Đầu năm 1938, một người Hà Nội gần ba mươi tuổi vượt biển sang Hương Cảng để đóng một vai y tá khiêng cáng, xuất hiện trên màn ảnh chừng ba giây. Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là người đó: nhà văn bậc thầy của thể tùy bút và ký, tác giả Vang bóng một thời, Sông Đà, Cô Tô, người tự đặt cho mình cái tên “chủ nghĩa xê dịch” và đi gần hết đời để viết về cái đẹp của đất nước, của tiếng Việt.
Sinh ở phố Hàng Bạc, quê làng Mọc

| Tên thật | Nguyễn Tuân |
| Bút danh khác | Nhất Lang, Thanh Hà, Ngột Lôi Quất (có nơi ghi Quật), Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc… |
| Năm sinh – năm mất | 10/7/1910 – 28/7/1987 |
| Quê – nơi sinh | Quê làng Mọc (Nhân Mục), thôn Thượng Đình, ven nội thành Hà Nội; sinh ở phố Hàng Bạc |
| Thể loại | Tùy bút, ký, truyện ngắn, tiểu thuyết; có làm thơ, đóng phim |
| Tác phẩm tiêu biểu | Vang bóng một thời (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Cô Tô |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996, truy tặng) |
| Trong SGK | Cô Tô (Ngữ văn 6 KNTT), Vẻ đẹp của Sông Đà (Ngữ văn 9 CTST), Chữ người tử tù (Ngữ văn 10 KNTT, Ngữ văn 11 Cánh diều) |
Ông lớn lên trong một nhà Nho đúng vào lúc Hán học đã tàn. Quê nội là làng Mọc, tên chữ Nhân Mục; báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân ghi vùng đất này thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân (trước đợt sắp xếp hành chính năm 2025). Ông học đến cuối bậc Thành chung ở Nam Định thì năm 1929 bị đuổi vì tham gia bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt. Ít lâu sau, ông vượt biên sang Thái Lan không có giấy phép và bị bắt giam. Ra tù, ông mới thật sự đi vào nghề viết.
Ông thích chơi chữ ngay từ cái tên. Theo một bài trên trang Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Ân Ngũ Tuyên là các mảnh của hai chữ “Nguyễn Tuân” xếp lại; Tuấn Thừa Sắc nghĩa là chữ Tuấn thừa dấu sắc, tức Tuân; còn Nhất Lang, anh chàng đứng đầu, vì ông là con cả trong nhà.
Chủ nghĩa xê dịch: Hương Cảng, Thái Lan và những chuyến tàu
Khoảng năm 1935 ông bắt đầu cầm bút, thử đủ thứ: thơ, truyện ngắn trào phúng, bút ký. Phải đến năm 1938 người đọc mới nhận ra một giọng văn không giống ai. Cũng năm ấy ông sang Hương Cảng. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài (VnExpress và Znews dẫn lại), ông được nhận một vai rất phụ trong Cánh đồng ma, phim truyện đầu tiên có diễn viên Việt Nam: một bóng áo trắng khiêng cáng cứu thương, lướt qua ống kính độ ba giây. Ông thì lấy làm thích thú lắm, và chuyến đi thành chất liệu cho tập Một chuyến đi (Wikipedia ghi viết năm 1938; báo Nhân Dân ghi năm in sách 1941).
Từ những chuyến đi ấy, ông dựng lên một triết lý sống mà chính ông đặt tên là “chủ nghĩa xê dịch”: ghét sự yên ổn, phẳng lặng; muốn đi để được nếm những cảm giác mới. Nhân vật Bạch trong Thiếu quê hương (1940) là hình bóng của tâm thế đó. Năm 1941 ông lại bị bắt giam. Wikipedia tiếng Anh ghi lý do là ông liên hệ với những người hoạt động chính trị; bản tiếng Việt kể chính trong lần tù này ông được gặp gỡ, tiếp xúc với họ.
Vang bóng một thời: nhà Nho cuối mùa và những thú chơi tao nhã
Tập truyện Vang bóng một thời do nhà Tân Dân in lần đầu năm 1940, gồm 11 truyện từng đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy và Tao đàn. Nhân vật là lớp nho sĩ tài hoa, bất đắc chí: người pha trà buổi sớm, người thả thơ, người viết chữ đẹp. Họ thua cuộc trước thời thế nhưng không chịu cúi đầu. Đó là cái đẹp của “một thời” mà ông muốn níu lại khi không tin vào hiện tại.
Truyện được học nhiều nhất là Chữ người tử tù. Bản đầu tiên in trên số 1 tạp chí Tao đàn ngày 1/3/1939 với tên Dòng chữ cuối cùng; đến khi đưa vào tập 1940, ông không chỉ đổi tên mà viết lại khá nhiều, như VnExpress từng phân tích trong bài về vấn đề văn bản của truyện. Nhân vật Huấn Cao thường được cho là gợi từ hình ảnh Cao Bá Quát. Muốn đọc kỹ, xem Chữ người tử tù: tác giả, hoàn cảnh, bố cục và phân tích nhân vật Huấn Cao.
Cùng thời kỳ, ông viết nhiều về hát ả đào và đời các cô đầu (Chiếc lư đồng mắt cua, 1941), về rượu, trà, về những món ăn Hà Nội. Ông yêu văn Nguyễn Du, Tú Xương, Tản Đà; yêu tiếng hát ca trù. Đặc điểm bút pháp của ông qua hai thời kỳ được phân tích riêng trong bài phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân.
Sau 1945: lên Việt Bắc, làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ
Cách mạng tháng Tám thành công, ông theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc. Những tập Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950) ghi lại đời sống kháng chiến bằng giọng văn ấm hơn hẳn thời “xê dịch”. Khi Hội Văn nghệ Việt Nam ra đời cuối năm 1948, ông là Tổng thư ký đầu tiên và giữ chức đến năm 1957 (Wikipedia tiếng Anh ghi 1958). Báo Nhân Dân còn lưu tấm ảnh ông đứng cùng các văn nghệ sĩ ở Việt Bắc năm 1951.
Điều đáng chú ý là ông đổi đề tài mà không đổi cách viết. Cái tài hoa, uyên bác vẫn còn, chỉ có điều nhân vật giờ là người dân thường: bộ đội, công nhân, người lái đò. Thời này ông viết cả truyện thiếu nhi (Chú Giao làng Seo, 1953; Truyện một cái thuyền đất, 1958) và tiểu thuyết Thắng càn (1953).
Sông Đà, Cô Tô: đi tìm “chất vàng mười” ở người lao động
Tập tùy bút Sông Đà (1960) là kết quả chuyến đi thực tế Tây Bắc cuối thập niên 1950. GS Phong Lê, phát biểu tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn năm 2010 (báo Nhân Dân đưa tin), coi Sông Đà là điểm khởi đầu cho cả chặng đời sau của ông, chặng mà ông không ngừng đi và viết cho đến năm 1987. Bài nổi tiếng nhất trong tập là Người lái đò Sông Đà, với con sông vừa hung bạo vừa trữ tình và ông lái đò vượt thác như một nghệ sĩ.
Thập niên 1960 – 1970, ông viết Cô Tô (báo Thanh Niên ghi năm 1965) về vùng đảo Đông Bắc, rồi tập Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), tập Ký (1976). Những bài tùy bút về món ăn, phong vị quê hương được gom trong Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988), in một năm sau khi ông mất. Tùy bút Phở của ông đến nay vẫn được nhắc mỗi khi người ta viết về món ăn này, và báo Quân đội nhân dân kể rằng chính hai chữ “Phố Phái” ông dùng đã thành tên gọi cho dòng tranh phố cổ của Bùi Xuân Phái.
Nhà văn mê điện ảnh, hai lần lên màn bạc
Vai diễn ba giây ở Hương Cảng không làm ông nản. Hơn bốn mươi năm sau, ông xuất hiện dài hơn trong phim Chị Dậu (1980) chuyển thể từ Tắt đèn, vai Chánh tổng; cùng phim có nhà văn Kim Lân đóng Lý Cựu. Tô Hoài và nhiều tư liệu điện ảnh vì thế xếp Nguyễn Tuân vào lứa diễn viên điện ảnh đầu tiên của Việt Nam. Ông còn am hiểu hội họa, điêu khắc, sân khấu, và hay mượn con mắt của các ngành ấy để quan sát khi viết.
Tác phẩm của Nguyễn Tuân trong sách giáo khoa: từ Cô Tô đến Chữ người tử tù
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Cô Tô (phần cuối bài kí) | Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 5 (Những nẻo đường xứ sở) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Vẻ đẹp của Sông Đà (trích Người lái đò Sông Đà) | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1, đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Chữ người tử tù | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 1; Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài · Tóm tắt · Phân tích · Mở bài, kết bài |
| Trên đỉnh non Tản | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 3, đọc mở rộng | — |
| Người lái đò Sông Đà | Ngữ văn 12 (chương trình 2006) | Mở bài · Kết bài |
Học sinh lớp 6 gặp ông ở trận bão và cảnh mặt trời mọc trên đảo Thanh Luân; lên lớp 10, 11 các em đọc cảnh cho chữ trong ngục tối. Hai văn bản ra đời cách nhau hơn hai mươi lăm năm, đủ cho thấy chặng đường đổi thay của ngòi bút này.
Năm 1987 và một con đường mang tên ông
Ông mất tại Hà Nội ngày 28/7/1987, thọ 77 tuổi. Năm 1996, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật trong đợt đầu tiên. Hà Nội đặt tên ông cho một con đường ở quận Thanh Xuân cũ, nối từ đường Nguyễn Trãi sang Lê Văn Lương. Tập tiểu luận Yêu ngôn được in năm 2000, khi ông đã mất mười ba năm.
Nhiều người quen gọi ông là “ông vua tùy bút”. Giới nghiên cứu như GS Nguyễn Đăng Mạnh xem ông là hình mẫu trọn vẹn của người nghệ sĩ: coi văn chương trước hết phải là nghệ thuật, phải có phong cách riêng, nhưng tài luôn phải đi cùng “thiên lương”. Thơ và văn xuôi chọn lọc của ông có trong tuyển tập tác phẩm Nguyễn Tuân.