Có một nhà thơ từng viết bài kể chuyện được Trời gọi lên đọc văn, đọc hay đến nỗi “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”. Tản Đà (1889 – 1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là người viết bài Hầu trời ấy: thi sĩ nổi tiếng nhất những năm 1920 – 1930, chủ nhân An Nam tạp chí, tác giả Khối tình con, Giấc mộng con, Muốn làm thằng Cuội, người mà Hoài Thanh gọi là “người của hai thế kỷ”, đứng ở ngưỡng cửa giữa thơ cũ và Thơ mới.
Con nhà quan, mẹ là đào hát: thuở nhỏ ở làng Khê Thượng

| Tên thật | Nguyễn Khắc Hiếu |
| Bút hiệu | Tản Đà, ghép tên núi Tản (Ba Vì) và sông Đà |
| Năm sinh – năm mất | 1889 (Kỷ Sửu; có tài liệu ghi 1888) – 7/6/1939 |
| Quê quán | Làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội) |
| Thể loại | Thơ, tản văn, tiểu thuyết, tuồng, báo chí, dịch thuật |
| Tác phẩm tiêu biểu | Khối tình con (1916), Giấc mộng con (1917), Còn chơi (1921), Thề non nước, Giấc mộng lớn; dịch Liêu Trai chí dị, thơ Đường |
| Báo chí | Chủ bút Hữu Thanh (1921), sáng lập An Nam tạp chí (1926 – 1933) |
| Trong SGK | Cảnh vui của nhà nghèo (Ngữ văn 9 Cánh diều, tự đánh giá); Hầu trời (Ngữ văn 11 cũ), Muốn làm thằng Cuội (Ngữ văn 8 cũ) |
Ngày sinh của ông chưa có một cách ghi thống nhất: Wikipedia ghi 19/5/1889, báo Sài Gòn Giải Phóng ghi 25/4/1889, Wikisource ghi 8/5/1888, còn Từ điển Bách khoa Việt Nam chỉ ghi năm 1888.
Cha ông, cụ Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân và làm quan nhà Nguyễn; mẹ là một đào hát ở Nam Định (Wikipedia ghi nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, báo Thanh Niên viết Nhữ Thị Nhiêm). Theo Wikipedia, ông mồ côi cha năm lên ba, mẹ trở về nghề hát, ông lớn lên bên người anh cùng cha khác mẹ là Phó bảng Nguyễn Tái Tích. Dòng máu nhà Nho và dòng máu ca nương ấy, nhiều người viết về ông cho là đã gặp nhau trong thơ ông. Chính ông tự xưng tên tuổi trong Hầu trời:
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn,
Quê ở Á châu về Địa cầu,
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt.
Hỏng thi, rẽ sang nghề văn: Khối tình con và Đông Dương tạp chí
Học chữ Hán từ nhỏ, ông đi thi Hương nhưng không đỗ; Từ điển Bách khoa Việt Nam chỉ ghi gọn rằng sau khoa thi hỏng cuối cùng, ông quay sang viết văn, làm báo. Từ năm 1915, bài của ông xuất hiện trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (báo Đại Đoàn Kết). Tập Khối tình con đầu tiên ra khoảng năm 1916 (các nguồn ghi 1915, 1916 hoặc 1917), rồi tiểu thuyết Giấc mộng con (1917). Tuồng Thiên Thai của ông được diễn ở Hải Phòng năm 1916.
Bài Muốn làm thằng Cuội in trong Khối tình con, mở đầu bằng một lời than với chị Hằng mà người đọc đầu thế kỷ XX chưa quen nghe:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,
Đọc thêm toàn bài và lời bình ở Muốn làm thằng Cuội (Tản Đà).
Tản Đà thư điếm và An Nam tạp chí: làm báo bằng tiền túi
Năm 1921, ông làm chủ bút Hữu Thanh tạp chí, được ít lâu thì thôi vì bất đồng. Năm 1922, ông mở Tản Đà thư điếm (sau đổi là Tản Đà thư cục) để in sách của mình và bạn văn, trong đó có Ngô Tất Tố. Nhà văn Nguyễn Vỹ, theo báo Thanh Niên, nhớ mãi hình vẽ trên bìa sách của thư cục: một người gánh văn lên bán chợ Trời.
Ngày 1/7/1926, số đầu An Nam tạp chí ra đời, trụ sở ở phố Hàng Lọng, Hà Nội, mỗi tháng hai kỳ, ông là chủ nhân kiêm chủ bút, Ngô Tất Tố làm thư ký tòa soạn (Znews, Đại Đoàn Kết). Tờ báo “chết đi sống lại” nhiều lần vì thiếu tiền; số lần đình bản mỗi nguồn ghi một khác, và đến năm 1933 thì đình bản hẳn. Ông chi tiêu không sổ sách, chuyện này ông tự kể trong Giấc mộng lớn. Theo Đại Đoàn Kết và Wikipedia tiếng Anh, có thời ông vào Sài Gòn phụ trách phần văn chương cho Đông Pháp thời báo, đi cùng Ngô Tất Tố.
Ông thần ngông: từ chợ Trời đến mỏm đá Sầm Sơn
Chữ “ngông” gắn với ông từ khi ông còn sống. Hỏng thi, ông tự trào rằng không đỗ thì “càng tốt bộ ngông”. Con trai ông, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, sau này đặt tên cho tập giai thoại về cha là Ông thần ngông (1990). Nguyễn Tuân, trong bài “Tản Đà, một kiếm khách” đăng Tao Đàn năm 1939, kể một loạt trò ngông của ông: gánh văn lên bán chợ Trời, viết thư lên thiên đình cầu hôn, ra mỏm đá ngoài biển Sầm Sơn nạy hàu ăn sống với rượu (báo Lâm Đồng và Đại Đoàn Kết dẫn lại).
Hầu trời (1921, in trong tập Còn chơi) là bản tuyên ngôn của cái ngông đó: thi sĩ lên tiên, đọc văn cho Trời và chư tiên nghe, được khen, rồi than rằng văn chương hạ giới “rẻ như bèo”. Cái tôi dám tự khen mình, dám nói chuyện sinh kế của nghề văn ấy là điều thơ cổ ít có. Toàn văn và chú giải có trong bài Hầu trời (Tản Đà).
Ông cũng nổi tiếng mê rượu và mê ăn. Trương Tửu viết hẳn một cuốn Uống rượu với Tản Đà (1939), gọi ông là một “Epicurien” của Việt Nam. Vũ Bằng thời học trò, theo Đại Đoàn Kết và Thanh Niên, từng đứng ngoài cửa kính nhìn ông tự quạt hỏa lò, vừa nấu vừa nhắm rượu một mình.
Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Ngô Tất Tố nhớ về ông
Khi ông mất năm 1939, nhiều bạn văn viết về ông trên tạp chí Tao Đàn, và những trang ấy nay là nguồn tư liệu quý. Phan Khôi kể lần đầu gặp ông năm 1918 ở tòa soạn Nam Phong, khi nghe người ta giới thiệu đây là Nguyễn Khắc Hiếu:
Tôi như có điện chạy trong người, ghê rợn, vùng đứng dậy!
Mười bốn năm sau, chính hai người lại bút chiến với nhau trên mặt báo (1931 – 1932). Lưu Trọng Lư thì viết thẳng thắn hơn: “Gặp Tản Đà một bận thì thật là một điều khoái trá vô cùng”, gặp lần thứ ba thì đã khó chịu, đến lần thứ tư, thứ năm thì là “một… tai nạn”. Ngô Tất Tố, người cộng sự lâu năm, về sau tuyệt giao với ông suốt mười năm cuối đời; theo hồi ức của Vũ Bằng, ông Tố trách bạn khi không có tiền thì rầu rĩ, có tiền lại chỉ lo ăn uống, và bị những kẻ nịnh làm hại. Vũ Bằng thì nhớ cảm giác của mình: “Tôi sợ ông như một ông tiên.”
Wikipedia còn chép mấy câu khen ông được gán cho Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Bùi Giáng và một câu khác của Lưu Trọng Lư về chuyện ông “làm ra thơ mới” trước lớp sau. Chúng tôi chưa tìm được nguồn thứ hai cho những câu đó nên không đưa vào bài.
Dịch thơ Đường và những năm túng quẫn cuối đời
Bên cạnh sáng tác, ông dịch rất nhiều. Các bản dịch Hoàng Hạc lâu, Phong Kiều dạ bạc và bản dịch Trường hận ca của Bạch Cư Dị theo thể song thất lục bát được truyền tụng rộng rãi (báo Thanh Niên). Ông còn dịch Liêu Trai chí dị (Từ điển Bách khoa ghi 1934) và soạn Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện, in năm 1940, khi ông đã mất. Những bài thơ Đường ông dịch có thể đọc cùng các bài khác trong tuyển tập thơ Tản Đà.
Cuối đời, báo đình bản, ông túng quẫn: dạy chữ Hán, mở phòng xem số để kiếm sống (Wikipedia, báo Lâm Đồng). Tự Lực văn đoàn có lúc mời ông cộng tác với báo Ngày nay. Ông mất ngày 7/6/1939 tại căn nhà ở vùng Ngã Tư Sở, Hà Nội, năm mươi tuổi theo cách tính tuổi của Wikipedia.
“Người của hai thế kỷ”: Tản Đà mở cửa cho Thơ mới
Hai năm sau khi ông mất, Hoài Thanh – Hoài Chân mở đầu Thi nhân Việt Nam bằng bài “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”, mời ông ngồi ghế chủ súy hội Tao đàn của các nhà Thơ mới. Hai ông gọi Tản Đà là người của hai thế kỷ: vẫn giữ phong thái ung dung của nhà Nho thời trước, nhưng đã cất lên những tiếng than, tiếng cười rất cá nhân mà lớp sau sẽ nối tiếp. Câu được dẫn nhiều nhất trong bài:
Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa.
Sử gia David Marr, theo Wikipedia tiếng Anh, cũng coi thơ ông là một nhịp cầu nối Tú Xương, Nguyễn Khuyến với Thơ mới. Từ điển Bách khoa Việt Nam xếp ông vào lớp nhà Nho đầu tiên sống chuyên bằng nghề văn, nghề báo. Có thể đọc thêm về hai bậc đi trước ấy ở các bài tác giả Tú Xương và tiểu sử Nguyễn Khuyến.
Cảnh vui của nhà nghèo, Hầu trời, Muốn làm thằng Cuội trong chương trình Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Cảnh vui của nhà nghèo (song thất lục bát) | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Thơ và thơ song thất lục bát), phần tự đánh giá | — |
| Hầu trời | Ngữ văn 11 (chương trình 2006), tập 2 | Bài thơ và chú giải |
| Muốn làm thằng Cuội | Ngữ văn 8 (chương trình 2006), tập 1 | Bài thơ và lời bình |
Trong bộ sách hiện hành, Tản Đà chỉ còn một bài ở phần tự đánh giá của Ngữ văn 9 Cánh diều, bài thơ song thất lục bát về niềm vui giản dị trong một gia đình nghèo. Hai bài quen thuộc của thế hệ trước, Hầu trời và Muốn làm thằng Cuội, nay vẫn hay được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu.
Nội dung về khái niệm bách khoa được giải thích kĩ hơn, có ví dụ và lưu ý khi dùng, ở một bài riêng.
Xem thêm: