Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh là văn bản mở đầu Bài 2 “Gõ cửa trái tim”, sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (tập 1). Bài thơ năm chữ có yếu tố tự sự này kể lại “sự ra đời” của thế giới theo trí tưởng tượng hồn nhiên: mọi thứ trên đời đều sinh ra vì trẻ em. Dưới đây là nội dung văn bản, thông tin tác giả, xuất xứ, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Chuyện cổ tích về loài người
Xuân Quỳnh mất năm 1988, tác phẩm của bà còn trong thời hạn bảo hộ, vì vậy ở đây chỉ trích vài dòng và tóm lược diễn biến bài thơ; toàn văn có trong SGK.

Bài thơ mở ra bằng giọng kể của truyện cổ tích: thuở ban đầu, trời sinh ra trẻ con trước tiên. Khi ấy trái đất còn trơ trụi, chưa có cây cỏ, chưa có mặt trời, chỉ một màu đen của bóng tối – “Trời sinh ra trước nhất / Chỉ toàn là trẻ con”.
Vì trẻ con cần nhìn rõ, mặt trời xuất hiện. Rồi sắc xanh của cỏ cây xuất hiện; hoa, tiếng chim, làn gió, dòng sông, biển cả, những cánh buồm, đám mây, con đường lần lượt ra đời để trẻ có màu sắc, âm thanh, có chỗ tắm mát, có đường đi khắp nơi.
Có thiên nhiên rồi, trẻ vẫn thiếu tình thương và tiếng ru, vì thế người mẹ xuất hiện để ôm ấp, nâng niu con. Lời hát của mẹ được dệt từ những điều bình dị của quê hương. Trẻ khao khát nghe chuyện ngày xưa, ngày sau, thế là có bà với những câu chuyện cổ kể mãi không hết. Muốn trẻ hiểu biết, bố ra đời để dạy con biết ngoan, biết nghĩ, cho con biết biển rộng, đường dài, trái đất hình tròn.
Cuối cùng, chữ viết có trước, rồi bàn ghế, lớp học, trường học và thầy giáo. Thầy viết lên bảng thật to dòng chữ đầu tiên: chuyện loài người.
Thông tin tác giả Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh (1942 – 1988), tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở làng La Khê, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Mẹ mất sớm, bố thường đi công tác xa, bà lớn lên trong vòng tay bà nội. Năm 1955, bà vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, được đào tạo thành diễn viên múa và từng biểu diễn ở nhiều nước.
Từ năm 1962 – 1964, Xuân Quỳnh học khóa I Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó làm việc ở báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam và Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Năm 1973, bà kết hôn với nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Ngày 29/8/1988, bà cùng chồng và con trai nhỏ mất trong một tai nạn giao thông ở Hải Dương.
Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ trẻ thời chống Mỹ. Các tập thơ: Chồi biếc (1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Tự hát (1984)…; bà còn viết nhiều cho thiếu nhi như Bầu trời trong quả trứng. Bà được truy tặng Giải thưởng Nhà nước (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh (2017) về văn học nghệ thuật.
Thơ Xuân Quỳnh cho thấy một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm, nhiều trắc ẩn: vừa hồn nhiên, tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm, luôn khát khao hạnh phúc đời thường. Thơ viết cho thiếu nhi của bà trong trẻo, giàu trí tưởng tượng. Xem thêm: tiểu sử Xuân Quỳnh, những bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh.
Thông tin tác phẩm Chuyện cổ tích về loài người
Phần này giải đáp những câu hỏi thường gặp về bài thơ.
Xuất xứ
Bài thơ được in trong tập Lời ru trên mặt đất (1978) của Xuân Quỳnh. Một phần bài thơ từng được dùng làm bài tập đọc trong sách Tiếng Việt tiểu học; SGK Ngữ văn 6 Kết nối tri thức in bản đầy đủ hơn.
Thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể thơ: năm chữ, các khổ dài ngắn không đều.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chính, kết hợp tự sự và miêu tả – bài thơ có cốt truyện, kể theo trình tự trước sau như một câu chuyện cổ tích.
- Người kể: giấu mình, kể bằng giọng thủ thỉ như bà kể chuyện cho cháu.
Bố cục: Chuyện cổ tích về loài người có mấy phần?
Có thể chia bài thơ làm 4 phần theo trình tự xuất hiện của sự vật, con người:
- Phần 1 (khổ 1): trái đất thuở sơ khai, chỉ có trẻ con giữa bóng tối trụi trần.
- Phần 2 (khổ 2): thiên nhiên ra đời vì trẻ – mặt trời, cây cỏ, hoa, chim, gió, sông, biển, mây, đường.
- Phần 3 (các khổ tiếp theo về mẹ, bà, bố): gia đình xuất hiện để yêu thương, kể chuyện, dạy dỗ trẻ.
- Phần 4 (khổ cuối): trường lớp, thầy giáo – xã hội ra đời để trẻ được học hành.
Yếu tố tự sự và miêu tả trong bài thơ
- Tự sự: bài thơ kể một chuỗi sự việc nối tiếp: trẻ con sinh ra trước – mặt trời – cây cỏ, muông thú – mẹ – bà – bố – trường học, thầy giáo. Lời kể mang dáng dấp cổ tích với cách mở đầu nói về thuở xa xưa.
- Miêu tả: nhiều hình ảnh so sánh đáng yêu theo cách nhìn của trẻ: “Cây cao bằng gang tay”, ngọn cỏ mảnh như sợi tóc, bông hoa nhỏ xinh như chiếc cúc áo, “Cái bảng bằng cái chiếu”.
Giá trị nội dung
Bằng cách “kể” lại sự ra đời của loài người và thế giới, bài thơ thể hiện tình yêu thương, sự trân trọng của Xuân Quỳnh dành cho trẻ em. Mọi điều tốt đẹp trên đời – thiên nhiên, gia đình, nhà trường – đều có mặt để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Trẻ em cần được yêu thương, che chở và dạy dỗ; đó cũng là trách nhiệm của cả gia đình và xã hội.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ năm chữ nhịp nhàng, giọng kể hồn nhiên như truyện cổ tích.
- Kết hợp tự sự, miêu tả với biểu cảm.
- Điệp ngữ (“từ…”, “rất…”, “màu xanh bắt đầu”), so sánh, liệt kê gợi thế giới tươi vui, giàu màu sắc.
- Trí tưởng tượng phong phú, cách nhìn thế giới bằng đôi mắt trẻ thơ.
Ý nghĩa nhan đề Chuyện cổ tích về loài người
Nhan đề gợi tò mò: bài thơ mượn hình thức truyện cổ tích để “giải thích” nguồn gốc loài người và vạn vật. Đây không phải lời giải thích khoa học mà là cách nhà thơ khẳng định một điều đẹp đẽ: trẻ em là trung tâm của thế giới, và mọi thứ ra đời vì trẻ.
Sơ đồ tư duy Chuyện cổ tích về loài người
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn nhanh các ý chính.

Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người
Bài thơ có yếu tố tự sự nên có thể tóm tắt như kể lại một câu chuyện. Hai mẫu ngắn dưới đây giúp em nắm nhanh mạch bài.
Mẫu 1 – Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người ngắn nhất
Thuở xưa, trời sinh ra trẻ con đầu tiên trên trái đất tối tăm. Vì trẻ con, mặt trời, cây cỏ, chim muông, sông biển ra đời. Để yêu thương và dạy dỗ trẻ, mẹ, bà, bố xuất hiện; rồi có trường lớp và thầy giáo dạy trẻ những bài học đầu tiên.
Mẫu 2 – Tóm tắt theo trình tự xuất hiện
Ban đầu trái đất chỉ có trẻ con, không cây cỏ, không ánh sáng. Mặt trời mọc lên cho trẻ nhìn rõ mọi vật; sắc xanh cây lá, hương sắc của hoa, tiếng chim, gió, dòng sông, biển, cánh buồm, đám mây và con đường lần lượt xuất hiện. Trẻ cần tình yêu nên có mẹ bế bồng, hát ru; trẻ muốn nghe chuyện nên có bà kể chuyện cổ tích; trẻ cần hiểu biết nên có bố dạy cho ngoan, cho biết nghĩ. Sau cùng, chữ viết, bàn ghế, trường lớp và thầy giáo ra đời, thầy viết lên bảng những chữ đầu tiên về chuyện loài người.
Lời kết
Chuyện cổ tích về loài người là món quà Xuân Quỳnh dành tặng tuổi thơ. Bài thơ nhắc người lớn hãy yêu thương, chăm sóc trẻ em, và nhắc các em biết trân trọng thiên nhiên, gia đình, thầy cô – những điều đã có mặt trên đời vì các em.
Xem thêm: