Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch là bài Viết của lớp 9 ở hai bộ sách, và cả hai đều đặt nó cạnh những trang bi kịch: sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức đưa đề vào Bài 5 Đối diện với nỗi đau (tập một), sau hai đoạn trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Lơ Xít; sách Ngữ văn 9 Cánh diều đặt ở Bài 9 Bi kịch và truyện (tập hai), với đề phân tích lời độc thoại của Ham-lét. Dưới đây là những gì kiểu bài đòi hỏi, một dàn ý dùng được cho mọi vở, 10 bài văn mẫu về 10 vở kịch hoặc đoạn trích khác nhau (bi kịch Sếch-xpia, kịch cổ điển Pháp, kịch nói Việt Nam, chèo cổ), một bảng những lỗi dễ mắc và vài đề tài để em mang sang tiết Nói và nghe.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm kịch
Phân tích kịch khác phân tích truyện ở chỗ người viết không có lời kể của tác giả để dựa vào. Mọi điều về nhân vật đều phải suy ra từ những gì nhân vật nói, làm và từ vài dòng chỉ dẫn in nghiêng của kịch bản. Tổng hợp yêu cầu của hai bộ sách, một bài đạt cần:
- Giới thiệu và nêu ý kiến chung: tên vở hoặc đoạn trích, tác giả, thể loại (bi kịch, hài kịch, chính kịch, chèo…), vị trí của đoạn trích trong vở, kèm một nhận định mà cả bài sẽ làm sáng tỏ.
- Gọi tên xung đột: chủ đề của một vở kịch lộ ra qua xung đột, nên phải chỉ ra được hai lực lượng, hai giá trị hoặc hai tiếng nói đang va vào nhau, kể cả khi cuộc va chạm diễn ra bên trong một nhân vật.
- Phân tích vài yếu tố hình thức nổi bật nhất: hành động kịch, lời thoại (lời đối đáp giữa các nhân vật, độc thoại, bàng thoại), nhân vật, tình huống, chỉ dẫn sân khấu, với bằng chứng lấy từ văn bản. Mỗi yếu tố cần nói rõ nó giúp chủ đề hiện ra thế nào, không chỉ gọi tên.
- Luận điểm có trật tự: có thể đi theo từng đặc điểm thể loại, hoặc bám thật sâu một đặc điểm nổi bật rồi nối sang các đặc điểm còn lại; tránh kể lại từng lớp kịch.
- Đánh giá ở cuối bài: tác phẩm có ý nghĩa gì, đáng quý ở đâu, và còn đặt ra điều gì cho người đọc hôm nay.
| Bộ sách | Vị trí, trang | Đề và điều sách nhấn mạnh |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 1, Bài 5 Đối diện với nỗi đau (trang 132–136) | Đề mở: tự chọn một vở kịch hoặc một trích đoạn, thuộc bất kì thể loại kịch nào. Sách có một bài viết tham khảo phân tích một vở bi kịch, chỉ ra từng bước: nhận định chung, tóm tắt, chủ đề, xung đột, hành động, nội tâm nhân vật, giá trị. Khi tìm ý, sách khuyên xác định chủ đề qua xung đột, xem lại tri thức về kịch đã học từ năm lớp 8 đến nay, rồi chọn vài phương diện nổi bật để đi sâu. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 9 Bi kịch và truyện (trang 97–99) | Lớp 8 đã học phân tích hài kịch, lớp 9 tập trung vào bi kịch. Thứ được phân tích là kịch bản in trên trang sách chứ không phải buổi diễn, có thể là cả vở hay một phần. Đề thực hành ở trang 98: phân tích vai trò và ý nghĩa những lời độc thoại của Ham-lét, từ đoạn bắt đầu bằng câu hỏi “Sống, hay không sống?” đến lời dặn “đừng quên những tội lỗi của ta”. Phần rèn kĩ năng dạy thao tác giải thích: làm rõ một khái niệm (chẳng hạn độc thoại là gì) và làm rõ nguyên nhân (vì sao độc thoại tạo nên tính bi kịch). |
Dàn ý bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch
1. Mở bài
- Nêu tên vở hoặc đoạn trích, tác giả, thể loại; vị trí đoạn trích (hồi, cảnh, lớp) nếu nhớ chắc.
- Đưa ra nhận định chung: xung đột trung tâm và điều tác giả muốn nói qua nó.
- Cách vào bài có thể đổi: từ một chỉ dẫn sân khấu, một đồ vật trên sân khấu, một câu thoại, lời tựa tác giả viết cho vở, hoặc nêu thẳng đề.
2. Thân bài
- Bối cảnh và tình huống, chỉ giữ những sự việc phần phân tích sẽ dùng (hai, ba câu là đủ).
- Xung đột: giữa ai với ai, giữa giá trị nào với giá trị nào; xung đột bên ngoài có đi vào nội tâm nhân vật không; nó được đẩy lên hay được giải quyết ở đâu.
- Hành động và lời thoại: nhân vật làm gì trước tình huống; lời đối thoại cho thấy quan hệ giữa các nhân vật ra sao; lời độc thoại phơi ra điều gì nhân vật không nói được với ai.
- Nhân vật: tính cách bộc lộ qua lựa chọn; nhân vật đối lập hoặc nhân vật đi kèm làm nổi bật nhân vật chính thế nào.
- Chỉ dẫn sân khấu và các yếu tố riêng của thể loại (với bi kịch: kết cục mất mát; với chèo: hát, múa, xưng danh với khán giả).
- Chủ đề và tư tưởng: điều vở kịch đặt ra về con người, xã hội.
3. Kết bài
- Khẳng định vở kịch hay ở nội dung nào, ở cách viết nào, nói ngắn gọn bằng lời mới chứ không chép lại mở bài.
- Nói điều em còn nghĩ mãi sau khi đọc, bám vào một hình ảnh hoặc một câu hỏi cụ thể.
Dàn ý mẫu áp vào đề Cánh diều (độc thoại của Ham-lét)
- Mở bài: đoạn trích Sống, hay không sống? trong Ham-lét của Sếch-xpia; nhận định: lời độc thoại là nơi duy nhất Ham-lét được là chính mình giữa một cung điện đầy kẻ rình nghe.
- Giải thích: độc thoại là lời nhân vật tự nói với mình; vì sao bi kịch cần độc thoại.
- Bối cảnh: vua và Pô-lô-ni-út đặt bẫy, Ham-lét đang giả điên.
- Nội dung lời độc thoại: lựa chọn giữa cam chịu và chống lại; nghĩ về cái chết rồi chùn lại trước cõi không ai biết; bản kê các thói ác ngoài đời.
- Xung đột nội tâm: nghĩ càng sâu càng khó hành động; vì sao đó là bi kịch.
- Lời thoại với Ô-phê-li-a: con người thật lóe lên rồi quay lại vai giả điên.
- Kết bài: giá trị của lời độc thoại với nhân vật và với người đọc.
Bi kịch Sếch-xpia và kịch cổ điển châu Âu
Mẫu 1: Rô-mê-ô và Giu-li-ét – tình yêu thắp sáng giữa khu vườn của kẻ thù
Cảnh này chỉ cần một sân khấu hai tầng: phía trên là khung cửa sổ, phía dưới là khu vườn tối của nhà Ca-piu-lét, nơi một chàng trai họ Môn-ta-ghiu vừa trèo qua tường. Từ cách sắp xếp giản dị ấy, Sếch-xpia dựng nên cảnh hẹn hò được diễn lại nhiều bậc nhất trên các sân khấu thế giới. Đọc đoạn trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong sách Ngữ văn 9, em nhận ra sức sống của nó không nằm riêng ở những lời yêu say đắm, mà ở chỗ tình yêu ấy được đặt ở chính nơi hận thù bủa vây dày nhất, và chính sự bủa vây làm nó sáng rõ hơn.
Thời gian là đêm, ngay sau buổi dạ hội nơi hai người vừa gặp, vừa yêu, rồi mới hay người kia mang họ của kẻ thù gia đình mình. Không gian là đất của kẻ thù; nếu người nhà Giu-li-ét bắt gặp, Rô-mê-ô khó giữ được mạng. Như vậy, trước khi câu thoại đầu tiên cất lên, xung đột đã nằm sẵn trong cảnh trí: một bên là khao khát được gần nhau, một bên là bức tường cao và những thanh gươm đang ngủ quanh tòa nhà. Người đọc theo từng lời nói mà lòng không yên, vì biết giây phút êm đềm này có thể vỡ ra bất cứ lúc nào.
Điều khiến em thích nhất là Sếch-xpia để Rô-mê-ô nói bằng ngôn ngữ của ánh sáng giữa đêm tối. Chàng nhìn lên khung cửa và thấy Giu-li-ét như mặt trời vừa mọc, đôi mắt nàng sáng hơn cả các vì sao. Lối so sánh cường điệu ấy, nếu đặt vào miệng ai đó giữa ban ngày, có lẽ sẽ hơi quá. Nhưng giữa khu vườn tối, nó hợp lí lạ thường: với người đang yêu, nàng là nguồn sáng duy nhất của đêm hôm ấy. Ánh sáng ở đây còn mang niềm tin của thời Phục hưng vào con người, khi vẻ đẹp của một cô gái mười mấy tuổi được đặt ngang với trời sao. Còn bóng tối là mối thù của hai dòng họ, thứ đã có từ trước khi họ ra đời và không ai trong hai người chọn lấy.
Cách tổ chức lời thoại cũng là một phát hiện. Ở phần đầu, hai người chưa trò chuyện. Dưới vườn, Rô-mê-ô nói một mình; Giu-li-ét bên cửa sổ tưởng không có ai nên cũng giãi bày một mình. Đó là hai lời độc thoại chạy song song như hai dòng nước chưa gặp. Khán giả là người duy nhất nghe được cả hai, nên biết trước điều nhân vật chưa biết: tình cảm này đến từ cả hai phía. Khi Rô-mê-ô lên tiếng đáp, lời nói một mình nhường chỗ cho lời đối đáp, và cảnh kịch rời giấc mơ để chạm vào hiện thực: Giu-li-ét giật mình, lo cho chàng, hỏi chàng vào đây bằng lối nào, có biết nơi này nguy hiểm thế nào không.
Ở Giu-li-ét, tình yêu luôn đi cùng sự tỉnh táo. Nàng không ghét con người Rô-mê-ô mà chỉ ghét cái họ chàng mang. Lí lẽ của nàng giản dị đến mức gần như trẻ con: bông hoa có đổi tên thì hương vẫn vậy, người bỏ đi cái họ thì vẫn là người ấy. Nhưng chính lí lẽ đó chạm vào câu hỏi lớn nhất của vở kịch: con người đáng được yêu vì chính mình, hay phải bị ghét vì dòng họ của mình? Rô-mê-ô đáp lại bằng sự hăng hái của tuổi trẻ: chàng sẵn sàng vứt bỏ tên họ, và bức tường đá kia không cản được kẻ đến bằng “đôi cánh của tình yêu”.
Đặt cạnh nhau, hai giọng nói bổ sung cho nhau. Rô-mê-ô say sưa, bay bổng, nói toàn hình ảnh; Giu-li-ét yêu không kém nhưng cứ kéo câu chuyện về mặt đất, về hiểm nguy, về lời thề có thật lòng hay không. Sự lệch nhịp ấy làm nhân vật sống động như người thật, và cho thấy một tình yêu đẹp không chỉ biết liều lĩnh mà còn biết sợ thay cho người kia.
Đoạn trích khép lại trong không khí hẹn ước, nhưng ai đã đọc tóm tắt cả vở đều biết bóng tối vẫn chờ ở cuối đường: hai người trẻ sẽ chết, và đến lúc ấy hai gia đình mới thấy mối thù vô nghĩa đến thế nào. Có lẽ vì vậy mà thứ ánh sáng của đêm trong vườn càng đáng quý. Sếch-xpia không hứa rằng tình yêu thắng hận thù chỉ sau một đêm; ông cho thấy giữa lúc tối nhất, con người vẫn có thể tự thắp sáng cho nhau.
Mẫu 2: Sống, hay không sống? – vai trò của lời độc thoại (theo đề Cánh diều)
Trên sân khấu, có những lúc nhân vật nói mà không cần ai nghe. Kiểu lời ấy gọi là độc thoại: nhân vật tự nói với chính mình, để những điều không thể thổ lộ với bất cứ ai được bày ra trước khán giả. Trong đoạn trích Sống, hay không sống? thuộc vở Ham-lét do Sếch-xpia viết, những điều chàng hoàng tử Đan Mạch tự nói với mình là cánh cửa duy nhất để người xem thấy con người thật của chàng, giữa một cung điện mà ai cũng đang đóng một vai.
Muốn thấy rõ vai trò ấy, cần nhớ Ham-lét đang ở trong hoàn cảnh nào. Vua cha bị chính em trai là Clô-đi-út đầu độc để cướp ngôi; mẹ chàng tái giá với kẻ ấy. Ham-lét đành giả điên cho kẻ thù khỏi đề phòng. Ở cảnh này, Clô-đi-út cùng Pô-lô-ni-út bày ra cuộc gặp giữa Ô-phê-li-a và chàng, còn chúng thì nấp đi nghe lén. Cả cảnh là một cái bẫy. Chỉ trong khoảnh khắc tưởng mình đang một mình, Ham-lét mới nói thật. Vai trò đầu tiên của lời độc thoại vì thế là tách lớp thật ra khỏi lớp giả.
Câu hỏi sống hay không sống không chỉ hỏi về sự còn mất của thân xác. Đó là câu hỏi chọn cách sống: nhẫn nhục chịu mọi đòn số phận giáng xuống, hay đứng dậy đương đầu với cả một biển khổ cho tới lúc nó cạn. Chàng ví cái chết với giấc ngủ làm dứt hết đau đớn, rồi khựng lại vì không biết giấc ngủ ấy có mang theo mộng dữ hay không, ở cõi chưa ai đi rồi trở về kể lại. Từ nỗi đau riêng, lời độc thoại mở rộng ra thành bản kê những bất công: kẻ quyền thế đè nén, kẻ ngạo mạn coi rẻ người khác, pháp luật chậm chạp, người có tài phải chịu sự rẻ rúng của kẻ bất tài. Ý nghĩa thứ hai nằm ở đây: một chuyện báo thù trong gia đình hoàng tộc trở thành câu hỏi của cả một thời đại.
Lời độc thoại còn phơi ra xung đột trong chính con người Ham-lét. Chàng tự nhận rằng nghĩ quá nhiều thì hóa nhát, quyết tâm phai đi trước khi kịp thành việc làm. Đây là chỗ bi kịch nhất của nhân vật: người có lương tri tỉnh táo nhất lại là người khó hành động nhất. Thiếu lời độc thoại, khán giả chỉ thấy một hoàng tử chần chừ mãi, thậm chí có thể cho là hèn. Có nó, ta hiểu sự chần chừ là cái giá của một đầu óc không chịu làm điều gì mà chưa nghĩ cho thấu.
Lời độc thoại dừng lại khi Ô-phê-li-a bước tới. Câu đầu tiên chàng nói với nàng vẫn còn là giọng thật: xin nàng, trong lúc cầu nguyện, “đừng quên những tội lỗi của ta”. Một người đang bị phản bội lại tự thấy mình mang tội, bởi chàng biết sống giữa một thế giới dơ bẩn thì khó ai sạch hoàn toàn. Rồi giọng chàng đột ngột đổi sang lạnh lùng, mỉa mai, bảo nàng vào nhà tu. Sự chuyển giọng ấy cho thấy Ham-lét buộc phải quay về vai diễn, và càng làm lời độc thoại lúc trước vang lên như tiếng nói cuối cùng của con người thật.
Đoạn độc thoại không trả lời câu hỏi nó đặt ra. Có lẽ chính vì không trả lời nên nó sống qua hơn bốn trăm năm. Mỗi khi đứng trước một việc đúng mà biết mình sẽ phải trả giá, người ta lại nghe vọng về câu hỏi cũ: chịu đựng cho yên, hay đứng dậy?
Mẫu 3: Lơ Xít – bài làm 45 phút về cuộc gặp sau trận đấu
Đoạn trích Lơ Xít trong sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức đặt hai người yêu nhau vào thế đối mặt hiếm có: chàng trai vừa giết cha cô gái lại tự tìm đến nhà nàng. Qua cuộc gặp ấy, nhà viết kịch Pháp Coóc-nây cho thấy cuộc giằng co giữa tiếng gọi của trái tim và món nợ danh dự, đồng thời ngợi ca hai con người dám đặt bổn phận lên trên hạnh phúc riêng.
Tình huống được dựng rất chặt. Đông Goóc-ma-xơ, cha của Si-men, vì ghen tức đã sỉ nhục Đông Đi-e-gơ, cha của Rô-đri-gơ, bằng một cái tát. Đông Đi-e-gơ tuổi cao sức yếu, đành giao việc trả mối nhục cho con. Rô-đri-gơ ra tay, và người ngã xuống là cha của chính cô gái chàng yêu. Đoạn trích bắt đầu khi mọi chuyện đã xảy ra, nghĩa là Coóc-nây bỏ qua trận đấu để dồn sức vào điều khó diễn hơn: hai trái tim phải nhìn nhau sau trận đấu ấy.
Hành động đầu tiên của Rô-đri-gơ là xin chết. Chàng không chạy trốn mà mang đến chính thanh gươm vừa dùng, để Si-men tự tay báo thù: “Nhìn ta chết và mối thù em rửa sạch!”. Thanh gươm vì thế mang hai nghĩa trái ngược: với chàng, nó chứng minh danh dự đã được giữ; với nàng, nó là vết máu của cha. Một đồ vật đủ để khán giả thấy hố sâu giữa hai người.
Lời thoại trong đoạn trích giống những bài lập luận. Rô-đri-gơ thú nhận mình từng phân vân, từng giận cha, giận cả bản thân, rồi giải thích vì sao vẫn phải ra tay: kẻ mang nhục không đáng để Si-men yêu. Si-men không cãi lại lí lẽ ấy. Nàng thừa nhận: “Em không thể trách chàng đã tránh điều đê tiện”, nhưng ngay sau đó nói rõ nàng vẫn sẽ đòi đền mạng cho cha, như đạo làm con buộc nàng. Bản dịch theo lối thơ có vần làm những lời ấy trang trọng như lời tuyên thệ, rất hợp với bi kịch cổ điển.
Cái hay của đoạn trích là không ai trong hai người sai. Mỗi người đều chọn điều đúng với mình, và chính vì cả hai cùng đúng nên bi kịch không lối thoát. Cảnh kịch ngắn mà cho em hiểu vì sao danh dự từng được người xưa coi nặng hơn cả tình riêng.
Mẫu 4: Ô-ten-lô – chiếc khăn tay đi qua bốn bàn tay
Trong vở bi kịch Ô-ten-lô của Sếch-xpia, thứ đẩy một vị tướng đến chỗ giết người vợ yêu thương nhất không phải là một đạo quân, mà là một chiếc khăn tay. Theo dõi đường đi của vật nhỏ ấy, người đọc thấy rõ cách nhà viết kịch biến lòng ghen thành hành động kịch, từng bước một, không chỗ nào thừa.
Ô-ten-lô (Othello) là vị tướng người Mô tài giỏi phục vụ thành Vơ-ni-dơ, cưới nàng Đê-đê-mô-na (Desdemona) bất chấp sự phản đối của cha nàng. I-a-gô (Iago), viên sĩ quan dưới quyền, ôm mối bất mãn và quyết hại chủ tướng bằng cách gieo vào lòng ông ý nghĩ rằng vợ mình có tình riêng với Ca-xi-ô (Cassio). Chiếc khăn là món quà đầu tiên Ô-ten-lô tặng vợ. Nàng đánh rơi, Ê-mi-li-a, vợ I-a-gô, nhặt được và đưa cho chồng. Hắn lén đặt nó vào chỗ ở của Ca-xi-ô, rồi bóng gió với Ô-ten-lô rằng mình từng thấy Ca-xi-ô cầm chiếc khăn ấy.
Sếch-xpia còn cho chiếc khăn đi thêm một vòng. Ca-xi-ô thấy nó trong phòng mình, không biết là của ai, đưa cho người tình là Bi-an-ca nhờ chép lại hình thêu. Đến lúc Ô-ten-lô đang nấp nghe theo sắp đặt của I-a-gô, cô ta lại mang chiếc khăn ra trả. Với người đang ghen, sự tình cờ ấy là bằng chứng không thể chối. Kẻ ác không cần thêm lời vu cáo nào; may rủi dường như cũng đứng về phía hắn.
Điều đáng sợ ở I-a-gô là hắn hiếm khi nói dối thẳng thừng. Hắn chỉ gợi, ngập ngừng, giả vờ không muốn nói, để Ô-ten-lô tự đi đến kết luận. Chiếc khăn là bằng chứng hoàn hảo cho kiểu mưu mô ấy: nó im lặng, nó có thật, nó nằm sai chỗ. Trong khi đó, khán giả biết rõ sự thật từ đầu. Biết mà không thể kêu lên, người xem càng thấy căng thẳng khi Ô-ten-lô hỏi vợ về chiếc khăn và nàng không đưa ra được.
Qua đó, vở kịch nói về lòng tin dễ vỡ giữa những người yêu nhau và về cái ác biết lợi dụng chính tình yêu để phá hủy con người. Khi Ê-mi-li-a hiểu ra và vạch mặt chồng thì đã muộn: Đê-đê-mô-na đã chết, Ô-ten-lô tự kết liễu đời mình. Một mảnh vải mỏng mà đủ che kín mắt một người từng nhìn thấu chiến trường.
Mẫu 5: Vua Lia – cuộc thi nói trong cảnh chia vương quốc
Nếu cần một ví dụ cho thấy xung đột kịch có thể được gieo ngay từ cảnh đầu, em sẽ chọn cảnh chia vương quốc trong Vua Lia của Sếch-xpia. Cảnh ấy giống một cuộc thi hùng biện kì lạ, mà giải thưởng là đất đai và người chấm là một ông vua già chỉ muốn nghe khen.
Vua Lia (Lear) muốn chia đất nước cho ba con gái trước khi về già. Ông đặt điều kiện: ai nói yêu cha nhiều hơn sẽ được phần lớn hơn. Hai cô lớn là Gô-nơ-rin (Goneril) và Rê-gan (Regan) lần lượt đưa ra những lời ngọt ngào, người sau cố nói hơn người trước. Đến lượt cô út Coóc-đê-li-a (Cordelia), nàng chỉ đáp rằng mình yêu cha đúng như bổn phận một người con. Lia nổi giận, tước hết phần của nàng; vua nước Pháp vẫn xin cưới nàng. Bá tước Ken (Kent) can ngăn cũng bị đuổi khỏi vương quốc.
Sếch-xpia dựng cảnh này trên sự đối lập giữa lời và lòng. Kẻ không yêu nói nhiều, người yêu thật lại nói ít. Lia sai không vì ác mà vì ông đo tình cảm bằng lời, cái thói quen của người quen được tung hô. Hai lời thoại ngắn của Coóc-đê-li-a và Ken, đặt giữa những bài diễn văn hoa mĩ, nghe như những tiếng gõ khô khốc, và chính sự khô khốc ấy là sự thật.
Ken là nhân vật dễ bị bỏ qua mà lại đáng để tâm. Ông không tranh phần đất nào, không cần lấy lòng ai, nên là người duy nhất dám nói thẳng rằng nhà vua đang làm sai. Bị đuổi đi, ông vẫn cải trang quay về theo hầu chủ cũ. Sự trung thành lặng lẽ ấy càng làm lộ vẻ giả dối của hai cô con gái lớn, những người nói yêu cha nhiều nhất lại sớm trở mặt nhất.
Từ một quyết định trong cảnh đầu, mọi bất hạnh kéo đến: hai cô con gái lớn trở mặt, ông vua mất hết chỗ dựa, lang thang giữa bão và hóa điên. Đọc lại cảnh mở màn sau khi biết kết cục, em thấy cả vở kịch đã nằm sẵn trong đó, giống một hạt giống nhỏ chứa cả cái cây. Cảnh kịch cũng để lại một lời nhắc rất gần: người dám nói thật với ta thường ít lời, và hay bị ta làm ngơ.
Kịch nói Việt Nam: từ Vũ Như Tô đến Lưu Quang Vũ
Mẫu 6: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – ai đúng, ai sai trong ngọn lửa cuối vở
“Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.” Nguyễn Huy Tưởng viết như vậy trong lời đề tựa vở Vũ Như Tô. Một tác giả tự nhận không biết nhân vật của mình đúng hay sai là chuyện hiếm. Đọc đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài thuộc hồi cuối của vở, em hiểu rằng lời thú nhận ấy không phải sự lưỡng lự, mà là cách nhà văn tôn trọng cả hai phía của một xung đột không có lời giải dễ dàng.
Vở kịch gồm năm hồi, được Nguyễn Huy Tưởng hoàn thành năm 1941, lấy chuyện kinh thành Thăng Long thời vua Lê Tương Dực. Vũ Như Tô, người thợ tài ba, bị buộc xây Cửu Trùng Đài cho vua hưởng lạc. Nghe lời cung nữ Đan Thiềm, ông nhận xây với mong muốn non sông có một công trình đẹp muôn đời. Nhưng đài càng cao thì dân càng khổ: thuế nặng, thợ bị bắt, người chống đối bị hành hạ. Đến hồi V, Trịnh Duy Sản nổi loạn, vua bị giết, và cơn giận của dân đổ dồn về người xây đài.
Xung đột trong đoạn trích vì thế có hai tầng. Trên bề mặt là phe nổi loạn đối đầu với triều đình: tiếng quân reo, tiếng trống dồn dập được ghi trong chỉ dẫn sân khấu khiến người đọc như nghe thấy cả kinh thành đang sôi lên. Ở tầng sâu hơn là va chạm giữa giấc mơ dựng nên cái đẹp tuyệt đối và quyền lợi thiết thân của những người phải đổ mồ hôi cho cái đẹp ấy. Tầng thứ nhất được giải quyết bằng gươm giáo ngay trong hồi V; tầng thứ hai thì đến hôm nay vẫn còn mở.
Diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô là phần hay nhất. Khi Đan Thiềm hối hả giục ông trốn, ông không đi. Ông tin mình không có tội, vì mình xây đài cho non sông chứ không vì riêng ai. Tin dữ dồn đến liên tiếp: Nguyễn Vũ tự sát, bọn nội giám bỏ chạy, cung nữ quỳ xin hàng, quân lính tràn vào. Ông vẫn đòi đến gặp An Hòa Hầu để phân trần cho rõ phải trái. Sự ngây thơ ấy vừa đáng thương vừa đáng phục: đến phút chót, ông vẫn nghĩ người ta sẽ hiểu cái đẹp nếu được giải thích. Chỉ khi nghe quân sĩ kể tội và biết Cửu Trùng Đài đang cháy, ông mới sụp đổ, rồi tự nguyện bước ra chỗ hành hình. Ngọn lửa đốt đài cũng đốt luôn lí do sống của ông.
Đặt bên Vũ Như Tô, Đan Thiềm giúp ta hiểu ông hơn. Bà không phải người xây đài nhưng là người hiểu giá trị của tài năng hơn ai hết, và chính bà mắc cái “bệnh” mà tác giả nhận là của mình: mê cái đẹp đến quên mình. Bà quỳ xin cho người thợ được sống, bị lôi đi, vẫn chỉ lo cho ông. Cặp nhân vật này cho thấy tình tri kỉ giữa những con người đặt nghệ thuật cao hơn số phận cá nhân.
Thế nhưng vở kịch không cho phép ta chỉ đứng về một phía. Những người lính thô lỗ cũng có lí của họ: công trình ấy đã vét sức lực, của cải của bao gia đình, khiến biết bao người thợ bị bắt bớ, hành hạ. Đặt hai lẽ phải cạnh nhau, Nguyễn Huy Tưởng gửi lại một điều đến nay vẫn đúng: nghệ thuật lớn đến đâu cũng cần đứng trên đất của đời sống con người; còn người nghệ sĩ, dù sai lầm, vẫn đáng được thương hơn là bị kết tội một chiều.
Câu hỏi ở lời đề tựa vì thế không cần trả lời dứt khoát. Đọc xong đoạn trích, em chỉ thấy tiếc. Tiếc một tòa đài chưa xong đã thành tro, tiếc một người thợ tài hoa đến chết vẫn chưa hiểu hết vì sao mình phải chết, và tiếc cả những người dân đã phải mất quá nhiều để căm ghét một cái đẹp vốn không có lỗi.
Mẫu 7: Bắc Sơn (hồi bốn) – một câu thề trong căn buồng nhỏ
“Tôi chết thì chết, chứ tôi không bảo hai ông đâu.” Người nói câu ấy là Thơm, vợ của một kẻ đang dẫn giặc đi lùng bắt cán bộ. Người nghe là Thái và Cửu, hai cán bộ đang nấp trong buồng nhà cô. Câu thề nằm gần cuối hồi bốn vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng, nhưng muốn hiểu vì sao Thơm nói được như vậy, phải đi ngược lên toàn bộ hồi kịch.
Vở kịch viết về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và được công diễn năm 1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đến hồi bốn, cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp. Ngọc, chồng Thơm, đã theo giặc, nửa đêm cầm gậy, cầm đèn bấm ra khỏi nhà với dáng điệu rất đáng ngờ. Thái và Cửu bị truy đuổi, chạy nhầm vào đúng nhà Ngọc. Tình huống ấy đặt Thơm trước một lựa chọn không có đường lùi: để chồng bắt người thì yên thân, che giấu thì có thể mất mạng.
Nhưng lựa chọn của Thơm đã được chuẩn bị từ trước. Cha cô, cụ Phương, và em trai cô đã hi sinh vì cách mạng; mẹ cô bỏ nhà đi. Những hình ảnh ấy ám ảnh Thơm, khiến cô ân hận vì bấy lâu chỉ đứng ngoài, sống nhàn nhã nhờ chồng chiều chuộng. Cô nghe tin đồn chồng dắt giặc về đánh Vũ Lăng, dò hỏi thì Ngọc chối quanh. Nỗi nghi ngờ lớn dần mà Thơm vẫn cố níu một chút hi vọng về người đàn ông của mình. Xung đột của vở kịch, giữa cách mạng và kẻ thù, đến đây đã đi vào bên trong một gia đình, rồi đi vào bên trong một tâm hồn.
Ngọc tự lộ mặt qua lời nói. Hắn coi những người cách mạng như món hàng để đổi lấy tiền thưởng và địa vị, ấm ức vì mình chưa có danh phận gì trong làng. Đặt bên hắn, hai cán bộ cũng mỗi người một vẻ: Cửu nóng nảy, nghi ngờ, định rút súng khi biết đây là nhà Ngọc; Thái bình tĩnh, tin rằng con gái cụ Phương không thể phản bội. Niềm tin của Thái là phép thử cuối cùng, và Thơm đã không phụ nó: cô đẩy hai người vào buồng, rồi ung dung đối đáp để che mắt chồng.
Tình huống éo le, những lời thoại đổi nhịp liên tục, khi thì thì thầm gấp gáp, khi thì vờ bình thản, làm hồi kịch căng như dây đàn. Qua nhân vật Thơm, Nguyễn Huy Tưởng cho thấy ngay cả khi bị dìm trong máu, cách mạng vẫn có thể đánh thức những người đứng giữa, những người tưởng như đã quen sống yên ổn bên lề.
Mẫu 8: Tôi và chúng ta – cuộc họp của cái cũ và cái mới
Nhiều vở kịch đưa người xem tới chiến trường, cung điện hay pháp trường. Cảnh ba của vở Tôi và chúng ta chỉ đưa ta tới một cuộc họp ở xí nghiệp, vậy mà vẫn đầy kịch tính. Lưu Quang Vũ chứng minh rằng sự va chạm giữa lối làm ăn mới và nếp cũ không ồn ào như trận đánh, nhưng không hề kém quyết liệt.
Xí nghiệp làm ăn trì trệ đến mức phải thay đổi. Giám đốc Hoàng Việt, với sự ủng hộ của kĩ sư Lê Sơn, đưa ra trước mọi người kế hoạch làm lớn hơn cùng một phương án làm ăn mới. Lập tức các phía phản đối: phòng tổ chức lao động lo về biên chế, phòng tài vụ lo về quỹ lương, quản đốc phân xưởng Trương thấy vị trí của mình bị đe dọa, còn phó giám đốc Nguyễn Chính khéo léo đứng sau mọi sự phản đối.
Điều thú vị là gần như mọi lời phản đối đều nhân danh nguyên tắc. Không ai nói thẳng mình sợ mất ghế hay ngại thay đổi; họ chỉ nhắc quy định, nhắc cấp trên, nhắc điều đã làm xưa nay. Lối đối thoại ấy vừa gây cười vừa khiến người xem giật mình, vì cái cũ hiếm khi tự xưng là cũ, nó luôn khoác áo đúng đắn. Ngược lại, Hoàng Việt nói thẳng, dứt khoát, dám nhận trách nhiệm. Hai tuyến người hiện ra rõ đến mức người xem hiểu ngay ai đứng về phía nào.
Nhan đề vở kịch nhắc ta rằng cái chung và mỗi con người không tách rời. Tập thể không thể mạnh nếu quyền lợi và năng lực của từng người bị bỏ quên; cái chúng ta phải được dựng lên từ những cái tôi cụ thể được tôn trọng. Ra đời khi xã hội đang trăn trở tìm cách làm ăn mới, vở kịch nói đúng điều nhiều người nghĩ mà chưa dám nói.
Đọc cảnh ba, em nhớ đến những lần lớp em muốn đổi cách học nhóm hay cách trực nhật, câu đầu tiên vang lên thường là: xưa nay có ai làm thế đâu. Vở kịch không chế giễu sự thận trọng; nó chỉ nhắc rằng có những sự thận trọng thực chất là nỗi sợ.
Mẫu 9: Hồn Trương Ba, da hàng thịt – khi linh hồn cãi nhau với cái xác
Ít vở kịch nào để một linh hồn cãi nhau với chính cái thân nó đang mượn như Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Màn đối thoại kì lạ ấy biến một tích cổ tích thành câu hỏi về việc được sống là chính mình.
Lưu Quang Vũ viết vở này năm 1981, ba năm sau nó mới được dựng lên sân khấu. Trương Ba chết oan, được Đế Thích cho hồn nhập vào xác anh hàng thịt vừa chết. Ông được sống lại, nhưng phải ở nhờ thân xác của người khác. Đến cảnh VII, hồn ghê tởm cái xác phàm tục, đòi được ra khỏi nó, thì xác bình thản kể từng đổi thay trong cách sống của hồn từ ngày về ở đó. Hồn đuối lí, đành nhập trở lại.
Cái tài của nhà viết kịch là cho cái xác nói rất có lí. Nó không la hét mà thong thả, lọc lõi, biết đánh vào chỗ yếu. Còn hồn càng cãi càng thấy mình đã đổi khác. Cuộc đối thoại thực chất là cuộc giằng co trong một con người, được tách thành hai giọng để khán giả nghe rõ cả hai.
Khi những người thân trong nhà lần lượt đau lòng vì ông không còn là ông, Trương Ba chọn trả lại xác, chấp nhận cái chết thật. Lí do được gói trong câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Sống mà phải mang một thân thể, một cách sống áp đặt từ bên ngoài thì chỉ là tồn tại.
Lựa chọn ấy càng đáng nể vì Đế Thích còn mở ra một lối thoát khác: nhập vào xác cu Tị, cậu bé vừa mất. Trương Ba từ chối, còn xin Đế Thích trả lại sự sống cho cu Tị. Ông hiểu rằng đổi sang thân xác khác thì vẫn là sống nhờ, vẫn kéo dài một sự giả dối. Một người chịu chết để được là mình lại nhường sự sống cho một đứa trẻ: đó là lúc nhân vật hiện lên trọn vẹn nhất. Vở kịch khép lại bằng hình ảnh lũ trẻ vùi hạt na xuống đất, như một lời nhắc rằng sự sống thật thì vẫn tiếp tục.
Sân khấu chèo cổ
Mẫu 10: Xúy Vân giả dại – lời điên mà tỉnh của người đàn bà lỡ bước
Một người đàn bà bước ra sân khấu, tự xưng tên tuổi với khán giả, rồi vừa hát vừa múa, nói những câu mà ai nghe cũng bảo là điên. Đó là Xúy Vân trong trích đoạn Xúy Vân giả dại của vở chèo Kim Nham. Nhưng càng nghe kĩ, người xem càng nhận ra trong lời điên có một nỗi lòng rất tỉnh, và trong tiếng cười điên dại có tiếng khóc của một thân phận.
Xúy Vân là vợ Kim Nham. Chồng đi học xa, nàng ở nhà lẻ loi, rồi nghe theo lời ngon ngọt của Trần Phương. Muốn thoát khỏi cuộc hôn nhân, nàng giả dại. Tình huống ấy đã chứa sẵn xung đột: giữa khát vọng hạnh phúc của một người phụ nữ và lễ giáo buộc nàng ở yên trong cuộc hôn nhân do cha mẹ đặt để.
Đoạn trích nói bằng thứ ngôn ngữ riêng của chèo: có lời hát, lời nói, điệu múa, và đặc biệt là màn xưng danh, khi nhân vật quay ra kể với khán giả mình là ai, ở đâu, tính nết thế nào. Lời xưng danh vừa giúp người xem nhận ra nhân vật, vừa tạo một sợi dây đồng cảm: Xúy Vân như đang nhờ cả chiếu chèo phân xử nỗi niềm của mình.
Những câu hát nghe như vô nghĩa lại mang dụng ý rõ. Khi nàng hát:
“Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu”
những âm thanh líu ríu, quấn quýt ấy gợi một tâm trí rối bời, và có lẽ cả những mối dây ràng buộc mà nàng không gỡ ra được. Rồi giữa cơn “điên”, nàng lại hát về một cảnh rất đỗi bình thường:
“Chờ cho bông lúa chín vàng
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.”
Đó là ước mơ của mọi người đàn bà nông thôn xưa: vợ chồng có nhau trên cánh đồng. Một người điên thật khó lòng mơ một giấc mơ tỉnh táo đến vậy. Chính chỗ này hé lộ bi kịch của Xúy Vân: điều nàng muốn chỉ là một gia đình êm ấm, mà điều nàng có là cô đơn, rồi lỡ bước, rồi phải đóng vai kẻ điên trước mặt mọi người.
Nên thương hay nên trách Xúy Vân? Trích đoạn không né câu hỏi. Phụ chồng là lỗi của nàng, và chính nàng cũng tự biết điều đó qua những lời than. Nhưng tác giả dân gian không đứng ngoài để kết tội. Họ để nàng được hát lên nỗi lòng mình, nghĩa là cho người phụ nữ bị ép trong khuôn phép một lần được lên tiếng. Đến tận bây giờ, chiếu chèo ấy vẫn khiến người xem vừa giận vừa thương, và cái thương thường thắng.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Dấu hiệu nhận ra | Cách sửa |
|---|---|---|
| Kể lại vở kịch theo từng lớp | Thân bài toàn câu “sau đó”, “tiếp theo”, mỗi đoạn tương ứng một lớp kịch | Tóm cốt truyện trong hai, ba câu; mỗi đoạn thân bài mở bằng một nhận định về xung đột, lời thoại hay nhân vật |
| Phân tích kịch như phân tích truyện | Viết những câu kiểu tác giả miêu tả nội tâm trong khi kịch không có lời kể | Chỉ ra nội tâm được bộc lộ bằng gì: lời độc thoại, một hành động, một chỉ dẫn sân khấu |
| Gọi tên xung đột mà không chứng minh | Chỉ một câu kiểu xung đột gay gắt giữa hai phe rồi chuyển ý | Dẫn hai lời thoại hoặc hai hành động đối nghịch, nói rõ vì sao chúng không thể cùng tồn tại |
| Bỏ quên chỉ dẫn sân khấu | Không nhắc tới tiếng động, ánh sáng, cử chỉ in nghiêng trong kịch bản | Chọn một chỉ dẫn đắt (tiếng quân reo, khung cửa sổ, thanh gươm) và cho thấy nó tạo không khí hoặc bộc lộ nhân vật |
| Trích dài, sai lời thoại | Chép cả đoạn đối thoại, hoặc nhớ sai rồi đặt trong ngoặc kép | Trích ngắn câu chắc chắn đúng; câu không nhớ nguyên văn thì diễn ý, bỏ ngoặc kép |
| Kết bài khen chung chung | Câu kiểu vở kịch có giá trị to lớn về mọi mặt | Nói rõ vở kịch đặt ra câu hỏi gì, câu hỏi ấy còn đúng với hôm nay ở chỗ nào |
- Với bi kịch, hãy chỉ ra điều nhân vật mất (mạng sống, tình yêu, lí tưởng) và vì sao mất mát ấy khiến người đọc nghĩ lại chứ không chỉ buồn.
- Với chèo, nhớ tới những gì riêng của sân khấu dân gian: xưng danh, hát, múa, cách nhân vật nói thẳng với khán giả.
- Với đề Cánh diều, dành hẳn một đoạn nói rõ độc thoại là gì và một đoạn giải thích vì sao độc thoại tạo nên tính bi kịch, đúng như phần rèn kĩ năng của sách.
- Khi làm bài trên lớp, mẫu 3 cho thấy độ dài vừa với 45 phút: mở bài hai câu, bốn đoạn thân bài, mỗi đoạn một ý có dẫn chứng.
Gợi ý bài nói: thảo luận một vấn đề gợi ra từ vở kịch
Mục Nói và nghe đi cùng bài Viết không yêu cầu trình bày lại bài phân tích. Sách Kết nối tri thức đề nghị thảo luận một vấn đề đáng quan tâm, phù hợp với lứa tuổi, được gợi ra từ tác phẩm văn học; sách Cánh diều đề nghị thảo luận một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống. Vở kịch em vừa phân tích là điểm xuất phát rất tốt:
- Từ Rô-mê-ô và Giu-li-ét: định kiến của người lớn có nên quyết định tình bạn, tình cảm của người trẻ?
- Từ Ham-lét: khi biết điều sai, im lặng chịu đựng hay lên tiếng?
- Từ Vua Lia hoặc Ô-ten-lô: vì sao người ta dễ tin lời nịnh, lời đồn hơn lời thật?
- Từ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài: đam mê riêng và trách nhiệm với người xung quanh.
- Khi thảo luận, nêu ý kiến kèm một lí do từ vở kịch và một ví dụ đời thường; lắng nghe để đáp lại đúng ý bạn, không nói lấn.
Đoạn mở đầu mẫu cho phần phát biểu: Thưa các bạn, trong vở kịch của Sếch-xpia, Giu-li-ét yêu một người chỉ vì chính người ấy, còn cả hai gia đình lại ghét người ấy chỉ vì cái họ. Hôm nay mình xin đặt ra một chuyện gần hơn: ở lứa tuổi chúng mình, có khi nào ta không chơi với một bạn chỉ vì người lớn bảo nhà bạn ấy thế này thế kia? Mình nghĩ là có, và mình nghĩ ta nên tự tìm hiểu trước khi tin.
Nên luyện mẫu nào trước?
Bạn nào dùng sách Cánh diều nên đọc mẫu 2 trước vì nó đi đúng đề trang 98. Với người học Kết nối tri thức, hai bài bám sát văn bản đọc của Bài 5 là mẫu 1 và mẫu 3; mẫu 3 là độ dài vừa cho bài kiểm tra trên lớp, còn mẫu 1, mẫu 6 cho thấy cách triển khai một bài dài hơn. Các mẫu 4, 5, 8, 10 hữu ích khi đề cho tự chọn vở kịch: chúng cho thấy mỗi vở chỉ cần một trục phân tích rõ (một đồ vật, một cảnh mở màn, một cuộc họp, một lời hát) là đủ đi hết bài. Đọc xong một mẫu, em thử gấp lại và viết lại bài theo dàn ý của mình, đổi cách mở bài sang kiểu khác.
Xem thêm:
- Soạn bài Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Lơ Xít (trích, Coóc-nây) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Bí ẩn của làn nước (Bảo Ninh) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Sống, hay không sống? (trích Ham-lét) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Soạn bài Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi Ha-ru-ki) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Phân tích Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Tình yêu và thù hận) · Tóm tắt Rô-mê-ô và Giu-li-ét
- Phân tích Sống, hay không sống – đó là vấn đề · Tóm tắt Sống, hay không sống và vở Hăm-lét
- Phân tích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài · Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng: Vũ Như Tô, Bắc Sơn
- Phân tích Hồn Trương Ba, da hàng thịt · Tác giả Lưu Quang Vũ
- Phân tích nhân vật Xúy Vân · Những tác phẩm nổi tiếng của Shakespeare
- Nghị luận phân tích một tác phẩm truyện lớp 9 – dàn ý và bài văn mẫu
- Nghị luận phân tích một tác phẩm thơ lớp 9 – dàn ý và bài văn mẫu
- Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học lớp 9 – dàn ý và bài văn mẫu
- Phân tích một tác phẩm kịch – Dàn ý + 10 bài văn mẫu hay nhất (lớp 8)