Pu-skin (Alexander Sergeyevich Pushkin, 1799 – 1837) là nhà thơ, nhà văn Nga, người được xem là cha đẻ của tiếng Nga văn chương hiện đại. Ở Việt Nam, nhiều thế hệ học trò biết ông trước hết qua chuyện ông lão nghèo thả con cá vàng xuống biển và mụ vợ tham lam đòi hết thứ này đến thứ khác; lên lớp 11, các em gặp lại ông trong những bài thơ trữ tình như Tôi yêu em, Con đường mùa đông. Cùng một người viết cả truyện cổ tích cho trẻ em lẫn những dòng thơ tình được đọc thuộc lòng gần hai trăm năm.

| Tên đầy đủ | A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (Александр Сергеевич Пушкин) |
| Năm sinh – năm mất | 6/6/1799 (26/5 theo lịch cũ) – 10/2/1837 (29/1 theo lịch cũ) |
| Quê | Sinh ở Mát-xcơ-va, mất ở Xanh Pê-téc-bua, Nga |
| Thể loại | Thơ trữ tình, trường ca, tiểu thuyết bằng thơ, kịch thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện cổ tích bằng thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Ruslan và Lyudmila (1820), Bô-rít Gô-đu-nốp, Ép-ghê-ni Ô-nhê-ghin, Người kỵ sĩ đồng, Truyện ông lão đánh cá và con cá vàng, Người con gái viên đại úy (1836) |
| Danh xưng | “Mặt trời của thi ca Nga” |
| Trong SGK | Ông lão đánh cá và con cá vàng (Ngữ văn 6 Cánh diều); Con đường mùa đông (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức); Tôi yêu em (Ngữ văn 11 Cánh diều) |
Chắt ngoại của “người da đen của Pi-e Đại đế”
Pu-skin sinh ra trong một gia đình quý tộc lâu đời nhưng đã sa sút. Phía nội là dòng họ Pu-skin có từ nhiều thế kỷ trước; phía ngoại có một gốc gác đặc biệt: cụ ngoại của mẹ ông, tức cụ cố của nhà thơ, là Áp-ram Gan-ni-ban, một cậu bé người châu Phi được đưa đến Nga làm con nuôi đỡ đầu của Sa hoàng Pi-e Đại đế, về sau thành kỹ sư quân sự và tướng lĩnh. Pu-skin rất tự hào về ông cụ này và từng bắt tay viết một cuốn tiểu thuyết về ông, bỏ dở, được in sau khi nhà thơ mất với tên Người da đen của Pi-e Đại đế.
Cha mẹ ông ham giao du, ít gần con. Cậu bé lớn lên giữa tủ sách tiếng Pháp của cha và những câu chuyện dân gian Nga của bà ngoại, của bà vú. Tiếng Pháp là thứ tiếng của giới quý tộc; tiếng Nga sống động thì cậu học từ những người giúp việc trong nhà.
Trường Lyceum Tsarskoye Selo và buổi đọc thơ trước Đéc-gia-vin
Năm 1811, Pu-skin mười hai tuổi được nhận vào khóa đầu tiên của trường Lyceum ở Tsarskoye Selo, ngôi trường dành cho con em quý tộc mở ngay cạnh cung điện mùa hè của Sa hoàng. Đây là sáu năm quan trọng nhất của tuổi trẻ ông: bạn học về sau có người thành nhà thơ, có người thành chiến sĩ phong trào Tháng Chạp, và nhiều năm sau ông vẫn viết thơ mừng ngày khai giảng khóa học đầu tiên ấy (19/10).
Tháng 1/1815, trong kỳ thi chuyển cấp, cậu học trò mười lăm tuổi đọc bài thơ Hồi ức ở Tsarskoye Selo trước mặt Gáp-ri-in Đéc-gia-vin, nhà thơ lớn nhất nước Nga lúc ấy. Về sau Pu-skin ghi lại rằng hôm ấy cậu đứng đọc cách nhà thơ già chỉ hai bước chân. Họa sĩ Ilya Repin đã vẽ lại cảnh này, và giới văn chương Nga thường kể nó như một cuộc trao gậy giữa hai thế hệ.
Những năm lưu đày: phương Nam và làng Mi-khai-lốp-xcôi-ê
Ra trường năm 1817, Pu-skin làm việc ở Bộ Ngoại giao tại Xanh Pê-téc-bua, sống cuộc đời của một chàng trai quý tộc trẻ giữa vũ hội và sòng bạc. Nhưng những bài thơ của ông, như Tự do, Gửi Tsa-a-đa-ép, chép tay truyền đi khắp nơi, chạm đến chế độ nông nô và quyền lực chuyên chế. Năm 1820, cùng năm in trường ca Ruslan và Lyudmila, ông bị điều đi phương Nam, thực chất là một cuộc lưu đày: Ê-ca-tê-ri-nô-xláp, Cáp-ca-dơ, Crưm, Ki-si-nhốp, Ô-đét-xa.
Năm 1824 ông bị đưa về điền trang của gia đình ở làng Mi-khai-lốp-xcôi-ê, dưới sự giám sát của chính quyền. Hai năm sống gần như một mình ở đây, bên ông chỉ có bà vú già A-ri-na Rô-đi-ô-nốp-na, người kể cho ông nghe những truyện cổ và bài hát dân gian. Chính nhờ bị cô lập mà ông viết được nhiều nhất: vở kịch lịch sử Bô-rít Gô-đu-nốp, nhiều chương Ép-ghê-ni Ô-nhê-ghin, những bài thơ trữ tình đẹp nhất. Nhờ đang bị quản thúc, ông không có mặt ở quảng trường Thượng viện ngày 14/12/1825, khi nhiều người bạn của ông nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa Tháng Chạp.
Tháng 9/1826, Sa hoàng Ni-cô-lai I cho gọi ông về Mát-xcơ-va, tuyên bố sẽ tự mình kiểm duyệt thơ ông. Sự “ân huệ” ấy về sau thành một sợi dây trói: Pu-skin không bị đày nữa, nhưng mọi bước đi, mọi trang viết đều nằm dưới mắt cảnh sát.
Mùa thu Bôn-đi-nô
Mùa thu năm 1830, Pu-skin về điền trang Bôn-đi-nô để lo việc thừa kế trước đám cưới. Dịch tả bùng phát, các ngả đường bị chặn, ông mắc kẹt ở đó gần ba tháng. Ba tháng ấy được người Nga gọi là “mùa thu Bôn-đi-nô”: ông hoàn thành Ép-ghê-ni Ô-nhê-ghin, viết bốn vở bi kịch ngắn (trong đó có Mô-da và Xa-li-ê-ri), năm truyện ngắn Truyện của Ben-kin và hàng chục bài thơ. Năm 1831 ông cưới Na-ta-li-a Gôn-tra-rô-va, một người đẹp nổi tiếng của Mát-xcơ-va.
Mùa thu năm 1833, ông trở lại Bôn-đi-nô và lại viết sung sức. Đây là lúc ra đời trường ca Người kỵ sĩ đồng về bức tượng Pi-e Đại đế và trận lụt ở Xanh Pê-téc-bua, và cũng là lúc ông viết Truyện ông lão đánh cá và con cá vàng, viết xong ngày 14/10/1833 (2/10 theo lịch cũ), in năm 1835 trên tạp chí Thư viện để đọc.
| Tác phẩm | Năm | Thể loại, điều đáng nhớ |
|---|---|---|
| Ruslan và Lyudmila | 1820 | Trường ca cổ tích, đưa ông nổi tiếng khắp nước Nga |
| Bô-rít Gô-đu-nốp | 1825 | Kịch thơ lịch sử về Sa hoàng Bô-rít Gô-đu-nốp, viết ở Mi-khai-lốp-xcôi-ê |
| Ép-ghê-ni Ô-nhê-ghin | 1823 – 1831 | Tiểu thuyết bằng thơ, in rời từng chương rồi in trọn một tập năm 1833 |
| Người kỵ sĩ đồng | 1833 | Trường ca về Xanh Pê-téc-bua và người dân nhỏ bé |
| Con đầm pích | 1833 | Truyện vừa về một sĩ quan mê cờ bạc |
| Người con gái viên đại úy | 1836 | Tiểu thuyết lịch sử về cuộc khởi nghĩa Pu-ga-tsốp |
Năm truyện cổ tích bằng thơ
Từ năm 1830 đến 1834, Pu-skin viết năm truyện cổ tích bằng thơ: Truyện về lão thầy tu và người làm công Ban-đa, Truyện về Sa hoàng Xan-tan, Truyện ông lão đánh cá và con cá vàng, Truyện về nàng công chúa chết và bảy tráng sĩ, Truyện về con gà trống vàng. Ông dùng chất liệu từ chuyện kể dân gian Nga mà bà vú A-ri-na từng kể, nhưng không ngại mượn cả cốt truyện châu Âu: theo các nhà nghiên cứu Nga, chuyện ông lão và con cá biết nói có chung cốt truyện với truyện Người đánh cá và vợ trong tập truyện cổ của anh em nhà Grimm.
Cái riêng của Pu-skin là giọng kể. Truyện cá vàng được viết bằng những câu thơ không vần, nhịp như lời kể của người già, với những đoạn lặp lại gần như nguyên văn mỗi lần ông lão ra biển: biển mỗi lần một nổi sóng dữ hơn, lời mụ vợ mỗi lần một quá quắt hơn. Lặp mà tăng tiến, đó là bí quyết của truyện cổ dân gian, và Pu-skin dùng nó rất có ý thức. Kết thúc truyện là một hình ảnh đã thành thành ngữ của người Nga: mụ vợ ngồi lại trước cái máng gỗ sứt mẻ như ngày đầu.
Ba văn bản của Pu-skin trong chương trình Ngữ văn
| Văn bản | Bộ sách, vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ông lão đánh cá và con cá vàng | Ngữ văn 6 Cánh diều, tập 2, Bài 6 (Truyện đồng thoại, truyện của Pu-skin và An-đéc-xen) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Con đường mùa đông | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1, Bài 2 (Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Tôi yêu em | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 1, Bài 1, thực hành đọc hiểu | Nội dung, đọc hiểu Tôi yêu em |
Văn bản lớp 6 là bản kể lại bằng văn xuôi, nên đọc lên giống truyện cổ tích quen thuộc hơn là một bài thơ. Hai bài lớp 11 thì ngược lại: Con đường mùa đông (1826) là một bài thơ cảnh, chiếc xe tam mã chạy trên đường tuyết đêm trăng, tiếng chuông buồn đều đều, người đi đường nghĩ về người yêu đang chờ; Tôi yêu em (1829) chỉ tám câu, một lời từ biệt mối tình đơn phương mà không một chữ oán trách. Hai bài thơ lớp 11 trong sách đều do Thúy Toàn dịch; muốn đọc trọn bài, em hãy dùng sách, vì bản dịch chưa hết thời hạn bảo hộ. Đọc ba văn bản theo thứ tự lớp học cũng là đi từ người kể chuyện cổ tích đến nhà thơ trữ tình trong cùng một con người.
Cuộc đấu súng bên sông Đen
Những năm cuối đời, Pu-skin bị kẹt giữa nợ nần, sự giám sát của triều đình và những lời đồn đại về vợ mình. Năm 1836 ông lập tạp chí Người đương thời, nơi in Người con gái viên đại úy.
Cũng năm ấy, một sĩ quan người Pháp trong đội cận vệ là Gioóc-giơ Đăng-tét công khai theo đuổi vợ ông; tháng 11/1836, những lá thư nặc danh chế nhạo Pu-skin được gửi đến bạn bè ông. Cuộc thách đấu đầu tiên được dàn xếp hoãn lại, nhưng đến cuối tháng 1/1837 thì không còn đường lùi. Ngày 27/1/1837 (8/2 theo lịch mới), hai người đấu súng ở ven sông Đen, ngoại ô Xanh Pê-téc-bua. Pu-skin trúng đạn vào bụng, được đưa về nhà và mất hai ngày sau, năm ba mươi bảy tuổi. Ông được chôn ở tu viện Xvi-a-tô-gooc-xki, gần làng Mi-khai-lốp-xcôi-ê nơi ông từng bị quản thúc.
Ngày 30/1/1837 (lịch cũ), tờ phụ trương văn học của báo Người tàn binh Nga in một lời cáo phó ngắn mở đầu bằng câu “Mặt trời thi ca của chúng ta đã lặn!”. Lâu nay câu ấy hay được gán cho chủ biên A. Cra-ép-xki; từ giữa thế kỷ XX, giới nghiên cứu Nga xác định người viết là nhà văn Vla-đi-mia Ô-đô-ép-xki. Từ đó, “mặt trời thi ca Nga” thành cách gọi quen thuộc nhất dành cho Pu-skin. Ngày sinh của ông, 6/6, nay là Ngày tiếng Nga của Liên Hợp Quốc và là ngày lễ Pu-skin ở Nga; ở Mát-xcơ-va, Xanh Pê-téc-bua, làng Mi-khai-lốp-xcôi-ê và Bôn-đi-nô đều có bảo tàng mang tên ông. Còn với độc giả nhỏ tuổi ở Việt Nam, Pu-skin vẫn là người đã kể cho các em nghe vì sao lòng tham thì không bao giờ có đáy. Khi Pu-skin còn sống, Gô-gôn đã viết trong bài Mấy lời về Pu-skin rằng Pu-skin là “một hiện tượng phi thường và có lẽ là hiện tượng duy nhất của tinh thần Nga”; gần nửa thế kỷ sau, Đốt-xtôi-ép-xki còn trích lại câu ấy ở đầu bài diễn văn nổi tiếng về Pu-skin năm 1880.
Xem thêm: