Soạn bài Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Đình Chú) giúp em chuẩn bị bài, trả lời các câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi sau khi đọc ở Bài 10 (Nghị luận văn học), sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập 2 (trang 107 – 111). Lời giải bám vào văn bản, chú ý luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng và cách người viết kết hợp khách quan với chủ quan.
Chuẩn bị đọc văn bản Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương”
Văn bản bàn về một truyện em đã học ở Bài 6, vì vậy trước khi đọc, em nên ôn lại cốt truyện Chuyện người con gái Nam Xương và tìm hiểu về tác giả bài nghị luận.

Câu 1: Yêu cầu chuẩn bị (trang 107)
Xem lại kiến thức về văn bản nghị luận văn học; đọc trước văn bản, tìm hiểu về tác giả Nguyễn Đình Chú; vận dụng hiểu biết về Chuyện người con gái Nam Xương để đọc hiểu văn bản.
Trả lời:
- Khi đọc văn bản nghị luận văn học, cần xác định luận đề, luận điểm; nhận ra lí lẽ, bằng chứng làm sáng tỏ từng luận điểm; phân biệt chỗ người viết trình bày khách quan với chỗ bày tỏ ý kiến chủ quan.
- Tác giả: Giáo sư Nguyễn Đình Chú, quê Nghi Lộc (Nghệ An), Nhà giáo Nhân dân, gần năm mươi năm đứng trên bục giảng của một trường sư phạm lớn ở Hà Nội.
- Ôn lại tác phẩm được bàn: Vũ Nương, người con gái nết na, bị chồng là Trương Sinh nghi ngờ thất tiết chỉ vì lời bé Đản kể về một người cha đêm nào cũng đến (thực ra là cái bóng của mẹ in trên vách). Không thanh minh được, nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang. Về sau Trương Sinh mới hiểu nỗi oan của vợ. Xem thêm: Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương.
Đọc hiểu: trả lời câu hỏi trong khi đọc
Các câu hỏi bên lề giúp em lần theo mạch lập luận của người viết qua từng đoạn.
Câu 1: Cách nêu vấn đề của người viết (trang 107)
Chú ý cách nêu vấn đề của người viết.
Trả lời:
Người viết nêu vấn đề một cách gián tiếp và khiêm tốn: trước hết khẳng định giá trị của tác phẩm (một “thiên cổ kì bút”), thừa nhận truyện đã được bàn nhiều, rồi mới cho rằng vẫn còn điều cần nói thêm. Cách vào đề ấy vừa tôn trọng những ý kiến đi trước, vừa gợi sự tò mò về phát hiện mới của tác giả.
Câu 2: Cái độc đáo, cao siêu của truyện theo tác giả (trang 108)
Theo tác giả, cái “độc đáo”, “cao siêu” của truyện là gì?
Trả lời:
Truyện cho thấy niềm hạnh phúc của người vợ, người mẹ dễ vỡ đến mức với lối nghĩ thông thường, khó ai ngờ tới. Điều ấy đúng với phụ nữ ở khắp nơi và ở mọi thời đại, chứ không chỉ người Việt thời xưa. Tác nhân phá vỡ hạnh phúc lại nằm ngay trong những điều thân thuộc nhất: cái bóng của chính mình và lời nói ngây thơ của đứa con.
Câu 3: Các chi tiết được phân tích (trang 108)
Các chi tiết được phân tích là những chi tiết nào?
Trả lời:
- Chi tiết cái bóng: Vũ Nương “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Tác giả xem đây là biểu tượng của sự đồng nhất giữa vợ và chồng, nhưng cũng là nơi bi kịch bắt đầu.
- Chi tiết đứa con: bé Đản ngây thơ, vô tội nhưng chính lời nó nói ra đã khiến gia đình của mẹ đổ vỡ.
- Chi tiết Trương Sinh: tính đa nghi, hay ghen; việc chàng vẫn động lòng thương, vớt xác vợ; và lúc chàng tỉnh ngộ cũng nhờ cái bóng và lời con.
Câu 4: So sánh với Truyện Kiều để làm rõ điều gì? (trang 108)
Người viết so sánh Chuyện người con gái Nam Xương với Truyện Kiều để làm rõ điều gì?
Trả lời:
Phép so sánh làm nổi bật sự khác biệt về nguyên nhân bi kịch. Nàng Kiều khổ vì những kẻ gian ác cụ thể, nhìn thấy được (thằng bán tơ, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Hoạn Thư…), nên về lí thuyết còn có thể chống lại hoặc tránh xa. Còn Vũ Nương không thể né tránh, vì tác nhân hủy hoại nằm ngay trong cái bóng, trong niềm vui với con, trong lời con trẻ. Từ đó, tác giả khẳng định chiều sâu triết lí của truyện Nguyễn Dữ: nó chạm tới sự “ma quái” có thật trong cuộc sống con người.
Câu 5: Những ý kiến bị bác bỏ (trang 109)
Người viết đã bác bỏ những ý kiến nào trong phần này?
Trả lời:
- Ý kiến cho rằng hạnh phúc Vũ Nương tan nát là do chế độ nam nữ bất bình đẳng. Tác giả thừa nhận ý này thoạt nghe hợp lí nhưng cho rằng xét kĩ thì chưa đúng.
- Ý kiến cho rằng nguyên nhân là chiến tranh. Tác giả khẳng định ý kiến này hoàn toàn sai.
Câu 6: Cách nêu lí lẽ của người viết (trang 109)
Chú ý cách nêu lí lẽ của người viết.
Trả lời:
Để bác bỏ ý kiến thứ nhất, người viết đi từ chi tiết tác phẩm đến quy luật tâm lí: nguyên nhân trực tiếp là tính ghen của Trương Sinh; ghen là tâm lí thường tình của con người, ít phụ thuộc vào chế độ xã hội; ông dẫn lời Hoạn Thư trong Truyện Kiều làm bằng chứng và đặt giả thiết về một xã hội đã bình đẳng hoàn toàn. Ông còn chỉ ra những chi tiết mà cách hiểu kia khó giải thích (Trương Sinh vẫn thương, vẫn vớt xác vợ). Lí lẽ được nêu theo lối đặt câu hỏi, giả định rồi tự trả lời, khiến lập luận chặt chẽ mà gần gũi như trò chuyện.
Câu 7: Ý nghĩa việc nhắc lại câu đã nêu ở phần mở đầu (trang 110)
Ý nghĩa của việc nhắc lại câu đã nêu ở phần mở đầu này là gì?
Trả lời:
Phần kết nhắc lại ý đã nêu: hạnh phúc của người phụ nữ mong manh vô cùng. Việc lặp lại giúp nhấn mạnh luận đề, cho thấy toàn bộ phần phân tích đã chứng minh được điều tác giả nêu ra từ đầu; đồng thời tạo kết cấu chặt chẽ, đầu cuối tương ứng, và làm nền cho lời nhắn nhủ ngay sau đó.
Câu 8: Người viết nhận xét, đánh giá truyện như thế nào? (trang 110)
Người viết nhận xét, đánh giá truyện như thế nào?
Trả lời:
Tác giả đánh giá rất cao: Nguyễn Dữ đã phát hiện một quy luật khắc nghiệt trong cuộc sống người phụ nữ và dựng lại cốt truyện với nhiều chi tiết liên kết chặt chẽ, nổi bật là một chi tiết then chốt giàu sức gợi, bằng lối viết đan cài thực và ảo. Tác phẩm là câu chuyện tình bi thương còn làm day dứt người đọc nhiều thế hệ, là “thiên cổ kì bút”, và đối với truyện ngắn nước ta, đó vừa là điểm khởi đầu đột ngột vừa là một đỉnh cao.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc (trang 111)
Sáu câu hỏi cuối bài yêu cầu em khái quát bố cục, luận đề, luận điểm và nhận xét về cách lập luận.
Câu 1: Nội dung từng phần và ý nghĩa cụm từ “nghĩ thêm”
Xác định nội dung chính của mỗi phần được đánh số trong văn bản. Theo em, cụm từ “nghĩ thêm” trong nhan đề có ý nghĩa gì?
Trả lời:
- Phần 1: giới thiệu tác phẩm và nêu vấn đề: một truyện đã được bàn nhiều vẫn còn điều cần nói thêm.
- Phần 2: chứng minh phát hiện chính của bài, rằng hạnh phúc của Vũ Nương có thể vỡ tan chỉ vì cái bóng, lời con trẻ và tính ghen của Trương Sinh; bác bỏ hai ý kiến về nguyên nhân bi kịch.
- Phần 3: khẳng định lại vấn đề, rút ra bài học và đánh giá giá trị nghệ thuật của truyện.
Cụm từ nghĩ thêm cho thấy tác giả không phủ định những cách hiểu đã có mà bổ sung một góc nhìn mới, sâu hơn. Nó thể hiện thái độ khiêm tốn, cầu thị của người nghiên cứu, đồng thời báo hiệu bài viết sẽ có phát hiện riêng.
Câu 2: Luận đề và vị trí nêu luận đề
Văn bản bàn luận về vấn đề (luận đề) gì? Vấn đề ấy được nêu lên ở phần nào của bài viết?
Trả lời:
Luận đề: cái độc đáo, cao siêu của Chuyện người con gái Nam Xương nằm ở chỗ tác phẩm khiến ta nhận ra hạnh phúc lứa đôi của phụ nữ rất dễ đổ vỡ, có thể tan tành vì những điều nhỏ bé, gần gũi nhất. Luận đề được gợi ra ở phần 1 và nêu rõ ở đầu phần 2, sau đó được nhắc lại ở phần 3.
Câu 3: Luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
Tác giả đã làm sáng tỏ luận đề bằng những luận điểm nào? Dẫn ra một số lí lẽ và bằng chứng mà tác giả sử dụng.
Trả lời:
| Luận điểm | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Hạnh phúc Vũ Nương tan vỡ bắt đầu từ cái bóng và lời con trẻ | Cái bóng là biểu tượng của sự gắn bó vợ chồng nhưng lại là khởi đầu bi kịch; đứa con vô tội lại là tác nhân trực tiếp | Chi tiết Vũ Nương trỏ bóng mình bảo là cha Đản; câu Kiều thề nguyền về chữ “đồng” |
| Bi kịch của Vũ Nương khác bi kịch nàng Kiều | Kiều khổ vì kẻ ác cụ thể, còn có thể né tránh; Vũ Nương không thể tránh tác nhân nằm trong chính mình | Các nhân vật thằng bán tơ, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến |
| Nguyên nhân trực tiếp là tính ghen của Trương Sinh, không chủ yếu do bất bình đẳng nam nữ | Lòng ghen có ở mọi người, mọi thời; thay đổi chế độ chưa chắc xóa được nó | Lời Hoạn Thư; chi tiết Trương Sinh thương vợ, vớt xác, rồi tỉnh ngộ; giả thiết về xã hội bình đẳng |
| Chiến tranh không phải nguyên nhân quyết định | Việc đi lính chỉ là chi tiết phụ, có thay đổi cũng không làm khác câu chuyện | Giả định chàng vắng nhà vì việc học hay việc buôn bán; so sánh với Chinh phụ ngâm |
Câu 4: Kết hợp khách quan và chủ quan
Phân tích để làm sáng tỏ cách trình bày kết hợp của tác giả: nêu vấn đề khách quan và phát biểu ý kiến chủ quan.
Trả lời:
- Khách quan: tác giả dựa vào chi tiết cụ thể của tác phẩm (cái bóng, lời bé Đản, tính đa nghi của Trương Sinh), trích dẫn Truyện Kiều, so sánh với Chinh phụ ngâm, nhắc đến bi kịch Đe-xđê-mô-na trong văn học Anh; thừa nhận cách hiểu quen thuộc là “không sai”.
- Chủ quan: ông bày tỏ chính kiến rất rõ bằng những cụm từ như “thiết nghĩ”, “Xin nói ngay”, “hoàn toàn sai”, “Xin nói lại”, và cả những câu cảm thán, câu hỏi tu từ đầy cảm xúc.
- Tác dụng: sự kết hợp làm cho bài viết vừa có cơ sở vững chắc, vừa thể hiện cá tính, nhiệt huyết của người viết; người đọc được thuyết phục cả bằng lí lẽ lẫn tình cảm.
Câu 5: Văn bản làm sáng tỏ thêm giá trị của truyện ở những điểm nào?
Văn bản đã làm sáng tỏ thêm cho giá trị của Chuyện người con gái Nam Xương ở những điểm nào (nội dung, nghệ thuật)?
Trả lời:
- Nội dung: truyện không chỉ tố cáo xã hội phong kiến và cảm thông với số phận phụ nữ mà còn chứa đựng suy ngẫm nhân sinh về những điều dễ vỡ trong đời sống gia đình; truyện cũng là lời cảnh tỉnh về sự ghen tuông, nghi kị trong tình yêu, hôn nhân ở mọi thời.
- Nghệ thuật: các chi tiết gắn kết với nhau, trong đó chi tiết then chốt là cái bóng; bút pháp kết hợp thực và ảo, hiện thực và lãng mạn; tác phẩm xứng đáng đứng ở hàng đầu văn xuôi tự sự thời trung đại.
Câu 6: Ý kiến em thích nhất
Em thích nhất ý kiến nào của tác giả trong văn bản? Vì sao?
Trả lời:
Gợi ý: Em thích nhất ý kiến rằng hạnh phúc của Vũ Nương bị phá hủy bởi chính cái bóng của nàng và lời nói hồn nhiên của đứa con. Trước đây em chỉ nghĩ cái bóng là một chi tiết khéo léo để thắt nút câu chuyện. Đọc bài viết, em nhận ra điều đáng sợ: thứ nàng dùng để bày tỏ tình yêu với chồng lại quay sang làm hại nàng. Ý kiến ấy giúp em hiểu rằng trong cuộc sống, những hiểu lầm nhỏ nếu không được trò chuyện, làm rõ kịp thời có thể gây hậu quả không cứu vãn được.
Kết luận
Soạn bài Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương”, em cần nắm luận đề của bài viết, bốn luận điểm chính, cách tác giả bác bỏ hai ý kiến khác và sự kết hợp giữa trình bày khách quan với bày tỏ chủ quan. Đây là mẫu tốt để em học cách viết bài nghị luận phân tích một tác phẩm truyện.
Xem thêm:
- Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương”: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ và Truyền kì mạn lục
- Phân tích chi tiết cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương
- Soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân