Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học là bài Viết thứ hai trong học kì I ở sách Ngữ văn 9 Cánh diều, đặt ở Bài 2 Truyện thơ Nôm, ngay sau bài phân tích một tác phẩm thơ trọn vẹn. Khác ở chỗ đối tượng chỉ là một phần của tác phẩm lớn, nên người viết phải biết đoạn ấy đứng ở đâu trong cả câu chuyện, nó làm được gì mà các phần khác không làm được. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý chung, dàn ý gợi ý cho đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, 10 bài văn mẫu về mười đoạn trích khác nhau (bảy đoạn truyện thơ, ba đoạn văn xuôi để luyện mở rộng), bảng các lỗi dễ mắc, kèm gợi ý cho phần Nói và nghe đi kèm.

Yêu cầu của kiểu bài phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học
Ở Bài 1, em phân tích cả một bài thơ, mọi bằng chứng đều nằm gọn trong văn bản. Sang Bài 2, đề chuyển sang một đoạn cắt ra từ truyện thơ Nôm (sách lấy Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên làm ví dụ), nên bài viết cần thêm một chiều: nhìn đoạn trích trong quan hệ với toàn bộ tác phẩm. Bài viết được đánh giá đạt thường làm được năm việc:
- Đặt đoạn trích vào đúng chỗ: thuộc phần nào của truyện, xảy ra sau sự việc gì và mở ra sự việc gì; nếu chắc chắn thì nêu số câu thơ. Phần này chỉ cần vài câu, đủ để người đọc hiểu nhân vật đang ở hoàn cảnh nào.
- Nói rõ nội dung riêng của đoạn: đoạn trích tả cảnh, khắc họa chân dung, dựng một cuộc đối thoại hay đẩy cốt truyện sang bước ngoặt; chủ đề nhỏ của đoạn nằm trong chủ đề lớn của tác phẩm ra sao.
- Chọn hai, ba điểm nghệ thuật đáng chú ý nhất để bình kĩ: với truyện thơ là cách kể bằng lục bát, ngôn ngữ nhân vật, bút pháp ước lệ hay tả cảnh ngụ tình, từ láy, phép đối; với văn xuôi là điểm nhìn, chi tiết, giọng kể. Mỗi nét đều đi đủ ba bước: chỉ ra, dẫn câu chữ, nói tác dụng.
- Liên hệ toàn tác phẩm: chi tiết trong đoạn báo trước điều gì, được nhắc lại ở đâu, nhân vật ở đoạn này khác gì ở đoạn khác.
- Đánh giá và nêu cảm nhận: đoạn trích đóng góp gì cho tác phẩm, để lại cho em suy nghĩ nào; tránh lặp lại mở bài.
| Câu hỏi tự đặt trước khi viết | Thử trả lời với đoạn Cảnh ngày xuân |
|---|---|
| Đoạn trích nằm ở đâu, trước và sau nó là gì? | Phần đầu truyện; trước là chân dung hai chị em, sau là cuộc gặp nấm mộ Đạm Tiên và chàng Kim Trọng. |
| Đoạn trích làm nhiệm vụ gì trong mạch truyện? | Đưa nhân vật ra khỏi khuê phòng, tạo cơ hội cho hai cuộc gặp quyết định số phận Kiều. |
| Nét hình thức nào đáng phân tích nhất? | Từ ngữ chọn lọc về màu sắc, từ láy, cách tả cảnh đổi theo thời gian trong ngày. |
| Đọc xong em giữ lại điều gì? | Một mùa xuân rất trong và cái buồn mơ hồ đến sớm trong buổi chiều. |
Sách Cánh diều cho thực hành với đề phân tích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, rồi giao bài tập tự chọn một đoạn thơ yêu thích trong Truyện Kiều hoặc Truyện Lục Vân Tiên. Vì thế bảy mẫu đầu đều là truyện thơ; ba mẫu cuối dành cho đề mở (đoạn trích văn xuôi) mà nhiều trường dùng khi ôn tập.
Dàn ý bài văn phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học
1. Mở bài
- Gọi tên người viết, tác phẩm và đoạn được trích; nói ngắn gọn ấn tượng hoặc nhận xét chung sẽ được làm rõ.
- Có thể vào bài từ vị trí đoạn trích, từ một chi tiết, một câu thơ, một câu hỏi, hoặc từ yêu cầu của đề.
2. Thân bài
- Vị trí và hoàn cảnh: đoạn trích nằm ở phần nào, nhân vật vừa trải qua chuyện gì.
- Phân tích nội dung theo một trục hợp lí: theo bố cục của đoạn (từng phần), theo nhân vật (ngoại hình, lời nói, hành động, nội tâm), theo một hình ảnh hay một từ khóa xuyên suốt.
- Phân tích nghệ thuật gắn với nội dung, không tách thành phần liệt kê cuối bài: thể thơ, ngôn ngữ, bút pháp, cách kể.
- Liên hệ toàn tác phẩm: đoạn trích báo trước, chuẩn bị hay khép lại điều gì; có thể so sánh với một đoạn khác cùng tác phẩm.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của đoạn trích với cả tác phẩm.
- Nêu cảm nhận riêng hoặc điều đoạn trích gợi ra cho em.
Dàn ý gợi ý cho đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (văn bản đọc của Bài 2)
- Mở bài: Nguyễn Đình Chiểu và Truyện Lục Vân Tiên; đoạn trích thuộc những trang đầu của truyện, khi Vân Tiên từ giã thầy về quê thăm nhà rồi mới đi thi.
- Hành động đánh cướp: chàng thư sinh không vũ khí, tiện tay bẻ cây làm gậy lao vào bọn cướp; nhịp thơ nhanh, động từ mạnh; Phong Lai bị giết, bọn lâu la tan chạy.
- Cuộc trò chuyện với Nguyệt Nga: Vân Tiên ân cần hỏi chuyện nhưng vẫn giữ lễ; Nguyệt Nga nói năng khiêm nhường, muốn trả ơn; Vân Tiên gạt đi, xem việc ra tay cứu người là điều kẻ làm trai phải làm.
- Nghệ thuật: kể chuyện bằng lục bát giản dị, tính cách nhân vật hiện ra qua việc làm và lời nói, lời thơ mộc mạc mang sắc thái Nam Bộ.
- Liên hệ: lần gặp gỡ này mở đầu mối duyên Vân Tiên – Nguyệt Nga, cũng là lần đầu lí tưởng nhân nghĩa của tác phẩm hiện ra bằng việc làm.
- Kết bài: hình mẫu người anh hùng hành động vì nghĩa trong cách nghĩ của nhân dân Nam Bộ.
Đoạn trích Truyện Kiều: một cảnh xuân, hai chân dung và một cuộc trao duyên
Mẫu 1: Cảnh ngày xuân – mùa xuân nhìn từ buổi sáng đến lúc chiều tà
Hai mươi bốn câu tả tài sắc chị em Thúy Kiều vừa khép lại bằng hình ảnh khuê phòng êm đềm, rèm buông kín, thì Nguyễn Du mở cửa cho nhân vật bước ra ngoài. Đoạn Cảnh ngày xuân, mười tám câu (câu 39–56 của Truyện Kiều), là chỗ người đọc được thấy Kiều giữa trời đất rộng lần đầu. Đoạn thơ tả một ngày hội tiết Thanh minh, nhưng đọc kĩ thì thấy cảnh vật đổi màu theo bóng nắng: buổi sáng trong trẻo, buổi trưa náo nức, buổi chiều chùng xuống. Theo dõi sự đổi thay ấy là cách tốt để hiểu đoạn trích.
Bốn câu đầu là bức tranh mùa xuân khi ngày còn mới:
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Câu đầu vừa là cảnh vừa là lời đếm thời gian. Cánh én lượn qua lượn lại như thoi đưa trên khung dệt, và chín mươi ngày xuân đã trôi quá sáu mươi, tức là đã sang tháng thứ ba. Mùa xuân đẹp nhưng không đứng yên, ngay từ câu mở người đọc đã nghe một chút tiếc nuối. Hai câu sau là nét vẽ của một họa sĩ biết tiết chế: nền cỏ non trải tới tận chân trời, trên nền ấy chỉ điểm vài bông lê trắng. Xanh trải thành nền, trắng chỉ chấm vài nốt, không gian mở rộng mà vẫn thanh. Chữ “điểm” khiến cảnh có hồn, như có bàn tay ai vừa chấm thêm màu lên tranh.
Tám câu tiếp theo đưa người đọc vào lễ hội. Câu “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” chia đôi nhịp rất cân, gọi tên hai sinh hoạt của tiết Thanh minh: viếng sửa mộ người thân và đi chơi trên đồng cỏ. Rồi Nguyễn Du dùng một chuỗi từ gợi đông vui như dập dìu, nô nức, sắm sửa. Hình ảnh so sánh “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” cho thấy dòng người đi lễ đông nghịt, chen nhau không còn kẽ hở. Đặc biệt, nhà thơ không quên phần “lễ” giữa phần “hội”: người ta rắc thoi vàng, đốt tiền giấy giữa các gò mộ chen chúc. Cái vui của ngày hội đứng sát bên những ngôi mộ. Chi tiết này tưởng chỉ để tả phong tục, nhưng nó chuẩn bị cho một ngôi mộ khác, vắng người, sẽ hiện ra ngay sau đoạn trích.
Sáu câu cuối là lúc tan hội:
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Nhịp thơ chậm hẳn. Mặt trời không lặn ngay mà “tà tà” ngả xuống, bước chân không vội mà “bước dần”, con người không cười nói mà “thơ thẩn”. Cảnh cũng thu nhỏ lại: thay cho thảm cỏ tận chân trời là ngọn suối nhỏ, thay cho dòng người như nước là một nhịp cầu nhỏ bắc ngang cuối ghềnh. Những từ láy như nho nhỏ, thanh thanh và nhất là nao nao vừa tả cảnh vừa tả lòng. Cảnh vẫn đẹp, vẫn trong, nhưng chữ “nao nao” đã gợi một nỗi bâng khuâng khó gọi tên. Đây chính là tả cảnh ngụ tình: Nguyễn Du không nói hai chị em buồn, ông để dòng nước uốn quanh nói thay.
Đặt vào toàn bộ Truyện Kiều, cái bâng khuâng cuối đoạn trích có lí do. Men theo con suối ấy, Kiều sẽ dừng lại trước mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi tiếng một thời mà chết không người thân thích, và cũng ở buổi chiều ấy Kiều gặp Kim Trọng. Một nấm mộ không người hương khói và một mối tình đầu cùng đến trong một buổi chiều xuân: số phận Kiều bắt đầu từ đây. Bởi vậy, Cảnh ngày xuân vừa là bức tranh mùa xuân đẹp nhất của tác phẩm, vừa là cánh cửa dẫn vào câu chuyện.
Qua mười tám câu ấy, Nguyễn Du hiện ra vừa như một họa sĩ khi vẽ thiên nhiên, vừa như một nhạc sĩ khi để nhịp lục bát chở lòng người. Đọc xong, em nhớ nhất chiếc cầu nhỏ bắc ngang cuối ghềnh: nó đẹp, nó yên, và nó dẫn sang một bờ mà nhân vật chưa biết có gì đang chờ.
Mẫu 2: Chị em Thúy Kiều – hai bức chân dung, hai lời báo trước
Vì sao Nguyễn Du tả Thúy Vân trước rồi mới tả Thúy Kiều, dù Kiều là chị và là nhân vật chính? Câu trả lời nằm ngay trong đoạn Chị em Thúy Kiều, hai mươi bốn câu thơ (câu 15–38) ở phần mở đầu Truyện Kiều.
Bốn câu đầu giới thiệu chung hai chị em bằng lối ví von ước lệ của thơ xưa: dáng thanh của hoa mai, tâm hồn trắng trong của tuyết, mỗi người một vẻ mà đều trọn vẹn. Người xưa không tả từng nét mặt như ảnh chụp mà mượn vẻ đẹp thiên nhiên để gợi vẻ đẹp con người, và Nguyễn Du dùng lối ấy rất thành thạo.
Thúy Vân hiện lên trước, qua bốn câu thơ. Khuôn mặt tròn đầy như trăng, lông mày đậm, nụ cười như hoa, tiếng nói như ngọc; mây phải thua mái tóc, tuyết phải nhường màu da. Thiên nhiên chỉ “thua”, chỉ “nhường”, nghĩa là vẫn thuận hòa với nàng. Nét đẹp hiền hòa, đầy đặn ấy báo trước một cuộc đời êm ả.
Đến lượt Kiều, nhà thơ không dừng ở vẻ ngoài. Chỉ một câu “Làn thu thủy, nét xuân sơn”, mắt là làn nước thu, mày là dáng núi xuân, mà Kiều đã khác hẳn em. Rồi câu “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” cho thấy thiên nhiên không còn chịu thua mà đã ghen, đã hờn. Kiều còn có tài: thơ, họa, ca ngâm, ngón đàn hồ cầm hơn người, và nàng tự soạn một khúc nhạc mang tên bạc mệnh. Sắc đẹp khiến tạo hóa ghen ghét, khúc đàn tự mình đặt ra lại mang tên một số phận buồn, đó là hai lời báo trước mà người đọc chỉ hiểu hết khi theo nàng qua mười lăm năm trôi dạt.
Như vậy, tả Vân trước là để làm nền cho Kiều. Vân đẹp đến mức nào thì Kiều còn hơn thế, và cái hơn ấy chính là mầm bi kịch. Với bút pháp ước lệ và nghệ thuật đòn bẩy, đoạn trích vừa là bức chân dung giai nhân, vừa gieo vào lòng người đọc nỗi lo cho người con gái quá đẹp, quá tài.
Mẫu 3: Mã Giám Sinh mua Kiều – chân dung một kẻ buôn người qua dáng vẻ, lời nói và cử chỉ
Trong cả đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều, có lẽ chữ đắt nhất là chữ “tót”. Người khách vừa bước vào nhà một gia đình đang có tang họa, chưa ai mời, đã ngồi “tót” lên ghế trên. Một động từ thôi mà lộ cả con người. Đoạn trích gồm hai mươi sáu câu (câu 623–648), là trang đầu tiên của phần Gia biến và lưu lạc: cha và em bị bắt vì một thằng bán tơ vu oan, Kiều nhận bán thân, lấy tiền lo cho cha, và người tìm đến hỏi mua là gã họ Mã.
Nguyễn Du giới thiệu gã qua lời hỏi đáp cộc lốc của bà mối:
Hỏi tên rằng: Mã Giám Sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Hỏi gì đáp nấy, không một lời thưa gửi, đúng giọng của kẻ đi mua hàng. Danh nghĩa “giám sinh”, tức người theo học ở Quốc Tử Giám, là cái vỏ học thức gã khoác vào. Ngoại hình thì được tả bằng một nét đối lập buồn cười: quá tứ tuần rồi mà “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Người ngoài bốn mươi chải chuốt như trai mới lớn, cái bảnh bao ấy không làm gã sang lên mà chỉ cho thấy sự giả tạo. Đi theo gã là cảnh “trước thầy sau tớ lao xao”, ồn ào, nhốn nháo, không ra dáng một đám hỏi vợ.
Rồi đến cử chỉ. Chữ “tót” đi liền với chữ “sỗ sàng”: gã ngồi phắt lên chỗ trang trọng nhất, coi nhà người như quán chợ. Ở đoạn ngã giá, Mã Giám Sinh nói năng như một tay lái buôn, gọi người con gái là ngọc, hỏi sính lễ bao nhiêu, rồi “cò kè bớt một thêm hai”. Thành ngữ dân gian ấy vốn dùng ngoài chợ, nay đặt vào chuyện cưới hỏi, khiến việc kết duyên hóa ra một cuộc mặc cả. Gã không nhìn Kiều như một con người mà như món hàng phải “cân sắc cân tài”, thử tài đàn tài thơ cho đáng đồng tiền.
Đối lập với kẻ mua là người bị bán. Kiều đau đớn đến mức mỗi bước đi là một hàng nước mắt, thẹn với hoa, ngại với gương. Nguyễn Du dành cho nàng những câu thơ nghẹn ngào nhất, như muốn che chở cho nhân vật trước cái nhìn soi mói. Đằng sau cuộc mua bán là thế lực của đồng tiền; vài câu sau đoạn trích, Nguyễn Du viết rằng hễ lưng sẵn tiền thì việc gì cũng xong, nghe như một lời tố cáo.
Bằng bút pháp tả thực, hiếm thấy ở thơ trung đại vốn chuộng ước lệ, Nguyễn Du đã dựng nên một nhân vật phản diện sống động. Mã Giám Sinh là người đầu tiên mua Kiều, nhưng không phải người cuối cùng; chữ “tót” của gã mở màn cho chuỗi ngày nàng bị đem ra trao tay.
Mẫu 4: Trao duyên – trao được kỉ vật, không trao được tình
Đề luyện thi học sinh giỏi: Phân tích đoạn Trao duyên (Truyện Kiều) để làm rõ nghịch lí trong lòng Thúy Kiều: nàng trao mối duyên cho Thúy Vân mà không thể trao đi tình yêu của mình.
Có những cuộc trao mà người trao càng đưa ra, tay càng níu lại. Trao duyên, ba mươi tư câu (câu 723–756) thuộc chặng Gia biến và lưu lạc, là một cuộc trao như thế. Đêm cuối cùng ở nhà trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều cầu xin em gái nối duyên với Kim Trọng thay cho mình. Lí trí nàng đã quyết, nhưng câu chữ của nàng thì cứ quay về chàng Kim. Theo dõi cách Kiều nói, với ai và xưng hô thế nào, ta sẽ thấy nghịch lí ấy.
Chặng thứ nhất là lời nhờ cậy, nói với Thúy Vân:
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Kiều không “nhờ” mà “cậy”, nghĩa là gửi trọn lòng tin vào người nghe. Không hỏi em có nghe không mà hỏi em có “chịu lời” không, tức là biết rõ việc mình nhờ là quá sức một cô em gái. Rồi chị lạy em, chị “thưa” với em: thứ bậc trong nhà bị đảo ngược, vì người nhận việc này là ân nhân của Kiều. Lí lẽ nàng đưa ra rất chặt: tình với Kim là duyên đã thề, hiếu với cha là nghĩa không thể bỏ, em còn trẻ, hãy vì máu mủ mà thay chị. Đến đây Kiều nói như một người tỉnh táo.
Chặng thứ hai là trao kỉ vật, và ở đây lí lẽ của Kiều bắt đầu rạn:
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Chỉ hai chữ “của chung” mà lộ hết. Đã trao thì kỉ vật thuộc về em, vậy mà Kiều vẫn coi đó là của chung, vẫn giữ một phần cho mình. Nàng dặn em những ngày sau: đốt lò hương, so phím đàn, hễ có làn gió nhẹ thổi qua là chị đã về. Kiều tưởng tượng mình là một hồn ma vẫn trở về chứng kiến cuộc hôn nhân của người mình yêu với em gái. Lời dặn càng tỉ mỉ, ta càng thấy nàng không buông được.
Chặng thứ ba, Kiều thôi nói với Vân. Những câu cuối là Kiều tự nói với người vắng mặt, chàng Kim:
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Cách xưng hô đổi hẳn. Ở đầu đoạn là “chị – em”, đến đây là “thiếp – chàng”. Người ngồi trước mặt bị quên đi, người vắng mặt mới là người nàng muốn nói. Hai tiếng gọi tên dồn liền, câu thơ vỡ ra như tiếng nấc. Kiều tự nhận mình “phụ chàng”, dù chính nàng là người bị hoàn cảnh xô đẩy. Ngay sau lời ấy, nàng ngất đi, như thể cơ thể không chịu nổi điều trái tim vừa phải nói ra.
Ba chặng ấy cho thấy đường đi ngược chiều của hai thứ trong lòng Kiều: việc trao duyên đi từ rối đến gọn, đã có người nhận, đã có kỉ vật; còn tình yêu đi từ kìm nén đến vỡ òa. Nguyễn Du dựng cuộc giằng co ấy chỉ bằng ngôn ngữ nhân vật: từ ngữ chọn kĩ (cậy, chịu lời, của chung), cách xưng hô thay đổi, lời đối thoại chuyển dần thành độc thoại. Cốt truyện được mượn từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng chính thứ ngôn ngữ nhân vật ấy khiến người Việt đọc đoạn này như nghe một người thật đang khóc.
Nhìn rộng ra toàn tác phẩm, đoạn trích là ranh giới giữa hai quãng đời. Phía trước là những ngày quạt ước, chén thề; phía sau là chuỗi ngày Kiều bị đem bán. Đoạn trích cũng giải thích vì sao về sau, giữa bao lần bị vùi dập, tâm trí nàng vẫn quay về Kim Trọng: mối tình ấy chưa bao giờ được trao đi thật. Nguyễn Du đã khiến một việc thuộc về lễ nghĩa trở thành cuộc chia tay đau đớn nhất của tình yêu.
Đoạn trích Truyện Lục Vân Tiên và truyện thơ dân tộc thiểu số
Mẫu 5: Lục Vân Tiên gặp nạn – kẻ ác trên thuyền, người hiền trên bãi
Đề: Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu). Thời gian làm bài 45 phút.
Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu kể những thử thách người tốt phải trải qua trước khi được đền đáp. Đoạn Lục Vân Tiên gặp nạn, cũng là phần đọc để học sinh tự kiểm tra ở cuối Bài 2, đặt cạnh nhau hai loại người: một kẻ đố kị ra tay hãm hại bạn và một gia đình chài lưới cứu người không cần biết người ấy là ai.
Hoàn cảnh của Vân Tiên lúc ấy rất đáng thương. Mẹ mất, chàng về quê chịu tang, dọc đường lại bị mù, phải cậy Trịnh Hâm dẫn đường. Hâm vốn ganh tài Vân Tiên từ khi cùng đi thi, nay có dịp thì ra tay. Nguyễn Đình Chiểu tả hắn bằng mấy câu ngắn mà rõ:
Đêm khuya lặng lẽ như tờ,
Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay.
Trịnh Hâm khi ấy ra tay,
Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời.
Hắn chọn giờ khuya khi mọi người ngủ say, ra tay dứt khoát, rồi lập tức “giả tiếng kêu trời” để đánh thức cả thuyền, dựng cảnh bạn mình không may rơi xuống nước. Độc ác đi liền với xảo trá. Cái ác ở đây không có lí do lớn lao nào, chỉ là lòng ghen ghét, và vì thế càng đáng sợ.
Trái lại, cái thiện hiện lên giản dị như một việc thường ngày. Giao long dìu đỡ, chàng dạt vào bãi; lúc trời rạng, ông chài “vớt ngay lên bờ”. Cả nhà cùng xắn tay: đứa con được sai đi nhóm lửa, hai ông bà người hơ bụng người hơ mặt cho chàng. Không ai hỏi người này giàu hay nghèo. Khi Vân Tiên áy náy chưa biết lấy gì đền ơn, ông chài đáp: “Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?”. Câu hỏi tu từ ấy là quan niệm sống của người lao động: làm việc nghĩa là lẽ tự nhiên. Ông còn kể cuộc sống tự do của mình trên sông nước, xa danh lợi, coi trời đất là nhà.
Đoạn trích kể chuyện bằng lục bát mộc mạc, lời thơ mang đậm tiếng nói Nam Bộ (nhơn nghĩa, chơn tay), nhân vật chủ yếu được khắc họa qua việc làm. Cách đặt hai cảnh sát nhau làm nổi rõ thái độ của tác giả: khinh ghét kẻ bất nhân và tin vào lòng tốt của người lao động nghèo. Đọc đoạn này, em hiểu vì sao người Nam Bộ thuộc lòng truyện thơ của cụ Đồ Chiểu: điều cụ dạy được nói bằng chính lời ăn tiếng nói của họ.
Mẫu 6: Lẽ ghét thương – lời ông Quán và một kết cấu điệp từ
Ở một quán ăn dọc đường lên kinh, bốn sĩ tử ngồi làm thơ: Vân Tiên, Vương Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Hâm và Kiệm thua tài, liền nghi Vân Tiên và Tử Trực chép thơ cổ. Ông chủ quán đứng nghe, vỗ tay cười dài. Tưởng chỉ là một người bán cơm, ai ngờ khi được hỏi, ông giảng cho đám học trò một bài học về lẽ ghét thương. Đoạn trích Lẽ ghét thương (câu 473–504 Truyện Lục Vân Tiên) là lời ông Quán ấy, và sức nặng của nó nằm trong cách sắp xếp câu chữ.
Ông Quán mở lời bằng hai câu như một lời rào đón:
Quán rằng: Kinh sử đã từng,
Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa.
Ông đọc sử không phải để thuộc mà để xót. Câu “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” là then chốt của cả đoạn: ghét và thương không đối nghịch nhau, chúng là hai mặt của cùng một tấm lòng. Ai thương dân thật thì phải ghét kẻ hại dân.
Phần ghét được xây bằng bốn lần lặp “ghét đời”: đời Kiệt, Trụ say mê dâm dục, đời U, Lệ lắm chuyện rối ren, đời ngũ bá tranh giành, đời thúc quý chia lìa. Mỗi lần lặp đi kèm một câu nói hậu quả: dân sa hầm sẩy hang, dân chịu lầm than, dân nhọc nhằn, dân rối loạn. Chữ “dân” trở đi trở lại trong cả bốn cặp câu. Như vậy, thước đo để ông Quán ghét không phải lẽ trung với vua mà là nỗi khổ của dân. Trước đó, câu thơ ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm đã dồn ba chữ “ghét” vào một dòng, nghe như người nói nghiến răng.
Phần thương dài hơn, được xây bằng bảy lần lặp “thương”: Khổng Tử long đong khắp các nước, Nhan Uyên mất sớm, Gia Cát Lượng gặp thời nhà Hán suy, rồi Đổng Trọng Thư, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Chu Đôn Di và anh em họ Trình. Họ đều là người có tài, có đức mà không được dùng, hoặc bị gạt ra khỏi việc nước. Nhịp thơ ở phần này chậm, nhiều từ gợi xót xa như dở dang, phôi pha, ngùi ngùi, chẳng may. Ghét thì dồn dập, thương thì ngậm ngùi, chỉ riêng nhịp điệu đã cho thấy hai cung bậc tình cảm.
Câu kết “Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương” khép đoạn lại bằng một sự cân bằng. Người đọc có thể nhận ra trong ông Quán bóng dáng của chính Nguyễn Đình Chiểu: một nhà nho sống giữa dân, yêu ghét rạch ròi, đứng về phía người chịu khổ. Nhân vật phụ này chỉ xuất hiện trong ít trang, nhưng ông nói thay tác giả điều cốt lõi của cả truyện.
Lời ông Quán còn dạy học trò một điều về cách viết: muốn bày tỏ thái độ mạnh mà vẫn sáng rõ, hãy để câu chữ tự xếp thành hàng ngũ. Lục bát vốn mềm mại, qua tay Nguyễn Đình Chiểu lại thành một bài nghị luận có luận điểm, dẫn chứng và kết luận.
Mẫu 7: Lời tiễn dặn – tiếng nói của chàng trai trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu
Đọc Lời tiễn dặn, em có cảm giác như đang nghe lén một người con trai thì thầm. Không có người kể đứng ngoài, không có lời bình xen vào, chỉ có giọng chàng trai nói với người yêu sắp theo chồng. Đoạn trích lấy từ Tiễn dặn người yêu, tên Thái là Xống chụ xon xao, truyện thơ nổi tiếng của đồng bào Thái, do Mạc Phi dịch sang tiếng Việt. Văn bản được học ở lớp 11, nhưng rất hợp để luyện phân tích lời thoại trong truyện thơ.
Câu chuyện phía sau đoạn trích rất ngắn: hai người lớn lên cạnh nhau và thương nhau từ thuở bé, nhưng nhà gái chê chàng không có của, ép cô lấy người khác. Chàng đi làm ăn xa, về thì người yêu đã phải theo chồng. Đoạn trích là hai lần chàng tiễn dặn: một lần trên đường cô về nhà chồng, một lần khi chàng tận mắt thấy cô bị chồng đánh.
Ở lần tiễn thứ nhất, chàng trai kể lại dáng đi của cô gái bằng những câu lặp:
Vừa đi vừa ngoảnh lại,
Vừa đi vừa ngoái trông
Hai câu gần như giống nhau, chỉ đổi một chữ, như từng bước chân vừa tiến lên lại bị níu về. Người kể là chàng trai, nhưng chàng nhìn thấy nỗi đau của cô qua cử chỉ chứ không nói thay. Qua rừng ớt, rừng cà, cô dừng lại ngắt lá mà đợi; đến rừng lá ngón thì đứng ngóng: những cánh rừng quen thuộc của núi rừng Tây Bắc trở thành những trạm dừng của nỗi nhớ. Rồi chàng xin nán lại bên cô chốc lát, xin được ẵm đứa bé của cô như ẵm con mình, và nhắc lại điều hai người đã hẹn: lỡ mùa này thì chờ mùa sau, lỡ tuổi trẻ thì chờ đến tuổi già. Lời hẹn ấy nghe ngây thơ mà xót, vì nó cho thấy chàng chấp nhận chờ đợi cả một đời.
Ở lần tiễn thứ hai, giọng chàng trai đổi hẳn. Người yêu của chàng bị đánh ngã, nằm lăn bên chỗ giã gạo, cạnh máng ăn của lợn, và chàng gọi cô dậy bằng một câu dồn dập: “Dậy đi em, dậy đi em ơi!”. Sau tiếng gọi là những việc làm rất nhỏ: giũ bụi trên áo, búi lại mái tóc rối, chặt tre về hun ống nấu thuốc. Tình yêu được diễn đạt bằng sự chăm sóc chứ không bằng lời hoa mĩ. Cuối đoạn, chàng thề nguyền bằng một chuỗi điệp ngữ “chết thành…”:
Chết thành sông, vục nước uống mát lòng
Chết thành đất, mọc dây trầu xanh thắm
Đến cái chết cũng không chia lìa được hai người: thành sông thì vẫn gắn với người uống nước, thành đất thì vẫn mọc lên dây trầu. Các hình ảnh đều lấy từ đời sống người Thái nên lời thề gần gũi mà mạnh mẽ.
Cả đoạn trích được dựng gần như hoàn toàn bằng lời chàng trai. Nhờ lối kể này, người đọc vừa thấy được số phận cô gái bị ép duyên, vừa nghe được tiếng nói đòi quyền yêu thương của người lao động miền núi. Truyện thơ về sau cho hai người tìm lại nhau, nhưng ngay từ lời tiễn dặn, sự thủy chung ấy đã đủ làm nên kết thúc có hậu trong lòng người nghe.
Đoạn trích văn xuôi: tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết hiện đại, kí
Mẫu 8: Hồi thứ mười bốn Hoàng Lê nhất thống chí – Quang Trung và nhịp kể của tiểu thuyết chương hồi
Hoàng Lê nhất thống chí là bộ tiểu thuyết viết bằng chữ Hán, chia thành mười bảy hồi, do nhóm tác giả Ngô gia văn phái thuộc họ Ngô Thì (Tả Thanh Oai) soạn. Hồi thứ mười bốn, phần học sinh quen gọi là Quang Trung đại phá quân Thanh, nổi tiếng nhờ hình ảnh vị hoàng đế xuất thân áo vải. Nhưng nếu chỉ khen Quang Trung tài giỏi thì bài viết dễ thành lời ca ngợi chung chung; nhìn vào cách kể của hồi truyện sẽ thấy vì sao hình tượng ấy hiện lên sống động.
Trước hết là nhịp kể: các sự việc nối nhau đúng như thứ tự diễn ra, dồn dập như chính cuộc hành quân. Thăng Long thất thủ, tin dữ được đưa gấp vào Phú Xuân; Nguyễn Huệ nghe xong thì giận lắm, định thân chinh ra trận. Tiếp đó là lễ lên ngôi, cuộc hành quân thần tốc ra Bắc, chặng dừng ở Nghệ An để lấy thêm quân và duyệt binh, rồi tới Tam Điệp. Mỗi chặng chỉ vài câu, sự việc nối sự việc, người đọc như phải chạy theo đoàn quân. Kiểu kể ấy là đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi: chú trọng hành động, ít miêu tả nội tâm.
Trong dòng sự việc ấy, Quang Trung được khắc họa qua lời nói và việc làm. Ông quyết định nhanh mà không liều: ở Nghệ An, ông nói với quân sĩ những lời khơi dậy lòng căm giận giặc phương Bắc; tới Tam Điệp, ông hiểu ngay tướng sĩ rút lui là để bảo toàn lực lượng, khen chiến lược của Ngô Thì Nhậm. Ông tính trước cả việc sau chiến tranh, nói đến chuyện giao thiệp với nước lớn khi đánh xong. Đáng nhớ nhất là lời hẹn mồng bảy tháng Giêng sẽ cùng tướng sĩ ăn mừng trong thành Thăng Long. Một vị tướng dám định trước ngày thắng trận khi chưa giao chiến, đó là sự tự tin dựa trên tính toán.
Cảnh chiến trận cũng được kể bằng hành động: đồn Hà Hồi bị vây kín phải xin hàng, ở Ngọc Hồi quân Tây Sơn núp sau những tấm ván ghép rơm ướt mà tiến lên, vua đích thân ngồi trên lưng voi chỉ huy. Tác giả đặt cạnh đó cảnh đối lập của phe bên kia: Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, bỏ chạy qua sông; vua tôi Lê Chiêu Thống cuống cuồng chạy theo, cướp cả thuyền dân để qua sông. Sự đối lập này là thủ pháp quen thuộc của lối kể chương hồi, làm nổi cả hai phía mà không cần lời bình.
Điều đáng suy nghĩ: những người cầm bút thuộc một dòng họ vốn giữ lòng trung với nhà Lê lại dành cho Quang Trung những trang khâm phục nhất. Đó là sức mạnh của sự thật lịch sử, và cũng là lí do văn bản này được coi trọng: lời kể khách quan, tôn trọng sự việc.
Phân tích một hồi truyện vì thế cần nhìn hai lớp: lớp nội dung (người anh hùng và cuộc chiến thắng) và lớp hình thức (kết cấu theo hồi, sự việc xếp theo thứ tự diễn ra, tính cách hiện ra qua việc làm, hai phe đặt đối nhau). Hai lớp ấy gắn với nhau, như nhịp chân của đoàn quân gắn với tầm nhìn của người cầm quân.
Mẫu 9: Hạnh phúc của một tang gia – một đám ma mà cả nhà đều vui
Nhan đề đã là một trò đùa. Tang gia nghĩa là gia đình đang để tang, hạnh phúc lại là thứ không thể ở trong nhà ấy. Vũ Trọng Phụng ghép hai thứ ngược nhau vào một cụm từ, và cả chương thứ mười lăm của Số đỏ (tiểu thuyết in dần trên Hà Nội báo năm 1936) chỉ làm một việc: chứng minh cái nghịch lí đó là thật. Đoạn trích được học ở lớp 12, nhưng phân tích nó là cách tốt để học sinh lớp 9 hiểu một đoạn trích văn xuôi được dựng bằng tiếng cười như thế nào.
Cụ cố tổ chết, và người đọc được biết ngay: cái chết ấy làm nhiều người sung sướng. Lí do đầu tiên là bản di chúc chia gia tài đến lúc được đem ra thực hiện. Những người còn lại vui theo cách riêng: cụ cố Hồng tưởng tượng mình mặc đồ tang, lụ khụ chống gậy để người ta trầm trồ rằng cụ già lắm rồi; bà Văn Minh có dịp khoác bộ đồ tang kiểu mới; cậu tú Tân nóng lòng đem máy ảnh ra chụp; cô Tuyết mặc bộ y phục mang tên “Ngây thơ”; Min Đơ và Min Toa, hai viên cảnh sát đang thất nghiệp, bỗng có việc giữ trật tự. Tác giả kể bằng giọng điềm nhiên, liệt kê từng người như một bản danh sách, và chính sự điềm nhiên ấy làm tiếng cười bật ra.
Đỉnh điểm là cảnh đưa đám. Đám tang pha trộn đủ kiểu Ta, Tây, Tàu, kèn thổi, câu đối, vòng hoa, người đi đưa đông nghịt, nhưng ai cũng lo khoe, lo chuyện riêng. Những người bạn của cụ cố Hồng đeo đầy huân chương, đi bên linh cữu mà chỉ chăm chăm khoe râu, khoe ngực. Trai gái đi sau thì hẹn hò, bình phẩm nhau. Câu kể ngắn “Đám cứ đi” được lặp lại như nhịp trống, bất chấp mọi trò lố đang diễn ra hai bên.
Chi tiết đắt nhất nằm ở lúc hạ huyệt. Ông Phán mọc sừng khóc to đến mức như sắp ngã, vừa khóc vừa lén dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ một tờ bạc năm đồng gấp làm tư. Một bàn tay đang chùi nước mắt, bàn tay kia đang trả công. Không cần một lời bình nào, cảnh ấy đã nói hết sự giả dối của cả gia đình.
Tiếng cười ở đây được tạo bằng ba cách: dựng mâu thuẫn giữa hình thức và bản chất (tang mà vui, khóc mà toan tính), phóng đại những chi tiết lố bịch, dùng giọng kể khách quan mà mỉa mai. Tiếng cười của Vũ Trọng Phụng không nhằm vào cái chết mà nhằm vào lớp người thượng lưu thành thị đương thời, nơi đạo hiếu chỉ còn là cái cớ để phô trương.
Gấp sách lại, em vẫn nhớ hai chữ “Đám cứ đi”. Nó giống như lời bình lặng lẽ của tác giả: đoàn người cứ đi, trò hề cứ diễn, và người chết thì không ai nhớ tới.
Mẫu 10: Vào phủ chúa Trịnh – phủ chúa qua con mắt một người thầy thuốc
Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, được triệu từ quê nhà Hương Sơn lên kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Những điều ông mắt thấy tai nghe được ghi trong Thượng kinh kí sự, tập kí viết bằng chữ Hán, hoàn thành năm 1783. Phần được trích kể về ngày đầu ông vào phủ, và điều làm đoạn kí khác với một bản tả cảnh thông thường là người nhìn: một thầy thuốc già đã quen sống giữa núi rừng.
Ông nhìn bằng con mắt của người lạ. Cửa nối cửa, hành lang nối hành lang, chỗ nào cũng có lính đứng gác, người truyền lệnh chạy qua chạy lại. Ông tả cả vườn cây um tùm, chim kêu ríu rít, những đồ dùng sơn son thếp vàng mà ông chưa từng gặp. Bữa cơm dọn cho ông toàn đồ quý, đựng trong mâm vàng chén bạc. Ông thuật lại tất cả bằng giọng điềm tĩnh, chỉ thỉnh thoảng thêm một ý nghĩ ngắn, nhưng chính sự ngạc nhiên kín đáo ấy làm hiện ra cái xa hoa vượt mức của phủ chúa.
Ông còn nhìn bằng con mắt nghề nghiệp. Muốn đến chỗ thế tử phải vén mấy lần trướng gấm; trong phòng không có ánh sáng trời, người hầu phải đốt nến giữa ban ngày. Thế tử, một đứa bé, ngồi chễm chệ trên sập vàng, cụ già phải lạy bốn lạy, và thế tử khen “Ông này lạy khéo!”. Câu nói hồn nhiên của đứa trẻ làm người đọc vừa buồn cười vừa chua xót. Khi bắt mạch, người thầy thuốc nhận ra căn bệnh có gốc từ chính lối sống ấy: ở mãi trong chốn kín, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu. Cái nhìn của y học trở thành lời phê phán.
Cuối đoạn, ông giằng co giữa việc chữa cầm chừng để khỏi bị giữ lại chốn quan trường và lương tâm của người làm thuốc. Ông chọn chữa thật lòng. Nhờ vậy, đoạn kí ngắn này cho ta thấy cùng lúc hai điều: một phủ chúa xa hoa mà bệnh tật, và chân dung tự họa của một nhân cách thanh cao không màng danh lợi.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi thường gặp | Vì sao bị trừ điểm | Cách sửa |
|---|---|---|
| Không nói đoạn trích nằm ở đâu, hoặc kể lại cả tác phẩm mất nửa trang | Thiếu một yêu cầu riêng của kiểu bài, hoặc lấn sang tóm tắt | Ba đến năm câu: phần nào của truyện, nhân vật vừa trải qua gì, đoạn trích mở ra điều gì |
| Chép lại từng câu thơ rồi diễn xuôi nghĩa | Bài thành giảng nghĩa, không có phân tích | Chỉ dẫn những câu, những chữ mình thực sự bình; với mỗi chữ hỏi: vì sao tác giả dùng chữ này mà không dùng chữ khác |
| Dồn nghệ thuật thành một đoạn liệt kê cuối bài | Hình thức tách khỏi nội dung | Phân tích nghệ thuật ngay tại chỗ nó tạo ra ý nghĩa (chữ “tót” đặt trong đoạn nói về cử chỉ Mã Giám Sinh) |
| Quên liên hệ với toàn tác phẩm | Bài giống phân tích một bài thơ độc lập | Thêm một đoạn ngắn: chi tiết này báo trước, chuẩn bị hay đối lập với đoạn nào của truyện |
| Nhớ sai câu thơ, sai số câu, sai tên nhân vật phụ | Mất điểm chính xác, làm người chấm nghi ngờ cả bài | Câu nào không thuộc chắc thì diễn ý, không đặt ngoặc kép; số câu chỉ ghi khi chắc chắn |
| Mở bài bằng tiểu sử tác giả dài | Mất thời gian, nhạt | Một câu về tác giả là đủ; dành chỗ cho vị trí đoạn trích và nhận xét chung |
- Trước khi viết, đọc đoạn trích và gạch dưới năm, sáu chữ đáng bình nhất; bài văn sẽ xoay quanh chúng.
- Chọn trục phân tích phù hợp với đoạn: đoạn tả cảnh đi theo không gian, thời gian (mẫu 1); đoạn chân dung đi theo so sánh (mẫu 2); đoạn có đối thoại đi theo lời nói và cách xưng hô (mẫu 4, mẫu 7); đoạn văn xuôi chú ý điểm nhìn, giọng kể (mẫu 9, mẫu 10).
- Bài 45 phút chỉ cần hai luận điểm chắc, như mẫu 5; bài thi học sinh giỏi cần một vấn đề xuyên suốt, như nghịch lí ở mẫu 4.
Gợi ý bài nói: Nghe và nhận biết tính thuyết phục của một ý kiến
Phần Nói và nghe của Bài 2 trong sách Cánh diều yêu cầu nghe một bạn nêu quan điểm về một đoạn trích truyện thơ rồi nhận xét ý kiến ấy có thuyết phục không. Bài văn vừa hoàn thành có thể chuyển thành một bài nói ngắn để cả nhóm luyện nghe:
- Nói ý kiến chính ngay câu đầu, chẳng hạn: trong đoạn Trao duyên, Kiều trao được mối duyên nhưng giữ lại tình yêu của mình.
- Mỗi lí lẽ đi kèm một bằng chứng ngắn (một câu thơ, một chữ) để người nghe dễ theo dõi.
- Khi nghe bạn nói, ghi lại: ý kiến là gì, lí lẽ nào chặt, bằng chứng nào chưa khớp, bạn có phân biệt được ý kiến của mình với nội dung văn bản không.
- Góp ý bằng câu hỏi thay vì phán xét: chữ ấy còn có cách hiểu nào khác không?
Lời mở đầu tham khảo: Mình muốn bắt đầu bằng hai chữ thôi: của chung. Kiều vừa trao chiếc vành và bức tờ mây cho em gái, lại dặn đó là của chung. Đã trao rồi sao còn chung? Mình nghĩ cả đoạn Trao duyên xoay quanh câu hỏi ấy, và mình sẽ thử chứng minh trong ba phút.
Nên luyện với mẫu nào trước?
Em mới làm quen kiểu bài thì đọc mẫu 1 và mẫu 2 để thấy cách nêu vị trí đoạn trích và cách liên hệ với toàn tác phẩm; đoạn Cảnh ngày xuân lại là văn bản đọc của Bài 2 nên dễ đối chiếu với sách. Để luyện phân tích nhân vật, đọc mẫu 3 và mẫu 5; để luyện phân tích lời thoại, đọc mẫu 4 và mẫu 7; mẫu 6 cho thấy một đoạn trích có thể được phân tích từ kết cấu câu chữ. Chuẩn bị kiểm tra trên lớp thì tập viết theo khuôn khổ mẫu 5; ôn thi học sinh giỏi thì đọc kĩ mẫu 4. Ba mẫu cuối hợp với đề mở yêu cầu phân tích một đoạn trích văn xuôi.
Xem thêm:
- Soạn bài Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
- Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
- Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Phân tích Cảnh ngày xuân
- Mở bài Cảnh ngày xuân
- Phân tích Chị em Thúy Kiều
- Soạn bài Mã Giám Sinh mua Kiều
- Phân tích Trao duyên (Nguyễn Du)
- Phân tích Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)
- Phân tích hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ
- Phân tích Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)
- Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh (Lê Hữu Trác)
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Phân tích một tác phẩm thơ (văn mẫu lớp 9)
- Phân tích một tác phẩm truyện (văn mẫu lớp 9)
- Phân tích một tác phẩm kịch (văn mẫu lớp 9)
- Top 50 Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Nguyễn Du (hay, ngắn gọn)