĩa: viết “kể chuyện” (kể một câu chuyện) chứ không phải “kể truyện” trong hầu hết trường hợp; lí do có ở bài kể chuyện hay kể truyện.
Tự sự, miêu tả, biểu cảm đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Tự sự | Miêu tả | Biểu cảm |
|---|---|---|---|
| Mục đích | Kể việc, cho biết chuyện gì đã xảy ra | Tái hiện người, vật, cảnh để người đọc “thấy” | Bộc lộ tình cảm, cảm xúc |
| Câu hỏi trả lời | Chuyện gì? Rồi sao nữa? | Trông thế nào? | Cảm thấy gì? |
| Từ ngữ nổi bật | Động từ chỉ hành động, từ chỉ thời gian (rồi, sau đó, hôm ấy) | Tính từ, từ tượng hình, tượng thanh | Từ cảm thán, từ chỉ tình cảm (thương, nhớ, ôi) |
| Câu tự đặt | Sáng nay mẹ đưa em đến trường rồi vội đi làm. | Mái tóc mẹ lấm tấm sợi bạc dưới nắng sớm. | Thương mẹ biết bao những sáng vội vàng như thế! |
Ba phương thức này hay đi cùng nhau. Trong bài kể chuyện, vài câu tả và vài câu bày tỏ cảm xúc làm câu chuyện có da thịt. Chiều ngược lại cũng vậy: một bài thơ có thể có yếu tố kể, như trong dạng đề lớp 6 về đoạn văn cảm xúc về thơ có yếu tố tự sự.
Thơ trữ tình không kể chuyện theo lối ấy; người đang bày tỏ cảm xúc trong bài được gọi bằng khái niệm nhân vật trữ tình.
Soi tự sự trong Thánh Gióng và Bài học đường đời đầu tiên
Thánh Gióng là văn bản tự sự kể ở ngôi thứ ba. Chuỗi sự việc rõ ràng: cậu bé lên ba chưa biết nói; giặc Ân kéo đến, cậu cất tiếng xin đi đánh giặc; lớn nhanh như thổi, dân làng góp gạo nuôi; nhận ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt ra trận; roi gãy thì nhổ tre đánh tiếp; thắng giặc rồi cưỡi ngựa bay về trời. Việc trước sinh ra việc sau, kết thúc bằng hình tượng người anh hùng hóa thân vào đất nước. Câu hỏi về chuỗi sự việc này có trong phần soạn Thánh Gióng theo sách Kết nối và Chân trời.
Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài) kể ở ngôi thứ nhất: Dế Mèn tự xưng “tôi”. Nhờ vậy người đọc nghe được cả niềm tự hào về thân hình cường tráng lẫn nỗi ân hận sau trò nghịch dại khiến Dế Choắt chết. Chính ngôi kể làm bài học cuối truyện thấm hơn, vì đó là lời tự nhận lỗi. Đọc lại văn bản ở trang truyện Dế Mèn tự kể về bài học đầu đời.
Bài tập nhận diện văn tự sự
Câu 1: Đoạn sau có phải tự sự không? “Hôm thi xong, cả lớp ở lại trực nhật. Lan làm đổ xô nước, Minh chạy đi lấy giẻ, còn em vội kê lại bàn ghế. Mười phút sau, lớp học sạch tinh.” (đoạn tự đặt)
Đáp án: Có. Đoạn văn kể một chuỗi việc nối nhau (đổ nước → lau → kê bàn → lớp sạch), có nhân vật (Lan, Minh, em), có kết thúc. Người kể xưng “em”, ngôi thứ nhất.
Câu 2: Truyện Thánh Gióng được kể theo ngôi thứ mấy? Vì sao em biết?
Đáp án: Ngôi thứ ba. Người kể không xuất hiện, không xưng “tôi”, gọi nhân vật bằng tên (Gióng, bà mẹ, sứ giả) và kể được mọi việc ở nhiều nơi.
Câu 3: Câu “Ôi, quê hương tôi mùa lúa chín đẹp biết nhường nào!” dùng phương thức biểu đạt chính nào?
Đáp án: Biểu cảm (có từ cảm thán “ôi”, dấu chấm than, bộc lộ tình cảm), xen chút miêu tả. Câu không kể sự việc nào nên không phải tự sự.
Câu 4: Kể lại truyện Bài học đường đời đầu tiên theo lời Dế Choắt thì ngôi kể thay đổi ra sao?
Đáp án: Vẫn là ngôi thứ nhất, nhưng “tôi” giờ là Dế Choắt. Điểm nhìn đổi: người đọc thấy Dế Mèn qua con mắt người hàng xóm yếu ớt, nên sự kiêu căng của Mèn và nỗi oan của Choắt hiện rõ hơn.
Thắc mắc quanh chữ tự sự trong giờ Văn
Văn tự sự là gì?
Văn tự sự là văn bản dùng tự sự làm phương thức chính: kể một câu chuyện có nhân vật, sự việc, mở đầu và kết thúc. Truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện ngắn, bài văn kể lại trải nghiệm đều thuộc loại này.
Tự sự có phải là kể chuyện không?
Đúng, ở mức dễ hiểu nhất thì tự sự là kể chuyện. Có điều kể theo nghĩa văn học cần chuỗi sự việc liên kết và một ý nghĩa, không chỉ thuật lại vụn vặt.
Làm sao nhận biết phương thức tự sự trong đề đọc hiểu?
Tìm xem đoạn trích có kể sự việc nối tiếp không, có nhân vật hành động không, có từ chỉ thời gian chuyển tiếp không. Nếu có cả ba, phương thức chính gần như chắc chắn là tự sự.
Thơ có tự sự được không?
Được. Truyện thơ như Truyện Kiều kể cả một cuộc đời bằng thơ lục bát; nhiều bài thơ hiện đại cũng có đoạn kể. Khi đó ta nói bài thơ có yếu tố tự sự, còn phương thức chính vẫn có thể là biểu cảm.