Tác phẩm Nguyễn Huy Tưởng đưa người đọc trở về với lịch sử dân tộc qua những trang kịch, tiểu thuyết và truyện thiếu nhi đầy khí phách: từ bi kịch người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô, cuộc khởi nghĩa trong Bắc Sơn đến hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát quả cam trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Hãy cùng Văn VN điểm qua những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông.
Đôi nét về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn, nhà viết kịch có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt ở mảng đề tài lịch sử. Cuộc đời ông không dài – mất khi mới 48 tuổi – nhưng để lại những tác phẩm được xem là cổ điển của sân khấu và văn xuôi nước nhà.

- Năm sinh – năm mất: 6/5/1912 – 25/7/1960.
- Quê quán: làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội).
- Thể loại: kịch, tiểu thuyết lịch sử, truyện viết cho thiếu nhi, kí, nhật kí.
- Tác phẩm nổi bật: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, An Tư, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
- Vai trò khác: người sáng lập và giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.
- Giải thưởng: được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, thuở nhỏ học cả chữ Hán lẫn chữ Pháp, từng học ở Hải Phòng. Từ năm 1930, ông đã tham gia các hoạt động yêu nước của thanh niên học sinh ở Hải Phòng, sau đó hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ. Năm 1943, ông tham gia nhóm Văn hóa Cứu quốc; tháng 6/1945 ông vào ban biên tập tạp chí Tiên Phong, tháng 8/1945 dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào với tư cách đại biểu Văn hóa Cứu quốc.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng là đại biểu Quốc hội khóa I và là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội Văn hóa Cứu quốc. Cuối năm 1946, ông lên Việt Bắc tham gia kháng chiến. Hòa bình lập lại, ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và gắn bó với việc làm sách cho thiếu nhi ở Nhà xuất bản Kim Đồng. Ông mất tại Hà Nội ngày 25/7/1960; thành phố Hà Nội sau này đặt tên ông cho một con phố.
Xem tiểu sử tác giả Nguyễn Huy Tưởng – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Nguyễn Huy Tưởng có những tác phẩm nào?
Sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng trải trên nhiều thể loại, nhưng nổi bật nhất là kịch và tiểu thuyết lịch sử. Danh mục dưới đây tổng hợp theo Wikipedia tiếng Việt và các tư liệu của Hội Nhà văn Việt Nam:

Kịch
- Vũ Như Tô (hoàn thành năm 1941)
- Cột đồng Mã Viện (1944)
- Bắc Sơn (1946)
- Những người ở lại (1948)
Tiểu thuyết
- Đêm hội Long Trì (1942)
- An Tư (1944)
- Truyện anh Lục (1955)
- Bốn năm sau (1959)
- Sống mãi với thủ đô (in năm 1961)
Truyện viết cho thiếu nhi
- Tìm mẹ (1950)
- Kể chuyện Quang Trung (1957)
- Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960)
- An Dương Vương xây thành ốc (1960)
- Chiến sĩ ca-nô, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông trời, Cô bé gan dạ
Kí, kịch bản phim, nhật kí
- Ký sự Cao Lạng (1951)
- Gặp Bác (1956)
- Kịch bản phim Lũy hoa
- Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng (3 tập, in năm 2006)
Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng
Dưới đây là những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng, trong đó có nhiều văn bản đang được học trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT.
1/ Vũ Như Tô (1941)
Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi, được tác giả hoàn thành vào mùa hè năm 1941. Bản ba hồi từng đăng trên tạp chí Tri tân những năm 1943–1944, sau đó được ông chỉnh sửa thành năm hồi. Vở kịch lấy bối cảnh Thăng Long khoảng năm 1516–1517, dưới triều vua Lê Tương Dực.
Kiến trúc sư tài hoa Vũ Như Tô bị hôn quân Lê Tương Dực ép xây Cửu Trùng Đài làm nơi ăn chơi. Ban đầu ông khảng khái từ chối; chỉ khi cung nữ Đan Thiềm – người mang “bệnh” say mê tài hoa – khuyên ông mượn quyền thế nhà vua để xây cho đất nước một công trình tráng lệ muôn đời, Vũ Như Tô mới nhận lời. Nhưng Cửu Trùng Đài càng cao thì dân chúng càng khổ vì sưu thuế, phu phen. Cuối cùng, quận công Trịnh Duy Sản nổi loạn, thợ thuyền nổi dậy, Lê Tương Dực bị giết, Vũ Như Tô và Đan Thiềm cũng không thoát, còn Cửu Trùng Đài bị thiêu hủy.
Chính tác giả đã đặt ở đầu vở kịch một lời đề tựa đầy day dứt:
Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.
Câu hỏi bỏ ngỏ ấy cho thấy xung đột cốt lõi của vở kịch: khát vọng sáng tạo cái đẹp của người nghệ sĩ và lợi ích thiết thực của nhân dân. Nhà văn trân trọng tài năng, thấu hiểu bi kịch của Vũ Như Tô nhưng không đứng hẳn về phía nào, để người đọc tự suy ngẫm. Vũ Như Tô được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp viết kịch của Nguyễn Huy Tưởng và là tác phẩm kinh điển của sân khấu Việt Nam.
2/ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích hồi V vở kịch Vũ Như Tô)

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là đoạn trích thuộc hồi V – hồi cuối của vở kịch, nơi mọi mâu thuẫn bùng nổ. Loạn quân tràn vào kinh thành, Đan Thiềm tha thiết khuyên Vũ Như Tô trốn đi để giữ lấy tài năng, nhưng ông tin mình trong sạch nên không chịu. Đan Thiềm bị bắt, Vũ Như Tô bị giải ra pháp trường, và trước khi chết ông phải chứng kiến công trình cả đời mình bốc cháy.
Tiếng kêu cuối cùng của nhân vật đã trở thành một trong những lời thoại ám ảnh nhất của kịch Việt Nam:
Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!
Ba tiếng “Ôi” gói trọn bi kịch của người nghệ sĩ: giấc mộng sáng tạo, người tri kỉ và tác phẩm để đời cùng lúc tan thành tro bụi. Đoạn trích hiện có mặt trong cả ba bộ sách Ngữ văn 11.
Đọc thêm: Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức) và Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài: nội dung chính, tác giả – tác phẩm.
3/ Đêm hội Long Trì (1942)
Đêm hội Long Trì là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên tạp chí Tri tân năm 1942. Tác phẩm đưa người đọc vào phủ chúa Trịnh thời Trịnh Sâm (Tĩnh Đô Vương), với những mưu mô tranh quyền trong cung cấm, trong đó nổi bật hình ảnh Tuyên phi Đặng Thị Huệ.
Từ một đêm hội ở phủ chúa, câu chuyện mở ra hai tuyến nhân vật đối lập cùng những số phận bị cuốn vào vòng xoáy quyền lực. Với tác phẩm này, bạn đọc thời ấy nhận ra một cây bút có thiên hướng lịch sử rõ rệt – hướng đi mà Nguyễn Huy Tưởng theo đuổi suốt đời.
4/ An Tư (1944)
An Tư là tiểu thuyết lịch sử viết năm 1943, xuất bản năm 1944. Từ vài dòng ghi chép ngắn ngủi trong Đại Việt sử kí toàn thư về công chúa An Tư – người được triều Trần đưa sang trại giặc Nguyên Mông trong cuộc kháng chiến lần thứ hai – nhà văn đã dựng thành một câu chuyện trọn vẹn.
Qua số phận một người con gái phải hi sinh hạnh phúc riêng cho vận nước, tác phẩm tái hiện không khí sục sôi của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thời Trần. Có thể thấy ở đây cảm hứng quen thuộc của Nguyễn Huy Tưởng: tìm trong lịch sử những tấm gương giúp người đương thời thêm tự hào và vững tin.
5/ Bắc Sơn (1946)
Bắc Sơn là vở kịch đầu tiên của Nguyễn Huy Tưởng viết về đề tài cách mạng, công diễn thành công tại Nhà hát Lớn Hà Nội tháng 4/1946, chỉ vài tháng sau Cách mạng tháng Tám. Vở kịch lấy bối cảnh cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940–1941), xoay quanh những biến cố trong gia đình cụ Phương, người dân tộc Tày.
Nhân vật được nhớ nhiều nhất là Thơm – cô gái có chồng theo giặc, từ chỗ thờ ơ, sợ liên lụy đã dần đứng hẳn về phía cách mạng. Qua đó, vở kịch cho thấy sức cảm hóa của cách mạng đối với quần chúng và mở đầu cho dòng kịch cách mạng của sân khấu Việt Nam hiện đại.
6/ Sống mãi với thủ đô (1961)
Sống mãi với thủ đô là tiểu thuyết viết về những ngày Hà Nội đứng lên kháng chiến cuối năm 1946 theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà văn bắt tay vào viết sau khi trở về Hà Nội năm 1954, hoàn thành phần I năm 1958 rồi tạm dừng để viết kịch bản phim Lũy hoa.
Tác phẩm chưa kịp hoàn chỉnh theo dự định thì ông qua đời; phần đã viết được in năm 1961. Dù vậy, Sống mãi với thủ đô vẫn là một bức tranh rộng và xúc động về Hà Nội trong giờ phút lịch sử, là lời tri ân của nhà văn với những người đã ngã xuống vì Thủ đô.
7/ Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960)

Lá cờ thêu sáu chữ vàng là truyện lịch sử viết cho thiếu nhi, xuất bản lần đầu năm 1960, gồm 18 chương, kể về người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản (Hoài Văn Hầu) thời kháng chiến chống Nguyên Mông. Tên truyện lấy từ lá cờ mà Quốc Toản cho thêu sáu chữ vàng:
Phá cường địch, báo hoàng ân.
Sáu chữ ấy có nghĩa là “phá giặc mạnh, đền ơn vua”. Đoạn quen thuộc nhất là cảnh Quốc Toản vì còn nhỏ tuổi không được dự bàn việc nước ở bến Bình Than; uất ức đến mức bóp nát quả cam vua ban lúc nào không biết, rồi về nhà tập hợp gia binh, trai tráng, dựng cờ đánh giặc. Nhà văn khắc họa một Trần Quốc Toản vừa hồn nhiên, nóng nảy của tuổi trẻ, vừa mang lòng yêu nước và ý chí lớn lao.
Truyện được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản nhiều lần và trở thành một trong những cuốn sách lịch sử quen thuộc nhất với thiếu nhi Việt Nam. Hai đoạn trích của truyện hiện được học trong Ngữ văn 8: Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Kết nối tri thức) và Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (Chân trời sáng tạo).
Đọc thêm: Soạn bài Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Văn 8 Kết nối tri thức), Lá cờ thêu sáu chữ vàng: tóm tắt, bố cục, thể loại, Phân tích nhân vật Trần Quốc Toản trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Soạn bài Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (Ngữ văn 8).
Tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong sách giáo khoa Ngữ văn
Nguyễn Huy Tưởng là một trong những tác giả có mặt ở cả cấp THCS và THPT của chương trình Ngữ văn 2018:
| Văn bản | Lớp – bộ sách | Bài học |
|---|---|---|
| Lá cờ thêu sáu chữ vàng | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 1: Câu chuyện của lịch sử |
| Viên tướng trẻ và con ngựa trắng (trích Lá cờ thêu sáu chữ vàng) | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 9: Âm vang của lịch sử (Truyện lịch sử) |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 5: Nhân vật và xung đột trong bi kịch |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 5: Băn khoăn tìm lẽ sống (Bi kịch) |
| Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 | Bài 8: Bi kịch |
Các bài soạn, tóm tắt và phân tích tương ứng trên Văn VN đã được dẫn ở mục 2 và mục 7 phía trên.
Phong cách sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Có thể khái quát một vài nét nổi bật trong ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng:
- Cảm hứng lịch sử: phần lớn tác phẩm lấy đề tài từ lịch sử dân tộc, từ thời An Dương Vương, nhà Trần, thời Lê – Trịnh đến những ngày kháng chiến. Ông coi viết về lịch sử là cách bồi đắp lòng yêu nước cho người đương thời.
- Sở trường kịch và tiểu thuyết: ông giỏi dựng xung đột, tạo những tình huống bi kịch giàu tính triết lí như trong Vũ Như Tô.
- Tấm lòng với thiếu nhi: những năm cuối đời ông dành nhiều tâm sức viết truyện lịch sử cho các em, với lối kể giản dị, sinh động.
- Ngôn ngữ đậm màu sắc lịch sử: lời văn trang trọng, giàu hình ảnh, phù hợp với không khí từng thời đại được tái hiện.
Lời kết
Từ sân khấu đến trang sách thiếu nhi, tác phẩm Nguyễn Huy Tưởng luôn mang một tình yêu lớn với lịch sử và con người Việt Nam. Bi kịch Vũ Như Tô vẫn khiến người đọc hôm nay trăn trở, còn lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” của Trần Quốc Toản vẫn tiếp tục thắp lửa cho bao thế hệ học trò.
Xem thêm: Tuyển tập tác phẩm Nguyễn Đình Thi · Tổng hợp những tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài · Những bài thơ Lưu Quang Vũ hay nhất
Xem thêm: tác phẩm Vũ Bằng, tác phẩm Bảo Ninh, tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư.