Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hoặc màu sắc, đường nét, âm thanh) để người khác hình dung được cụ thể một sự vật, một cảnh, một con người, kể cả những gì diễn ra trong lòng người. Trong môn Ngữ văn, miêu tả là một phương thức biểu đạt, và văn miêu tả là kiểu bài giúp người đọc “thấy” đối tượng như đang ở trước mắt. Phần dưới đi từ khái niệm đến ví dụ trong thơ, dấu hiệu nhận biết và bài tập.
| Khái niệm | Làm cho người khác hình dung cụ thể sự vật, sự việc, con người, thế giới nội tâm |
| Chữ Hán | 描寫: miêu (tô, vẽ theo) + tả (viết ra) |
| Thuộc | Một trong các phương thức biểu đạt; một kiểu bài làm văn |
| Dấu hiệu nhận biết | Nhiều từ gợi hình, gợi thanh, màu sắc; câu trả lời cho “trông như thế nào?” |

Miêu tả là vẽ bằng chữ
Chữ Hán của miêu tả là 描寫. Chữ 描 (miêu) là tô theo, vẽ theo một hình có sẵn; chữ 寫 (tả) là viết ra, chép ra. Ghép lại thành “vẽ lại bằng chữ”, và đó cũng là cách dễ nhớ nhất về khái niệm này.
Từ điển tiếng Việt giảng miêu tả là dùng một phương tiện nào đó làm cho người khác hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người. Định nghĩa này rộng: một bức tranh, một cảnh phim cũng có thể miêu tả. Trong giờ Ngữ văn, phương tiện ấy là ngôn từ.
Sách Ngữ văn THCS xếp miêu tả cạnh tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và hành chính – công vụ thành sáu cách biểu đạt; bài sáu phương thức biểu đạt và mẹo xác định nhanh trình bày đủ cả nhóm. Ở chương trình mới, miêu tả xuất hiện qua các bài viết như tả cảnh sinh hoạt ở lớp 6, và thấm vào gần như mọi bài kể chuyện, biểu cảm.
Khi lời tả đủ đậm để thành khắc họa, bộ từ thay như tái hiện, vẽ nên, phác họa khác nhau ra sao được xếp theo mức trong bài đồng nghĩa, trái nghĩa với khắc họa.
Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến đã tả như thế nào?
Thơ trung đại là kho ví dụ rất gọn về miêu tả, vì mỗi câu chỉ có vài chữ mà vẫn dựng được cả một bức tranh.
Tả cảnh: bức tranh mùa xuân trong Truyện Kiều
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Nguyễn Du chỉ dùng hai màu: thảm cỏ xanh trải tới tận chân trời làm nền, vài bông lê trắng điểm lên trên. Chữ “tận” mở không gian ra thật xa, chữ “điểm” làm sắc trắng nổi bật, thưa mà sáng. Người đọc như đang nhìn một bức tranh có bố cục rõ ràng. Đoạn thơ này được học kĩ trong bài soạn Cảnh ngày xuân theo sách Cánh diều.
Tả người: chân dung Thúy Vân
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Ở đây đối tượng là con người. Nguyễn Du không liệt kê từng nét mặt mà chọn hình ảnh so sánh với thiên nhiên: khuôn mặt tròn như trăng, lông mày như con ngài. Miêu tả ngoại hình nhưng đồng thời gợi tính cách đoan trang, phúc hậu. Cả đoạn chân dung hai chị em có trong bài đoạn trích Chị em Thúy Kiều lớp 9.
Tả chuyển động rất nhỏ: mùa thu của Nguyễn Khuyến
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Cái hay của hai câu này nằm ở mức độ: sóng chỉ “hơi gợn tí”, lá chỉ “khẽ đưa”. Nhà thơ tả những chuyển động nhỏ đến mức phải lặng người mới thấy, nhờ vậy cái tĩnh của ao thu càng rõ. Muốn đọc trọn bài thơ cùng phần trả lời câu hỏi, xem bài soạn Thu điếu của Nguyễn Khuyến.
Ba dấu hiệu của một đoạn văn miêu tả
Đứng trước một đoạn văn lạ, có thể dựa vào ba điểm sau để biết người viết đang miêu tả hay không.
Thứ nhất, đoạn văn trả lời câu hỏi “trông như thế nào, nghe ra sao?” chứ không phải “chuyện gì xảy ra tiếp theo?”. Nếu bỏ một câu đi mà cốt truyện không hụt, câu đó nhiều khả năng là câu tả.
Thứ hai, mật độ từ gợi hình, gợi thanh, gợi màu cao. Tính từ chỉ màu sắc, hình dáng (xanh ngắt, lom khom, tròn trịa), từ tượng thanh (rì rào, lách tách), từ láy xuất hiện dày. Kèm theo đó là các phép tu từ quen thuộc: so sánh, ẩn dụ, và phép nhân hóa gán tính người cho cảnh vật.
Thứ ba, đoạn văn đi theo trình tự không gian hoặc theo giác quan: từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ bao quát đến chi tiết; hoặc lần lượt thứ nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy. Văn kể chuyện thì ngược lại, chủ yếu đi theo trình tự thời gian.
Về phạm vi, miêu tả có mấy kiểu thường gặp: tả cảnh (cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt), tả người (ngoại hình, hành động, nội tâm), tả đồ vật và tả con vật. Miêu tả nội tâm khó nhất vì đối tượng không nhìn thấy được, người viết phải để cảnh vật, cử chỉ nói thay tâm trạng.
Miêu tả đứng cạnh tự sự, biểu cảm, thuyết minh
| Phương thức | Mục đích chính | Câu hỏi đoạn văn trả lời | Ví dụ ngắn |
|---|---|---|---|
| Miêu tả | Giúp người đọc hình dung đối tượng | Trông, nghe, cảm thấy như thế nào? | Mái ngói rêu phong, mép ngói sứt như răng cưa. |
| Tự sự | Kể lại chuỗi sự việc | Chuyện gì đã xảy ra? | Sáng ấy bà dậy sớm, quét sân rồi ra chợ. |
| Biểu cảm | Bộc lộ cảm xúc của người viết | Người viết thấy gì trong lòng? | Mỗi lần về quê, tôi thương mái nhà cũ đến lạ. |
| Thuyết minh | Cung cấp tri thức khách quan | Đối tượng là gì, cấu tạo, công dụng ra sao? | Ngói ta được nung từ đất sét, mỗi viên nặng chừng một cân. |
Một bài văn thường trộn nhiều phương thức. Truyện kể vẫn cần tả để người đọc thấy nhân vật; bài tả vẫn có lúc kể một chi tiết nhỏ. Cách xác định là nhìn phương thức nào chiếm phần lớn và phục vụ mục đích chính. Về kể chuyện, có bài riêng giải thích tự sự với ngôi kể và bố cục.
Luyện tập nhận biết và viết đoạn miêu tả
Câu 1: Đoạn sau dùng phương thức biểu đạt chính nào? “Con đường làng sau mưa đỏ quạch, lấp loáng những vũng nước nhỏ. Hai bên, hàng tre nghiêng mình rũ những giọt nước lóng lánh xuống mặt đường.”
Đáp án: Miêu tả. Đoạn văn không kể sự việc mà dựng hình ảnh con đường với màu sắc (đỏ quạch), ánh sáng (lấp loáng, lóng lánh) và dáng vẻ (tre nghiêng mình). Có phép nhân hóa ở “nghiêng mình”.
Câu 2: Trong đoạn sau, câu nào là câu miêu tả, câu nào là câu tự sự? “(1) Chiều hôm ấy, Nam đạp xe ra đồng tìm em. (2) Cánh đồng vàng rực, gió thổi lúa gợn từng đợt như sóng. (3) Cậu dừng lại, gọi to tên em.”
Đáp án: Câu (2) là câu miêu tả: tả màu lúa và chuyển động của gió, có phép so sánh “như sóng”. Câu (1) và (3) là câu tự sự vì kể hành động nối tiếp của nhân vật. Bỏ câu (2) thì chuyện vẫn liền mạch, nhưng mất đi khung cảnh.
Câu 3: Tìm từ ngữ miêu tả trong câu thơ “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Nguyễn Khuyến, Thu điếu) và cho biết chúng gợi ra bầu trời thu ra sao?
Đáp án: Các từ “lơ lửng” (tả trạng thái mây trôi chậm, như đứng yên) và “xanh ngắt” (tả màu trời xanh đậm, trong). Hai từ cùng gợi bầu trời thu cao, rộng và tĩnh lặng, hợp với không khí yên ắng của cả bài.
Câu 4: Viết đoạn văn 3–4 câu tả sân trường giờ ra chơi, trong đó có ít nhất một phép so sánh.
Đáp án tham khảo: “Tiếng trống vừa dứt, sân trường bỗng ồn ào như chợ phiên. Dưới gốc phượng, mấy bạn nữ ngồi thành vòng tròn chơi chuyền, tiếng que chạm nhau lách cách. Đám con trai chạy rượt nhau, áo trắng lấm tấm mồ hôi. Nắng xuyên qua tán lá, rải những đốm sáng tròn nhảy nhót trên nền xi măng.” Phép so sánh: “ồn ào như chợ phiên”; đoạn văn đi theo không gian (gốc phượng, giữa sân, nền sân) và dùng nhiều từ gợi thanh, gợi hình.
Miêu tả trong giờ Ngữ văn và trong lời nói hằng ngày
Văn miêu tả là gì?
Văn miêu tả là kiểu bài dùng ngôn từ để tái hiện đặc điểm nổi bật của cảnh, người, vật, giúp người đọc hình dung rõ đối tượng. Bài văn thường có mở bài giới thiệu đối tượng, thân bài tả theo một trình tự, kết bài nêu cảm nghĩ.
Miêu tả và mô tả có khác nhau không?
Từ điển xếp hai từ là đồng nghĩa. Trong thực tế, “mô tả” thường dùng cho văn bản khoa học, kỹ thuật (mô tả sản phẩm, mô tả công việc), còn “miêu tả” gắn với văn chương, giàu hình ảnh hơn.
Miêu tả nội tâm là gì?
Là tái hiện suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật. Người viết có thể tả trực tiếp ý nghĩ, hoặc tả gián tiếp qua nét mặt, cử chỉ, cảnh vật nhuốm màu tâm trạng, như cảnh biển chiều trong đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Bài văn miêu tả có được kể chuyện xen vào không?
Được, miễn phần kể ngắn và phục vụ cho việc tả. Ví dụ tả bà nội, có thể kể một kỉ niệm nhỏ để làm nổi bật đôi bàn tay hay nụ cười của bà.