Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em là kiểu bài tự sự mà học sinh lớp 6 gặp ngay từ đầu năm ở cả ba bộ sách: Bài 1 Tôi và các bạn (và lặp lại ở Bài 3) của Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, Bài 4 Những trải nghiệm trong đời của Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, Bài 6 (và đề kể kỉ niệm ở Bài 3) của Ngữ văn 6 Cánh diều. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý chung, 12 bài văn mẫu mỗi bài một trải nghiệm khác nhau và những lỗi hay bị trừ điểm.

Yêu cầu của kiểu bài và dàn ý chung
Ba bộ sách diễn đạt khác nhau nhưng cùng đòi hỏi những điểm dưới đây. Em có thể dùng bảng này để tự kiểm tra bài sau khi viết xong.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Ngôi kể | Kể ở ngôi thứ nhất (tôi, em, mình); người kể chính là người trong cuộc. |
| Trải nghiệm được chọn | Là một sự việc cụ thể đã thật sự xảy ra với em, đủ để lại ấn tượng hoặc làm em thay đổi suy nghĩ. Không kể chung chung “những ngày hè” hay “cả năm học”. |
| Mở bài | Giới thiệu được trải nghiệm và gợi ra vì sao em nhớ nó. |
| Thân bài | Kể diễn biến theo trình tự hợp lí (thường là trước – sau); có thời gian, địa điểm, nhân vật; có chi tiết, hành động, lời nói làm câu chuyện sống động. |
| Cảm xúc | Cảm xúc, suy nghĩ của người kể xen vào từng chặng của câu chuyện, không dồn hết xuống câu cuối. |
| Kết bài | Cho thấy trải nghiệm có ý nghĩa gì với em: em hiểu thêm điều gì, thay đổi ra sao. |
| Diễn đạt | Dùng từ chính xác, câu đúng ngữ pháp, có từ ngữ nối các sự việc (sáng hôm ấy, lúc đó, mãi đến khi…), đoạn văn tách ý rõ. |
Điểm khác giữa các bộ: Kết nối tri thức ra đề hai lần (Bài 1 gắn với chủ đề bạn bè, Bài 3 gắn với yêu thương và chia sẻ); Chân trời sáng tạo có thêm đề Kể lại một trải nghiệm đáng nhớ đối với bản thân ở Bài 9; Cánh diều tách thành đề kể về một kỉ niệm (Bài 3, học cùng hồi kí) và đề kể lại một trải nghiệm đáng nhớ (Bài 6). Cách làm giống nhau, chỉ khác chủ đề nên chọn câu chuyện cho hợp.
Dàn ý bài văn kể lại một trải nghiệm của em
1. Mở bài
– Giới thiệu trải nghiệm: chuyện gì, xảy ra khi nào, với ai.
– Một câu gợi cảm xúc chung: vì sao đến giờ em vẫn nhớ (vui, xấu hổ, sợ hãi, biết ơn…).
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh xảy ra câu chuyện
+ Thời gian, địa điểm cụ thể.
+ Những người có mặt; em đang ở trong tâm trạng nào.
b. Diễn biến
+ Sự việc mở đầu: điều gì khiến câu chuyện bắt đầu.
+ Sự việc chính: chỗ gay cấn nhất, kể chậm lại, có hành động, lời nói, chi tiết nhìn thấy, nghe thấy.
+ Sự việc kết thúc: mọi chuyện được giải quyết thế nào.
c. Cảm xúc, suy nghĩ đan xen
+ Cảm xúc của em ở từng chặng (trước, trong, sau).
⇒ Thái độ của những người xung quanh giúp em nhận ra điều gì.
3. Kết bài
– Trải nghiệm ấy làm em thay đổi hoặc hiểu thêm điều gì.
– Mong muốn, lời tự nhủ của em hôm nay khi nhớ lại.
Mẹo chọn đề tài: hãy liệt kê ra nháp năm “lần đầu tiên” của em (lần đầu tự đi xe buýt, lần đầu nấu cơm…) và năm lần em từng rất xấu hổ hoặc rất tự hào. Chọn chuyện nào em nhớ được nhiều chi tiết nhất, không phải chuyện nghe “to tát” nhất.
Bài văn kể trải nghiệm ở trường, với thầy cô và bạn bè
Mẫu 1: Giọng nói quê trong ngày đầu chuyển trường
Tôi vẫn nhớ tiếng cười khúc khích ở dãy bàn cuối vào buổi sáng thứ hai đầu tiên của năm học lớp 6. Tiếng cười ấy không to, nhưng đủ làm hai tai tôi nóng ran và khiến tôi cúi gằm xuống mặt bàn còn thoang thoảng mùi sơn mới.
Mùa hè năm ấy, bố tôi chuyển công tác, cả nhà rời thị trấn nhỏ ở Nghệ An ra Hà Nội. Tôi mang theo một va li quần áo, một hộp kẹo lạc bà gói cho và cả giọng nói của quê mình. Hôm nhận lớp, cô chủ nhiệm mời từng bạn đứng lên tự giới thiệu. Đến lượt, tôi nói thật nhanh cho xong: tên em là Châu, nhà em ở Đô Lương mới chuyển ra đây. Giọng tôi trầm và nặng, dấu hỏi dấu ngã cứ lẫn vào nhau, đến cuối câu lại kéo dài ra như đang hỏi ai. Thế là có tiếng cười.
Mấy ngày sau, tôi nghe các bạn gọi nhau bắt chước giọng tôi. Không ai nói gì quá đáng, nhưng giờ ra chơi tôi chọn ngồi lại trong lớp, giả vờ đọc sách. Tôi tập nói nhỏ, nói ít, cố uốn từng chữ cho giống các bạn. Có hôm về nhà, mẹ hỏi chuyện trường lớp, tôi chỉ đáp cụt lủn một câu rồi vào phòng.
Cuối tháng chín, lớp tổ chức giờ sinh hoạt với chủ đề “Quê hương em”. Cô giao mỗi tổ cử một người kể chuyện. Tổ tôi không ai xung phong, cô liền gọi tôi. Tôi đứng lên, chân run, định từ chối. Nhưng nhìn tờ giấy trên bàn, nơi tôi đã chép lại câu chuyện về bà nội và vườn chè sau nhà, tôi bỗng nghĩ: nếu kể chuyện quê mà phải giấu giọng quê thì còn gì là quê nữa.
Tôi kể bằng đúng giọng của mình. Kể chuyện bà dậy từ lúc gà gáy để hái chè cho kịp phiên chợ, chuyện bà dạy tôi phân biệt búp chè non bằng đầu ngón tay. Lớp học im phăng phắc. Lúc tôi dừng lại, chính Thảo, cô bạn ngồi bàn cuối hay cười nhất, vỗ tay đầu tiên. Giờ ra chơi hôm đó, Thảo chạy lên hỏi tôi kẹo lạc quê tôi có giòn không. Tôi chia cho cả nhóm, và Thảo nói nhỏ rằng hôm trước bạn ấy không định trêu tôi đâu, chỉ vì thấy lạ tai thôi.
Đến giờ tôi vẫn nói giọng quê, chỉ là đã quen điều chỉnh vài từ để các bạn dễ nghe. Trải nghiệm ấy giúp tôi hiểu rằng điều làm mình khác người khác chưa chắc là điều đáng xấu hổ. Nhiều khi chỉ cần mình dám là chính mình một lần, người khác sẽ có cơ hội hiểu mình.
Mẫu 2: Quên lời bài hát trong buổi chào cờ
Nếu được chọn một buổi chào cờ để xóa khỏi trí nhớ, tôi sẽ chọn sáng thứ hai cuối tháng mười một năm lớp 6. Đó là tuần lớp tôi trực, và tôi được cô phân công hát đơn ca mở đầu chương trình chào mừng ngày Nhà giáo.
Tôi đã tập suốt một tuần, hát trong nhà tắm, hát cả lúc rửa bát. Thế mà khi cầm micro đứng trước gần một nghìn học sinh, nhìn hàng ghế thầy cô ngồi ngay trước mặt, đầu tôi bỗng trống trơn. Tôi hát trôi chảy đoạn đầu, đến điệp khúc thì lời cứ như bị ai lấy mất. Nhạc nền vẫn chạy. Tôi đứng im, miệng mở ra rồi lại đóng vào, nghe rõ cả tiếng tim mình đập trong tai.
Đúng lúc ấy, thầy tổng phụ trách đứng ở góc sân bắt đầu vỗ tay theo nhịp. Rồi các bạn lớp tôi hát theo, rồi cả sân trường cùng hát. Tôi nhớ lại lời và hát nốt bài trong tiếng hát của mọi người. Xuống khỏi bục, mặt tôi đỏ như gấc, nhưng đứa bạn thân chỉ huých vai tôi bảo: hôm nay trường mình có một tiết mục đồng ca bất ngờ hay nhất từ trước tới giờ.
Từ đó, trong ngăn cặp của tôi lúc nào cũng có một tờ giấy chép lời bài hát mình sắp biểu diễn, dù chưa phải lấy ra lần nào. Tôi cũng hiểu rằng đám đông không đáng sợ như mình tưởng, đôi khi chính họ là người kéo mình đứng dậy.
Mẫu 3: Gian hàng xôi lỗ hai mươi nghìn ở hội chợ xuân
Gian hàng của nhóm tôi ở hội chợ xuân năm lớp 6 có một tấm biển viết bằng bút dạ màu đỏ: “Xôi xéo nhà làm”. Biển to, chữ đẹp, xôi thơm, và cuối buổi chúng tôi lỗ đúng hai mươi nghìn đồng.
Theo kế hoạch, nhóm năm đứa chia việc rõ ràng: Ngọc và Hà nhờ mẹ đồ xôi từ tối hôm trước, Tuấn lo bày biện, Phương mời khách, còn tôi giữ hộp tiền vì tôi học toán khá nhất. Sáng hôm ấy sân trường đông nghịt. Khách đến liên tục, tôi vừa nhận tiền vừa trả lại, tay chân luống cuống. Có lúc ba người cùng chìa tiền về phía tôi, tôi cứ thế đếm vội rồi trả.
Khi hàng bán hết, cả nhóm ngồi xuống đếm tiền. Đếm lần thứ nhất thiếu hai mươi nghìn. Đếm lần thứ hai vẫn thiếu. Tuấn nhìn tôi, hỏi có phải tôi trả nhầm không. Tôi cáu, bảo cậu ấy không tin thì tự giữ tiền đi. Phương bênh tôi, Hà bênh Tuấn, năm đứa bỗng chia thành hai phe ngay giữa gian hàng còn ngổn ngang lá chuối.
Tôi đi ra góc sân, ngồi một mình. Càng nghĩ tôi càng thấy chắc là mình đã trả nhầm cho một vị khách nào đó lúc đông người. Tôi không cố ý, nhưng chính tôi là người giữ tiền. Tôi quay lại, nói thẳng với cả nhóm rằng có lẽ mình trả thừa cho ai đó, và tôi sẽ lấy tiền tiết kiệm bù vào. Tuấn im một lúc rồi lục túi lấy ra năm nghìn, bảo mỗi đứa góp một ít, vì hôm nay cả nhóm cùng bán chứ đâu phải mình tôi. Thế là năm đứa, mỗi đứa bốn nghìn, đủ hai mươi nghìn.
Số tiền gây quỹ của nhóm năm ấy không nhiều, nhưng tôi học được hai điều. Việc gì liên quan đến tiền thì phải chậm lại mà đếm. Và khi có lỗi, nhận phần của mình trước bao giờ cũng dễ hơn đi tìm lỗi của người khác.
Mẫu 4: Ván cờ vua thua một người bạn lặng lẽ
Trước ván cờ hôm ấy, tôi tin chắc mình sẽ vào chung kết giải cờ vua của trường. Tôi đã học cờ ở câu lạc bộ hai năm, từng đoạt giải ba cấp quận hồi lớp 5. Còn đối thủ của tôi ở vòng bán kết là Khang, một bạn lớp bên cạnh, người gầy, ít nói, đến lúc bốc thăm vẫn cầm theo một quyển sách.
Ván cờ bắt đầu lúc hai giờ chiều trong phòng thư viện. Tôi đi nhanh, nước nào cũng đặt quân xuống thật dứt khoát, thỉnh thoảng còn liếc ra cửa sổ như thể ván này chỉ là chuyện nhỏ. Khang thì khác. Cậu ấy nghĩ rất lâu, có nước cầm quân lên rồi lại đặt xuống chỗ cũ. Tôi sốt ruột, mấy lần gõ ngón tay xuống mặt bàn.
Đến nước thứ hai mươi mấy, tôi thấy một cơ hội ăn mã của Khang. Không kịp nghĩ, tôi đưa hậu lên. Khang nhìn bàn cờ khá lâu, rồi nhẹ nhàng đẩy con tượng chéo sang. Hậu của tôi bị bắt. Tôi ngồi chết lặng. Mười nước sau, vua của tôi không còn đường chạy.
Tôi đứng dậy, gạt mấy quân cờ trên bàn và bỏ ra ngoài mà không bắt tay đối thủ. Thầy trọng tài gọi với theo, tôi vẫn đi. Về nhà, tôi nằm trùm chăn, vừa tức vừa xấu hổ. Tối đó bố vào phòng, không hỏi gì về ván cờ, chỉ hỏi tôi có nhớ ngày đầu học cờ, chính tôi từng thua cả chục ván liền mà vẫn thích không. Rồi bố bảo thua không làm người ta nhỏ đi, nhưng cách người ta đứng dậy sau khi thua thì có.
Sáng hôm sau, tôi đến lớp của Khang. Tôi xin lỗi vì đã bỏ đi như thế. Khang hơi ngạc nhiên rồi cười, bảo cậu ấy cũng run lắm, chỉ là cố bình tĩnh thôi. Cậu ấy còn chỉ cho tôi chỗ sai: tôi đã mải nhìn quân mình muốn ăn mà quên nhìn xem đối phương đang chuẩn bị gì. Chiều hôm đó, hai đứa ngồi chơi thêm ba ván ở thư viện. Tôi thắng một, thua hai, nhưng vui hơn hẳn ván bán kết.
Khang sau đó vô địch giải trường. Còn tôi có thêm một người bạn và một thói quen mới: trước mỗi nước đi, tôi đặt tay lên đầu gối, đếm thầm đến năm. Ván cờ thua năm ấy dạy tôi bình tĩnh, và dạy tôi rằng tôn trọng đối thủ cũng là tôn trọng chính trò chơi mình yêu thích.
Bài văn kể trải nghiệm trong gia đình
Mẫu 5: Đêm bão mất điện, cả nhà ngồi quanh ngọn nến
Cơn bão cuối tháng tám năm ngoái đổ bộ vào thành phố tôi đúng vào tối thứ bảy. Từ chiều, trời đã vàng đục một màu lạ. Gió rít qua khe cửa, cành bàng trước ngõ quật vào tường từng hồi. Khoảng tám giờ tối, sau một tiếng “phụt”, cả khu phố chìm vào bóng tối.
Nhà tôi có bốn người cùng ông nội. Lúc điện tắt, mỗi người đang ở một góc: bố ngồi máy tính làm nốt báo cáo, mẹ xem phim trên điện thoại, em gái tôi xem hoạt hình, còn tôi đang chơi trò chơi trên máy tính bảng. Ông thì ngồi ở phòng khách như mọi tối, nghe đài. Điện thoại của bố mẹ yếu pin, mẹ bảo phải tắt đi để dành gọi khi cần. Bố tìm được hai cây nến trong ngăn kéo, thắp lên đặt giữa bàn phòng khách. Thế là cả nhà, lần đầu tiên sau rất lâu, ngồi chung một chỗ mà không có màn hình nào sáng.
Lúc đầu ai cũng lúng túng. Em gái tôi mếu máo vì sợ tiếng gió. Mẹ ôm em vào lòng. Bố đi kiểm tra lại các cửa sổ, chèn thêm khăn vào khe cửa. Tôi ngồi bó gối, thấy thời gian trôi chậm đến khó chịu. Rồi ông tôi cất tiếng, chậm rãi kể về những trận bão ông gặp hồi còn nhỏ ở quê.
Ông kể năm ông mười tuổi, nước lên ngập tận bậc thềm, cả nhà phải buộc chum gạo lên xà nhà. Ông kể chuyện cụ cố đội nón đi đắp bờ giữa đêm, sáng ra về, quần áo ướt sũng mà vẫn cười vì giữ được ruộng mạ. Ông kể về con trâu tên là Mộc mà ông chăn suốt mấy năm, đến ngày bán nó đi ông khóc cả buổi. Ánh nến hắt lên khuôn mặt ông, những nếp nhăn như sâu hơn. Tôi chưa bao giờ nghe ông kể những chuyện này. Hóa ra ông tôi cũng từng là một cậu bé sợ bão, từng khóc vì thương một con vật.
Em gái tôi ngủ thiếp đi trên đùi mẹ từ lúc nào. Bố ngồi xuống cạnh ông, thỉnh thoảng kể thêm chuyện hồi bố đi học phải lội qua con mương đầu làng. Mẹ thì kể lần đầu về ra mắt ông bà, bị con chó nhà hàng xóm đuổi chạy cả một đoạn đường. Cả nhà cười rộ lên. Ngoài kia gió vẫn gào, nhưng trong căn phòng nhỏ có hai ngọn nến, tôi thấy ấm lạ.
Gần nửa đêm thì có điện. Đèn bật sáng, quạt chạy, tivi tự khởi động. Bố đứng dậy cất nến, mẹ bế em vào giường, còn tôi theo thói quen với tay lấy chiếc máy tính bảng. Nhưng rồi tôi đặt nó xuống. Tôi bỗng thấy tiếc buổi tối vừa qua, tiếc những câu chuyện chưa kể hết của ông.
Sáng hôm sau, ngõ nhà tôi ngổn ngang lá cây, cây bàng gãy một cành lớn. Mọi thứ dọn dẹp xong chỉ trong một buổi. Riêng tôi giữ lại một điều: từ hôm ấy, mỗi tối thứ bảy, tôi xin ông kể cho nghe một chuyện ngày xưa. Có khi chỉ mười phút, có khi cả tiếng. Cơn bão làm cả phố mất điện một đêm, nhưng lại cho tôi gặp một người ông mà trước đó tôi chưa thật sự biết.
Mẫu 6: Bát canh rau ngót mặn chát đầu tiên
Mẹ tôi là y tá, mỗi tuần có hai đêm trực ở bệnh viện. Những tối ấy, bố thường về muộn, hai bố con ăn tạm bánh mì hoặc mì gói. Một tối thứ năm, tôi quyết định sẽ tự nấu một bữa cơm thật sự.
Tôi vo gạo, cắm cơm theo đúng vạch mẹ chỉ. Tôi rán hai quả trứng, quả đầu cháy cạnh, quả sau thì đẹp hơn. Món khó nhất là canh rau ngót nấu thịt băm. Tôi tuốt rau, rửa ba lần nước, phi hành cho thơm như mẹ vẫn làm. Đến lúc nêm, tôi cho một thìa muối, nếm thấy nhạt, lại thêm một thìa nữa. Mùi canh bốc lên thơm phức, tôi nghĩ mình đã thành công.
Bố về lúc bảy giờ rưỡi, nhìn mâm cơm thì tròn mắt. Bố ăn một miếng trứng khen giòn, húp một thìa canh rồi khen vừa. Thế nhưng cứ ăn được vài miếng, bố lại rót nước uống. Đến khi bố uống cốc thứ ba, tôi mới nếm lại bát canh. Mặn chát. Tôi chỉ muốn chui xuống gầm bàn. Bố cười, bảo canh mặn thì thêm nước sôi vào là thành canh vừa, có gì đâu.
Tối ấy hai bố con chế thêm nước, ngồi ăn hết nồi canh. Nằm trên giường, tôi nghĩ đến mẹ: ngày nào mẹ cũng nấu ba bữa, chưa bao giờ ai khen hay chê, mà nồi canh nào cũng vừa. Hóa ra một bữa cơm bình thường lại cần nhiều cẩn thận đến thế. Bây giờ tôi nấu canh đã khéo hơn, và lần nào nêm muối cũng nhớ nếm từng chút một.
Mẫu 7: Chiếc máy bay gỗ gãy cánh và tờ giấy của em trai
Thằng Cún, em trai tôi, năm nay lên năm tuổi và chuyện gì cũng muốn chạm vào. Tôi đã nhiều lần dặn nó không được động vào góc bàn học của tôi, nơi đặt chiếc máy bay gỗ tôi mất cả tuần để lắp ráp và sơn từng chi tiết.
Chiều hôm ấy, đi học thêm về, tôi thấy chiếc máy bay nằm dưới sàn, một bên cánh gãy rời. Cún đứng cạnh bàn, hai tay giấu sau lưng. Tôi không cần hỏi cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi quát rất to, bảo nó là đồ phá hoại, bảo từ giờ đừng bao giờ vào phòng tôi nữa. Cún òa khóc chạy đi tìm mẹ. Tôi đóng sầm cửa, nhặt hai mảnh cánh lên mà tức đến run tay.
Cả bữa tối hôm đó tôi không nói với Cún câu nào. Nó gắp cho tôi miếng thịt, tôi gạt sang một bên. Mẹ nhìn tôi, không nói gì. Tôi biết mẹ chờ tôi tự nguôi, nhưng lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến bảy buổi chiều mình đã ngồi lắp máy bay.
Tối muộn, lúc tôi đánh răng xong quay lại phòng, chiếc máy bay đã nằm trên bàn. Cánh gãy được dán lại bằng mấy vòng băng dính trong, quấn vụng về, dày cộm, lệch hẳn sang một bên. Bên cạnh là một tờ giấy vẽ bằng bút sáp: hai hình người, một to một nhỏ, đứng cạnh một cái máy bay. Phía dưới có mấy chữ nguệch ngoạc mà chắc Cún đã nhờ mẹ đánh vần: Anh ơi em xin lỗi.
Tôi đứng nhìn tờ giấy rất lâu. Cún mới năm tuổi, chưa biết viết, vậy mà nó đã ngồi dán, ngồi vẽ, ngồi nghe mẹ đánh vần từng chữ chỉ để làm lành với anh. Còn tôi, một đứa học lớp 6, lại hét vào mặt em vì một món đồ chơi. Tôi sang phòng mẹ. Cún đã ngủ, mặt vẫn còn vệt nước mắt khô. Tôi ngồi xuống cạnh giường, xoa đầu em.
Sáng hôm sau, tôi rủ Cún cùng sơn lại chiếc cánh. Nó chọn màu vàng, màu chẳng hợp gì với thân máy bay xanh, nhưng tôi vẫn để nó sơn. Đến bây giờ chiếc máy bay một cánh vàng ấy vẫn đặt trên bàn học của tôi. Mỗi lần nhìn nó, tôi nhớ rằng đồ vật hỏng có thể sửa, nhưng một lời nói nặng với người thân thì rất khó lấy lại.
Mẫu 8: Buổi sáng tự vá săm xe cùng bố
Sáng chủ nhật, chiếc xe đạp của tôi xẹp lốp sau đúng một ngày trước buổi đi dã ngoại của lớp. Tôi dắt xe ra định nhờ bố mang ra hiệu sửa. Bố lại lấy ra một hộp đồ nghề cũ và bảo: hôm nay con tự vá, bố chỉ ngồi cạnh.
Tôi tháo bánh xe theo lời bố, lóng ngóng mãi mới cạy được săm ra khỏi lốp. Bố bảo tôi bơm căng chiếc săm rồi nhúng từng đoạn vào chậu nước. Đến đoạn thứ tư, một chuỗi bọt nhỏ sủi lên. Tôi reo lên như vừa tìm thấy kho báu. Tôi đánh giấy ráp, bôi keo, dán miếng vá, đè thật chặt. Tay tôi đen nhẻm dầu, mồ hôi chảy xuống cả mắt. Có lúc miếng vá bị lệch, tôi phải bóc ra làm lại từ đầu. Bố vẫn ngồi trên chiếc ghế đẩu, tay cầm cốc trà, chỉ nhắc một câu: keo phải se mặt rồi mới dán, vội là hỏng. Tôi đợi, đếm thầm đến sáu mươi, rồi mới đặt miếng vá xuống.
Gần trưa, bánh xe được lắp lại, căng tròn. Tôi đạp thử một vòng quanh ngõ, nghe tiếng lốp lăn trên đường mà sướng không tả nổi. Bà bán nước đầu ngõ hỏi xe vừa sửa ở đâu mà chạy êm thế, tôi ưỡn ngực trả lời: cháu tự vá đấy ạ. Sáng hôm sau tôi đi dã ngoại bằng chính chiếc xe mình tự sửa. Từ buổi sáng ấy, tôi hiểu vì sao bố không sửa giúp: có những việc phải tự tay làm một lần, mình mới thấy mình lớn thêm một chút.
Bài văn kể trải nghiệm lần đầu tự làm một việc
Mẫu 9: Lần đầu tự đi xe buýt đến nhà bà
Lòng bàn tay tôi hôm ấy có một con số viết bằng bút bi: số hiệu chuyến xe buýt đến nhà bà ngoại. Mẹ viết vào đó vì sợ tôi quên, dù tôi đã đọc thuộc lòng từ tối hôm trước. Năm đó tôi học lớp 6, và đó là lần đầu tiên mẹ đồng ý cho tôi tự đi một mình.
Mẹ đưa tôi ra điểm chờ, dặn đi dặn lại: lên xe thì ngồi gần cửa, đếm đủ bảy điểm dừng, đến điểm có cây xăng thì xuống, bà sẽ đứng chờ ở đầu ngõ. Xe đến, tôi bước lên, chìa vé tháng cho bác phụ xe, chọn chiếc ghế cạnh cửa sổ và vẫy tay chào mẹ. Mẹ đứng nhìn theo cho đến khi xe khuất hẳn. Tôi thấy mình như một người lớn thật sự.
Tôi đếm điểm dừng rất cẩn thận: một, hai, ba. Đến điểm thứ tư, xe dừng lâu vì có nhiều người lên. Nắng chiếu qua cửa kính ấm áp, tiếng máy xe đều đều, tôi tựa đầu vào kính, nghĩ một chút về bữa canh cua bà hứa nấu. Rồi tôi mở mắt ra và nhận ra mình không biết xe đã đi qua bao nhiêu điểm.
Tim tôi đập thình thịch. Ngoài cửa sổ là một con phố hoàn toàn lạ, không có cây xăng nào cả. Tôi muốn khóc, muốn bấm chuông xuống ngay, rồi lại sợ xuống ở chỗ lạ càng lạc hơn. Tôi nhớ lời mẹ: nếu bị lạc thì hỏi người đang làm việc, đừng đi theo người lạ. Tôi đứng dậy, bám tay vịn đi đến chỗ bác phụ xe, nói nhỏ rằng cháu cần xuống ở điểm có cây xăng gần chợ, hình như cháu đi quá rồi.
Bác nhìn tôi, rồi nhìn con số trên tay tôi, bật cười hiền. Bác bảo cháu đi quá hai điểm thôi, đừng lo, điểm tới bác cho xuống, sang đường bắt xe chiều ngược lại, đi hai điểm là đến. Bác còn dặn bác tài dừng sát lề cho tôi xuống an toàn. Xuống xe, tôi đứng ở điểm chờ bên kia đường, chân vẫn hơi run. Một cô bán nước ngồi cạnh đó hỏi tôi đi đâu, rồi cho tôi mượn điện thoại gọi về cho mẹ. Mẹ nghe xong không mắng, chỉ hỏi con có ổn không và bảo mẹ sẽ gọi cho bà ra đón ở điểm mới.
Mười lăm phút sau, tôi bước xuống chuyến xe ngược chiều. Bà tôi đã đứng đó, nón lá cầm tay, nheo mắt nhìn từng người xuống xe. Thấy tôi, bà chạy lại ôm chặt, bảo cháu bà đi được một mình cả quãng đường xa thế này rồi đấy. Tôi định kể chuyện ngủ quên, nhưng bà đã biết qua điện thoại. Bà chỉ cười, xoa lưng tôi.
Bữa canh cua trưa hôm đó ngon nhất trong trí nhớ của tôi. Chuyến đi một mình đầu tiên không trọn vẹn như tôi tưởng tượng, nhưng nó dạy tôi nhiều hơn một chuyến đi suôn sẻ. Tôi học được cách bình tĩnh khi gặp sự cố, biết hỏi đúng người, và hiểu rằng tự lập không có nghĩa là không bao giờ cần ai giúp.
Mẫu 10: Hai mươi lăm mét đầu tiên ở bể bơi
Tôi sợ nước từ năm lên bảy, sau một lần trượt chân xuống ao nhà bác và bị sặc. Vì thế, khi bố đăng kí cho tôi lớp học bơi hè trước khi vào lớp 6, tôi đã khóc cả tối.
Mấy buổi đầu, tôi chỉ dám bám thành bể. Thầy dạy bơi không ép, chỉ cho tôi tập thở: hít vào trên mặt nước, thở ra thành bọt dưới nước. Có hôm bạn cùng lớp bơi đã thành thạo, lướt qua tôi như con cá, còn tôi vẫn đứng ôm thành bể, mặt đỏ bừng vì xấu hổ. Về nhà tôi bảo bố cho nghỉ, bố chỉ hỏi con muốn sợ nước cả đời à. Câu hỏi ấy làm tôi mất ngủ cả đêm. Đến buổi thứ năm, tôi đã dám buông tay, nổi được vài giây. Buổi thứ mười, thầy bảo hôm nay thử bơi từ đầu bể này sang đầu bể kia.
Hai mươi lăm mét lúc ấy dài như cả cây số. Tôi đạp chân, quạt tay, cứ được vài nhịp lại muốn đứng lên. Nhưng tôi nghe tiếng thầy đi dọc bờ bể, đếm nhịp cho tôi. Khi bàn tay chạm vào thành bể bên kia, tôi ngoi lên, ho sặc sụa mà vẫn cười. Mấy bạn trong lớp bơi vỗ tay, thầy giơ ngón tay cái về phía tôi. Tối hôm ấy, tôi kể cho bố nghe từng nhịp quạt tay, kể đi kể lại đến mức em gái phải bịt tai. Hôm ấy tôi hiểu rằng nỗi sợ không biến mất, chỉ là mình đã đi được xa hơn nó một chút.
Mẫu 11: Buổi sáng đi thăm đó cùng ông ngoại
Quê ngoại tôi có một cánh đồng trũng nằm sau lũy tre. Mùa nước, ông ngoại thường đặt mấy cái đó dọc bờ mương, sáng sớm ra thăm. Hè năm lớp 6, tôi về quê chơi và năn nỉ mãi ông mới cho đi theo.
Bốn giờ sáng, ông lay tôi dậy. Ngoài sân còn tối, chỉ có ánh đèn pin vàng vọt ông đeo trên trán. Tôi xỏ đôi ủng cao su quá cỡ, lạch bạch theo ông ra đồng. Sương xuống ướt cả tóc. Đường bờ ruộng hẹp và trơn, ông đi trước, thỉnh thoảng quay lại đưa tay cho tôi nắm. Bàn tay ông thô ráp, chai sần, nhưng nắm vào thì thấy vững vàng lạ lùng.
Chiếc đó đầu tiên ông nhấc lên có mấy con tép và một con cá rô to bằng ba ngón tay, quẫy tanh tách. Tôi reo ầm lên, ông vội suỵt khẽ vì sợ đánh động cả cánh đồng. Chiếc thứ hai trống không. Chiếc thứ ba có cả một con lươn, tôi sợ không dám chạm vào. Đến chiếc cuối cùng, có mấy con cá diếc bé xíu, chỉ dài bằng đốt ngón tay. Tôi định bỏ hết vào giỏ, nhưng ông cầm từng con thả lại xuống mương. Ông bảo cá nhỏ thì để chúng lớn, mình lấy hết bây giờ thì sang năm lấy gì mà bắt.
Khi chúng tôi về đến nhà, trời vừa sáng hẳn. Bà ngoại đã nhóm bếp, nồi cháo trắng sôi lục bục. Bữa sáng hôm ấy có cá rô kho khế, tôi ăn ba bát mà vẫn còn thèm.
Bây giờ ông tôi đã yếu, không ra đồng được nữa. Những cái đó tre treo trên gác bếp phủ một lớp bụi mỏng. Mỗi lần về quê, tôi vẫn trèo lên ngắm chúng, nhớ bàn tay ông dắt tôi qua bờ ruộng trơn và câu chuyện về những con cá nhỏ được thả về mương. Buổi sáng ấy cho tôi biết thế nào là một con người biết nghĩ cho cả những mùa sau.
Mẫu 12: Giải cứu chú mèo kẹt trên mái tôn
Ba ngày liền, cứ chập tối là ngõ nhà tôi lại vang lên tiếng mèo kêu. Tiếng kêu yếu dần, khàn đi, nghe như tiếng trẻ con khóc. Đến tối thứ ba, tôi và thằng Tú nhà bên quyết định đi tìm cho bằng được.
Chúng tôi soi đèn pin khắp các bức tường, cuối cùng phát hiện một chú mèo con lông khoang nằm co ro trên mái tôn của nhà kho cuối ngõ, ngay chỗ mái tiếp giáp với bức tường cao. Có lẽ nó trèo lên rồi không dám nhảy xuống. Mái tôn cao gần ba mét, hai đứa không với tới.
Tú chạy về mượn cái thang nhôm của bố. Tôi xin mẹ cái rổ nhựa và một mẩu cá kho. Bác Hùng chủ nhà kho nghe chuyện cũng ra giữ chân thang giúp. Tôi trèo lên, tay run run, đặt cái rổ có miếng cá lên mái. Chú mèo nhìn tôi, kêu một tiếng rồi lùi lại. Tôi đợi. Năm phút, mười phút. Mỏi chân quá, tôi định bỏ cuộc thì nó bò từng bước về phía miếng cá. Tôi chụp lấy, ôm nó vào ngực. Chú mèo hoảng sợ cào một đường dài lên cánh tay tôi, rát buốt, nhưng tôi không buông.
Xuống đến đất, cả ba người cùng thở phào. Mẹ bôi thuốc cho tôi, vừa bôi vừa mắng khẽ vì tội liều. Chú mèo được chúng tôi cho uống sữa, ăn cá, rồi ngủ ngon lành trong thùng các tông lót khăn cũ. Không ai đến nhận, nên nó ở lại nhà tôi luôn. Tôi đặt tên nó là Mái Tôn.
Bây giờ Mái Tôn đã béo tròn và rất lười, hay nằm sưởi nắng trên bậu cửa sổ. Vết xước trên tay tôi đã mờ hẳn. Tôi không nghĩ mình làm được việc gì to tát, chỉ biết rằng nếu tối hôm ấy hai đứa lờ đi tiếng kêu kia, có lẽ đã có một sinh linh nhỏ không qua khỏi. Đôi khi, chịu dừng lại để lắng nghe là đủ để giúp được ai đó.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể cả một quãng thời gian dài (“mùa hè của em”, “năm lớp 5”) nên bài thành liệt kê. | Thu hẹp lại một buổi, một sự việc. Một buổi chiều kể kĩ hay hơn cả tháng kể lướt. |
| Đổi ngôi kể giữa chừng (đang “tôi” lại thành “bạn ấy”). | Giữ ngôi thứ nhất từ đầu đến cuối; nhân vật khác gọi bằng tên. |
| Cảm xúc dồn hết vào kết bài bằng những câu chung chung. | Đặt cảm xúc vào từng chặng: trước khi sự việc xảy ra em mong gì, lúc gay cấn em sợ gì, sau đó em nghĩ gì. |
| Thân bài chỉ có sự việc, không có chi tiết. | Mỗi đoạn có ít nhất một chi tiết nhìn thấy, nghe thấy hoặc một câu nói của nhân vật. |
| Kết bài rút ra bài học to tát, không khớp với câu chuyện. | Bài học phải mọc ra từ chính chuyện đã kể. Chuyện nấu canh mặn thì bài học là hiểu sự vất vả của mẹ, không phải “phải yêu Tổ quốc”. |
| Chép một bài mẫu có sẵn, kể chuyện không có thật. | Giám khảo nhận ra rất nhanh vì bài thiếu chi tiết riêng. Hãy dùng bài mẫu để học cách mở, cách chuyển đoạn, còn câu chuyện phải là của em. |
Mẹo nhỏ: viết xong, đọc to bài văn một lượt. Câu nào đọc vấp là câu đó quá dài hoặc thiếu chủ ngữ. Đếm xem bài có bao nhiêu từ nối thời gian (sáng hôm ấy, lúc đó, rồi, cuối cùng…): ít quá thì câu chuyện bị rời rạc.
Gợi ý bài nói: kể lại một trải nghiệm trước lớp
Cả ba bộ sách đều có phần Nói và nghe cùng đề (Kết nối tri thức: Kể lại một trải nghiệm của em; Chân trời sáng tạo: Kể lại một trải nghiệm của bản thân; Cánh diều: Kể lại một trải nghiệm đáng nhớ, Kể về một kỉ niệm của bản thân). Có thể dùng chính bài viết của mình làm bài nói, chỉ cần chuyển sang văn nói:
- Mở đầu bằng lời chào và một câu gợi tò mò, ví dụ hỏi các bạn đã bao giờ ngủ quên trên xe buýt chưa.
- Không đọc thuộc bài viết. Ghi ra phiếu năm ý chính theo thứ tự, nhìn phiếu để nhớ mạch.
- Câu ngắn hơn câu viết; dừng lại một nhịp ở chỗ gay cấn nhất.
- Nhìn về phía người nghe, giọng to vừa đủ, có thể dùng cử chỉ tay khi kể hành động.
- Kết thúc bằng điều em rút ra và lời cảm ơn; sau đó lắng nghe câu hỏi của các bạn.
Ví dụ đoạn mở đầu bài nói: Chào cô và các bạn. Các bạn có bao giờ đứng trên bục, cầm micro và bỗng quên sạch lời bài hát chưa? Mình thì có, và chuyện đó xảy ra trước gần một nghìn người. Hôm nay mình xin kể lại buổi chào cờ đáng nhớ ấy.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu em mới làm quen với kiểu bài, hãy đọc các mẫu ngắn (Mẫu 2, Mẫu 8, Mẫu 10) để thấy một trải nghiệm chỉ cần ba bốn đoạn là đủ ý. Muốn viết bài dài, giàu chi tiết, hãy xem Mẫu 4, Mẫu 5, Mẫu 9. Đề gắn với chủ đề yêu thương, chia sẻ thì Mẫu 6, Mẫu 7, Mẫu 11 phù hợp. Dù chọn mẫu nào, câu chuyện trong bài làm của em vẫn nên là chuyện của chính em.
Xem thêm:
- Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên (Bài 1, Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Bắt nạt và Soạn bài Cô bé bán diêm (Kết nối tri thức 6)
- Soạn bài Cô Gió mất tên và Soạn bài Giọt sương đêm (Bài 4, Chân trời sáng tạo 6)
- Soạn bài Trong lòng mẹ (Bài 3, Cánh diều 6) và Soạn bài Ông lão đánh cá và con cá vàng (Bài 6, Cánh diều 6)