Chính kịch là thể loại kịch phản ánh những mâu thuẫn, xung đột của đời sống thường ngày, trong đó buồn vui, bi hài đan xen, không nghiêng hẳn về bi thương như bi kịch hay về tiếng cười như hài kịch. Đây là một trong ba thể kịch chia theo tính chất xung đột, bên cạnh bi kịch và hài kịch. Trên màn ảnh, “phim chính kịch” là cách gọi quen thuộc của dòng phim drama.
| Khái niệm | Thể kịch phản ánh xung đột đời thường, bi và hài lẫn lộn |
| Thuộc | Loại kịch, phân theo tính chất xung đột (cùng nhóm với bi kịch, hài kịch) |
| Tên nước ngoài | Tiếng Pháp drame, tiếng Anh drama |
| Dấu hiệu nhận biết | Nhân vật bình thường, xung đột nghiêm túc, giọng điệu pha trộn, kết thúc không nhất thiết bi thảm |

Chính kịch đứng ở đâu giữa bi và hài?
Sách Ngữ văn lớp 11 (chương trình cũ), trong bài khái quát về thể loại kịch, chia kịch theo tính chất của xung đột thành bi kịch, hài kịch và chính kịch. Bi kịch đặt những nhân vật cao đẹp trước thế lực đen tối, kết cục thường là thất bại hay cái chết khiến người xem xót thương. Hài kịch khai thác sự đối lập giữa vẻ ngoài và bên trong để gây cười, chế giễu. Chính kịch nằm ở khoảng giữa: nó lấy chất liệu từ chính những va chạm hằng ngày của con người, nên có lúc nặng nề, có lúc nhẹ nhõm, có cả nước mắt lẫn tiếng cười.
Chữ “chính” ở đây có thể hiểu là nghiêm chỉnh, đứng đắn: thể kịch nhìn đời sống bằng con mắt nghiêm túc mà không cần đẩy tới tận cùng bi kịch. Ở phương Tây, thể loại này thành hình ở Pháp vào thế kỉ XVIII. Nhà văn, nhà triết học Denis Diderot chủ trương một kiểu kịch “nghiêm túc” đứng giữa bi kịch và hài kịch, đưa người thuộc tầng lớp thị dân lên sân khấu thay cho vua chúa, anh hùng. Vở Le Fils naturel (tạm dịch: Người con ngoài giá thú, 1757) của ông thường được coi là vở mẫu của kiểu kịch mới này, về sau được gọi là chính kịch tư sản (drame bourgeois).
Bảng đặt chính kịch cạnh bi kịch và hài kịch
| Tiêu chí | Bi kịch | Hài kịch | Chính kịch |
|---|---|---|---|
| Xung đột | Cái cao cả đối đầu thế lực đen tối, khó hóa giải | Vẻ ngoài đối lập bản chất, đáng cười | Mâu thuẫn đời thường trong gia đình, công việc, xã hội |
| Nhân vật | Thường phi thường, có tầm vóc | Mang thói xấu bị phóng đại | Người bình thường, gần gũi |
| Giọng điệu | Trang nghiêm, bi thương | Châm biếm, vui nhộn | Pha trộn, buồn vui lẫn lộn |
| Kết thúc | Thất bại, cái chết | Cái xấu bị lật tẩy | Mở, có thể có hậu hoặc dang dở |
| Cảm xúc người xem | Xót thương, day dứt | Bật cười, khinh ghét cái xấu | Đồng cảm, suy ngẫm |
Bảng trên chỉ là các “cực” để dễ nhớ. Nhiều vở kịch thật có pha cả hai phía, vì vậy người ta còn dùng thêm khái niệm bi hài kịch, hay gọi những vở tình cảm vui nhộn là hài kịch lãng mạn.
Bốn dấu hiệu để nhận ra một vở chính kịch
Khi đọc một kịch bản, có thể dò theo bốn câu hỏi:
- Xung đột có đến từ đời thường không? Chuyện cha mẹ và con cái bất đồng, chuyện lương tâm nghề nghiệp, chuyện một gia đình khó khăn… là đất của chính kịch.
- Nhân vật có phải người bình thường không? Không phải vua chúa hay anh hùng định mệnh, mà là người như ta gặp ngoài phố.
- Giọng điệu có đan xen không? Một cảnh làm khán giả cười, cảnh sau lại khiến họ lặng đi.
- Kết thúc có mở không? Chính kịch không bắt nhân vật chính phải chết, cũng không nhất thiết khép lại bằng màn ăn mừng. Nhiều vở để lại câu hỏi cho người xem tự trả lời.
Thiếu một dấu hiệu chưa chắc đã không phải chính kịch, nhưng nếu xung đột toát ra chủ yếu từ chuyện gây cười, nghiêng về hài kịch; nếu nó dồn nhân vật cao đẹp vào chỗ chết, nghiêng về bi kịch.
Soi các vở kịch quen thuộc bằng ba thể
Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e là hài kịch, không phải chính kịch. Ông Giuốc-đanh giàu có nhưng dốt nát, học đòi làm quý tộc, để rồi bị phường thợ may, thầy dạy lừa gạt. Tiếng cười nảy ra từ chỗ vẻ sang trọng bên ngoài trái ngược hẳn với cái lố bịch bên trong, đúng như mô tả hài kịch ở bảng trên. Học sinh có thể xem lại bài soạn Trưởng giả học làm sang để thấy rõ kiểu xung đột này, hoặc đọc thêm về cuộc đời gánh hát của Mô-li-e.
Chính kịch tư sản của Diderot đi theo hướng khác. Thay vì cười cợt hay cho người anh hùng gục ngã, ông đưa lên sân khấu những bổn phận gia đình, tình bạn, tình yêu của người thị dân, để khán giả xúc động và nghĩ về đời sống của chính mình. Tác dụng ông mong muốn là cảm hóa người xem, khác với tiếng cười phê phán của hài kịch.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là ví dụ cho thấy ranh giới các thể không cứng nhắc. Vở kịch có những cảnh gây cười, như khi hồn ông Trương Ba hiền lành phải sống trong thân xác thô lỗ của anh hàng thịt. Nhưng sâu bên dưới là cuộc giằng co nghiêm trọng giữa linh hồn và thể xác, nên nhiều bài phân tích gọi đây là bi kịch tâm lí. Khi làm bài, nên bám vào cách gọi của sách giáo khoa và giải thích bằng tính chất xung đột.
Ở thời nay, nhãn “chính kịch” xuất hiện nhiều nhất trên màn ảnh: phim chính kịch, ở Việt Nam còn gọi là phim tâm lí xã hội, là những phim lấy xung đột tình cảm, gia đình, xã hội làm trục chính. Đây là nghĩa gốc của chữ drama trước khi thành tiếng lóng mạng.
Luyện tập nhận biết chính kịch
Câu 1: Đọc ba tóm tắt sau và cho biết mỗi tóm tắt gần với bi kịch, hài kịch hay chính kịch.
(a) Một ông quan tham lam tự khoe thanh liêm, cuối vở bị lộ vì chính chiếc túi tiền giấu trong áo. (b) Một người thợ tài hoa dồn hết tâm huyết xây công trình để đời, cuối cùng bị giết và công trình bị đốt. (c) Ba thế hệ trong một gia đình cãi nhau về việc bán căn nhà cũ; có những cảnh buồn cười, có những lúc nghẹn ngào, cuối vở cả nhà chưa quyết định xong.
Đáp án: (a) hài kịch, vì tiếng cười đến từ sự đối lập giữa vẻ ngoài và bản chất. (b) bi kịch, vì nhân vật có khát vọng cao đẹp bị thất bại, chết. (c) chính kịch, vì xung đột đời thường, giọng điệu pha trộn và kết thúc mở.
Câu 2: Vì sao Trưởng giả học làm sang không được xếp vào chính kịch?
Đáp án: Vì xung đột của vở chủ yếu nhằm gây cười, chế giễu thói học đòi của ông Giuốc-đanh. Nhân vật bị phóng đại thói xấu, giọng điệu châm biếm xuyên suốt, nên đó là hài kịch.
Câu 3: Nhận định “Chính kịch bao giờ cũng kết thúc có hậu” đúng hay sai?
Đáp án: Sai. Chính kịch không bắt buộc kết thúc bi thảm như bi kịch, nhưng cũng không nhất thiết có hậu. Nhiều vở chọn kết thúc mở để người xem tự suy ngẫm.
Câu 4: Một bộ phim truyền hình kể chuyện hai vợ chồng trẻ xoay xở với nợ nần và áp lực công việc, có những đoạn hài hước nhưng nội dung chính nghiêm túc. Phim này thuộc dòng phim gì?
Đáp án: Phim chính kịch, còn gọi là phim tâm lí xã hội hoặc phim drama, vì lấy xung đột đời thường làm trục và giữ tinh thần nghiêm túc dù có yếu tố gây cười.
Chính kịch qua ba cách gọi khác
Chính kịch tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là drama, tiếng Pháp là drame. Trong tiếng Anh, drama còn là từ chung chỉ cả loại hình kịch, nên muốn nói rõ thể “nghiêm túc” người ta hay dùng ngữ cảnh đi kèm, như drama film.
Phim chính kịch là gì?
Là thể loại phim mang tinh thần nghiêm túc hơn hài hước, lấy xung đột tình cảm, gia đình hoặc xã hội và cách nhân vật vượt qua nó làm nội dung chính. Phim chính kịch có nhiều nhánh như phim tâm lí, phim tình cảm, phim tuổi trẻ.
Chính kịch có phải là kịch chính trị không?
Không. Chính kịch không phải cách nói tắt của “kịch chính trị”; chữ “chính” ở đây gợi tính nghiêm túc của thể loại, còn đề tài thì có thể là bất cứ chuyện gì của đời sống. Đây cũng là một bẫy hay gặp trong câu hỏi trắc nghiệm về phân loại kịch.