Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích là phần khép lại bài nghị luận về đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, văn bản học ở sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (Bài 3) và Cánh diều (Bài 2). Kết bài cần khẳng định lại nỗi cô đơn, lòng chung thủy và đức hiếu thảo của Thúy Kiều cùng tài tả cảnh ngụ tình của đại thi hào, rồi để lại một suy nghĩ riêng. Dưới đây là 13 mẫu kết bài viết sẵn, gồm tổng kết, liên hệ, mở rộng và mẫu riêng cho từng phần đoạn trích.

Cách viết kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích
- Nhắc lại tên đoạn trích, tác giả và hai giá trị chính: bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
- Không phân tích thêm chi tiết mới; chỉ gợi lại một hình ảnh tiêu biểu (khóa xuân, hoa trôi, tiếng sóng) để khép bài cho có dư âm.
- Phần liên hệ nên ngắn và chân thật: tình cảm gia đình, quyền được sống tự do và hạnh phúc của con người.
- Kết bài phải tương ứng với mở bài và phạm vi đề: đề 8 câu cuối thì kết về điệp ngữ “buồn trông”, không kết về cả đoạn trích.
Kết bài tổng kết Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mẫu 1 – ngắn gọn
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình và những dòng tự bạch tinh tế, Nguyễn Du đã khắc họa trọn vẹn nỗi cô đơn, buồn tủi cùng lòng chung thủy, hiếu nghĩa của nàng Kiều. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích vì thế để lại trong người đọc niềm xót thương sâu sắc với nhân vật và lòng khâm phục ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Chỉ với hai mươi hai câu thơ, đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã gói trọn một chặng đời đầy đau khổ của Thúy Kiều. Về nội dung, đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ trơ trọi của nàng nơi đất khách, nỗi nhớ Kim Trọng da diết, nỗi lo cho cha mẹ già và những linh cảm chẳng lành về ngày mai. Về nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp nhuần nhuyễn tả cảnh với tả tình, dùng điển cố, từ láy và điệp ngữ một cách chính xác, giàu sức gợi. Đoạn trích là minh chứng sinh động cho tấm lòng nhân đạo và tài năng bậc thầy của Nguyễn Du.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí của đoạn trích
Trong hơn ba nghìn câu thơ của Truyện Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích có một vị trí đặc biệt. Đây là lần đầu tiên Thúy Kiều phải một mình đối diện với số phận sau biến cố gia đình, cũng là khúc dạo đầu cho những năm tháng bị vùi dập tiếp theo. Về nghệ thuật, đoạn thơ được xem như một mẫu mực của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn học trung đại. Đọc lại đoạn trích, ta càng thấm thía vì sao Nguyễn Du là niềm tự hào lớn của văn học Việt Nam.
Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân về tình cảm gia đình
Khép lại đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, hình ảnh khiến em nhớ nhất là Thúy Kiều giữa cảnh khốn cùng vẫn lo không biết ai quạt mát, ủ ấm cho cha mẹ. Một người con gái đang bị giam lỏng, chưa biết ngày mai ra sao, mà vẫn đặt cha mẹ lên trên nỗi khổ của mình. Bài học Nguyễn Du gửi lại thật giản dị: tình thương gia đình là điểm tựa giúp con người đứng vững. Em tự nhắc mình biết trân trọng những ngày được sống bên cha mẹ và đáp đền công ơn ấy bằng những việc làm cụ thể.
Mẫu 5 – liên hệ với khát vọng tự do, hạnh phúc của con người
Hơn hai trăm năm đã qua, xã hội không còn những Tú Bà, Mã Giám Sinh như trong Truyện Kiều, nhưng đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích vẫn khiến người đọc hôm nay day dứt. Bởi đằng sau nỗi cô đơn của Thúy Kiều là tiếng nói đòi quyền sống, quyền được yêu thương và được tự quyết định cuộc đời mình. Nguyễn Du đã cất lên tiếng nói ấy từ rất sớm, khi người phụ nữ còn bị coi như món hàng. Trân trọng đoạn thơ cũng là trân trọng những giá trị nhân văn mà mỗi thời đại cần gìn giữ.
Mẫu 6 – mở rộng so sánh với Cảnh ngày xuân
Đặt cạnh Cảnh ngày xuân, ta càng thấy rõ sức nặng của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Vẫn là màu xanh của cỏ, nhưng nếu ngày du xuân cỏ non trải tới tận chân trời, tươi tắn và đầy sức sống, thì nay chỉ còn “nội cỏ rầu rầu”, đất trời nhòa vào một sắc buồn. Hai màu xanh là hai quãng đời của Thúy Kiều: một quãng êm đềm đã mất và một quãng đọa đày vừa bắt đầu. Qua sự đối lập ấy, Nguyễn Du bày tỏ niềm xót xa sâu sắc trước số phận người con gái tài sắc.
Mẫu 7 – trở lại kết cấu cảnh – tình – cảnh
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mở ra bằng cảnh, đi qua những dòng tâm sự của Thúy Kiều rồi lại khép lại bằng cảnh. Nhưng cảnh ở cuối đã khác hẳn cảnh ở đầu: từ không gian tĩnh lặng, trống vắng đến tiếng sóng dữ dội vây quanh chỗ Kiều ngồi. Sự chuyển động ấy chính là đường đi của tâm trạng, từ buồn tủi sang hoang mang rồi sợ hãi. Với cách tổ chức chặt chẽ như vậy, Nguyễn Du đã biến hai mươi hai câu thơ thành một bức tranh nội tâm hoàn chỉnh và đầy ám ảnh.
Mẫu 8 – khép lại bằng câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu”
Ở một đoạn khác của Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là lời minh họa đẹp nhất cho hai câu thơ ấy. Non xa, trăng gần, cánh buồm, hoa trôi hay ngọn sóng đều nhuốm màu nỗi lòng cô gái bị giam lỏng. Nhờ thế, người đọc không chỉ thấy cảnh mà còn chạm được vào nỗi lòng của Thúy Kiều, và càng thêm trân trọng trái tim nhân hậu của đại thi hào.
Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích theo từng phần đoạn trích
Mẫu 9 – đề phân tích 6 câu thơ đầu
Mở đầu Kiều ở lầu Ngưng Bích, sáu câu thơ dựng lên một không gian mênh mông, vắng lặng và một thời gian khép kín, lặp lại từ sáng đến đêm. Giữa khung cảnh ấy, Thúy Kiều hiện ra đơn độc, tủi hổ, lòng như bị xé làm đôi. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã khiến cảnh vật trở thành tấm gương phản chiếu cảnh ngộ của nhân vật. Đoạn thơ ngắn mà mở đường cho toàn bộ diễn biến tâm trạng phía sau.
Mẫu 10 – đề phân tích 8 câu thơ giữa
Phần giữa của Kiều ở lầu Ngưng Bích gồm tám câu thơ, đó là những dòng độc thoại thấm đẫm yêu thương. Thúy Kiều nhớ Kim Trọng với nỗi đau của người lỗi hẹn, nhớ cha mẹ với nỗi lo của người con xa nhà. Những điển cố như quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử được Nguyễn Du dùng tự nhiên, khiến tình cảm của Kiều vừa trang trọng vừa gần gũi. Qua đoạn thơ, ta nhận ra một tâm hồn thủy chung, hiếu thảo và giàu đức hi sinh hiếm có.
Mẫu 11 – đề phân tích 8 câu thơ cuối
Với bốn lần lặp lại hai tiếng “buồn trông”, tám câu khép lại Kiều ở lầu Ngưng Bích đã tạo nên những đợt sóng tâm trạng dâng lên mỗi lúc một cao. Cánh buồm xa, cánh hoa trôi, nội cỏ nhạt nhòa và tiếng sóng ầm ầm là những hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ cho thân phận lênh đênh của Thúy Kiều. Đây là đoạn thơ kết tinh tài năng tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du và để lại dư âm lâu dài trong lòng người đọc.
Mẫu 12 – đề phân tích tâm trạng nhân vật Thúy Kiều
Qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều hiện lên vừa đáng thương vừa đáng trọng. Đáng thương vì nàng bị giam hãm, cô đơn, tủi nhục và không biết số phận sẽ trôi về đâu. Đáng trọng vì giữa hoàn cảnh ấy, nàng vẫn nghĩ tới người yêu, tới cha mẹ trước khi nghĩ tới mình. Xây dựng nhân vật như vậy, Nguyễn Du bày tỏ niềm cảm thông và sự trân trọng sâu sắc dành cho phái nữ thời phong kiến.
Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – khép lại bằng suy ngẫm về sức sống của đoạn thơ
Có những câu thơ người ta học thuộc vì phải thi, và có những câu thơ tự ở lại trong lòng người đọc. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích thuộc loại thứ hai. Nó ở lại bởi hình ảnh một cô gái ngồi trên lầu cao, nhìn cánh buồm khuất dần nơi cửa bể mà không biết mình sẽ trôi dạt về đâu; bởi tấm lòng vẫn ấm áp thương người giữa những ngày lạnh lẽo nhất. Nguyễn Du đã không đứng ngoài để kể, ông đã sống cùng nỗi đau của nhân vật. Chính vì thế, đoạn thơ hơn hai trăm năm tuổi vẫn khiến người hôm nay xúc động và biết thương hơn những phận người còn chịu nhiều thiệt thòi.
Nên chọn mẫu kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích nào?
Mười ba mẫu kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích ở trên khép lại theo nhiều hướng: tổng kết giá trị, khẳng định vị trí, liên hệ gia đình và thời đại, so sánh với Cảnh ngày xuân hay kết riêng cho từng phần đoạn trích. Bài viết ngắn nên chọn mẫu tổng kết; bài thi vào lớp 10 có thể dùng mẫu liên hệ hoặc mẫu nâng cao để gây ấn tượng. Dù chọn mẫu nào, em hãy giữ kết bài thống nhất với mở bài và diễn đạt lại bằng cảm xúc riêng.
Xem thêm:
- Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Nguyễn Du) – tuyển chọn bài văn hay
- Kiều ở lầu Ngưng Bích: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Nguyễn Du
- Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Cảnh ngày xuân hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề