Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Nghị luận phân tích một tác phẩm truyện – Dàn ý + 11 bài văn mẫu hay nhất (lớp 9)

Cập nhật 08/10/2026·MMavrick Nguyễn·63 phút đọc·Ngữ văn 9·Bài 4: Truyện ngắn
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm truyện
  • Truyện ngắn hiện đại Việt Nam: tình huống, chi tiết và người kể
  • Truyện nước ngoài: lối kể kiệm lời và khung kể chuyện
  • Truyện truyền kì và truyện thơ Nôm

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm truyện là bài Viết của học kì I lớp 9 ở cả ba bộ sách, nhưng mỗi bộ đặt đề trong một khung riêng: sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức đặt ở Bài 4 Khám phá vẻ đẹp văn chương và cho tự chọn truyện truyền kì, truyện thơ Nôm hay truyện hiện đại; sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo đặt ở Bài 5 Khát vọng công lí, yêu cầu phân tích một đoạn trích truyện thơ; sách Ngữ văn 9 Cánh diều đặt ở Bài 4 Truyện ngắn với hai đề Làng và Ông lão bên chiếc cầu. Trang này tóm lại điều mỗi bộ đòi hỏi ở kiểu bài, kèm dàn ý chung, 11 bài văn mẫu về 11 truyện khác nhau (từ Làng, Chiếc lược ngà, Bí ẩn của làn nước đến Người thứ bảy, Thúy Kiều báo ân, báo oán), bảng sửa những câu văn chưa đạt và gợi ý cho phần thảo luận ở mục Nói và nghe.

nghị luận phân tích một tác phẩm truyện lớp 9
Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm truyện – văn mẫu lớp 9

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm truyện

So với lớp 8, bài phân tích truyện ở lớp 9 nâng yêu cầu ở hai chỗ: người viết phải nói được hiệu quả thẩm mĩ của từng nét nghệ thuật mình chọn, và phải biết ưu tiên những nét mang dấu ấn riêng của từng thể loại thay vì điểm qua mọi yếu tố. Một bài đạt yêu cầu thường có:

  • Lời giới thiệu kèm ý kiến: tên truyện, tác giả, thể loại, cùng một nhận định khái quát mà cả bài sẽ chứng minh.
  • Chủ đề được gọi tên: truyện phản ánh điều gì của đời sống, nhà văn gửi vào đó tình cảm, thái độ nào; có truyện mang hai chủ đề lồng vào nhau.
  • Hai đến ba nét hình thức được phân tích kĩ: cách dựng cốt truyện và tình huống, cách khắc họa nhân vật, người kể đứng ở đâu và nhìn bằng mắt ai, những chi tiết đắt, không gian, thời gian, lời văn. Mỗi nét đi qua ba bước: chỉ ra, dẫn bằng chứng, nói rõ nó làm chủ đề hiện lên ra sao.
  • Luận điểm nối nhau chặt: mỗi đoạn có câu chủ đề (đoạn diễn dịch, quy nạp hoặc phối hợp), giữa các đoạn có phép liên kết, bằng chứng rút ra từ trang sách.
  • Phần đánh giá ở cuối bài: chỉ ra chỗ đáng quý của tác phẩm cùng điều nó gợi ra cho người viết, không nhắc lại nguyên văn mở bài.
Bộ sách Bài học, trang Đề và điểm nhấn riêng
Kết nối tri thức Tập 1, Bài 4 Khám phá vẻ đẹp văn chương (trang 103–108) Tự chọn một tác phẩm hoặc một đoạn trích truyện đã học ở cấp THCS; truyện thơ dài thì nên chọn một đoạn trọn ý. Sách có một bài phân tích Lặng lẽ Sa Pa để học sinh đối chiếu. Sách cũng gợi cách soi theo thể loại: với truyền kì, xem phép lạ giúp gì cho câu chuyện; với truyện thơ Nôm, xem chỗ kể chuyện hòa với bộc lộ cảm xúc; với truyện ngắn hiện đại, xem người kể, cách tổ chức cốt truyện và lời văn.
Chân trời sáng tạo Tập 1, Bài 5 Khát vọng công lí (trang 142–146) Đề gắn với một hoạt động do câu lạc bộ Văn học tổ chức để giới thiệu vẻ đẹp của truyện thơ Việt Nam: chọn một đoạn trích truyện thơ em thích để phân tích. Văn bản phân tích trong sách bàn về đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều; trọng tâm là cốt truyện, cách xây dựng nhân vật, lời người kể và lời nhân vật, mỗi đoạn văn nêu rõ câu chủ đề.
Cánh diều Tập 1, Bài 4 (chủ đề Truyện ngắn), trang 102–105 Chọn một trong hai đề: phân tích Làng (Kim Lân) hoặc Ông lão bên chiếc cầu (Hê-minh-uê). Sách nhắc không sa vào kể lại rồi thỉnh thoảng thêm một câu nhận xét; nên liên hệ với tác phẩm cùng đề tài và với chính mình; phần rèn kĩ năng dạy cách phân tích nhân vật qua dáng vẻ, việc làm, lời nói và những điều nhân vật nghĩ.
Dàn ý

Dàn ý bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm truyện

795 từ

1. Mở bài

  • Nêu tên truyện, tác giả, thể loại; xuất xứ, năm sáng tác chỉ đưa vào khi chắc chắn.
  • Phát biểu nhận định chung sẽ được chứng minh: chủ đề cộng với nét nghệ thuật nổi bật nhất.
  • Cách vào bài: từ một đồ vật hay chi tiết trong truyện, từ một câu văn, từ ý kiến của một nhà nghiên cứu (dẫn ý nếu không nhớ chắc nguyên văn), từ yêu cầu của câu lạc bộ, hoặc vào thẳng vấn đề.

2. Thân bài

  • Vài câu về bối cảnh và sự việc chính, giữ lại đúng những gì phần phân tích sẽ dùng tới.
  • Luận điểm thứ nhất bàn về chủ đề: tác phẩm phản ánh mảng đời sống nào, dựng lên hình ảnh con người ra sao, nhà văn nghĩ và cảm gì.
  • Luận điểm về nghệ thuật, chọn theo thể loại. Truyện ngắn hiện đại: tình huống, ai kể và kể từ góc nào, chi tiết đắt giá, lời ăn tiếng nói của nhân vật. Truyện truyền kì: yếu tố kì ảo và dụng ý của nó, kết cấu, lời bàn cuối truyện. Truyện thơ Nôm: cốt truyện, nhân vật bộc lộ mình qua việc làm và lời đối đáp, câu lục bát vừa kể vừa bộc lộ cảm xúc.
  • Ba cách tổ chức thân bài: bàn chủ đề rồi mới tới hình thức; nghệ thuật trước rồi quy về chủ đề; hoặc bám một trục xuyên suốt (một đồ vật, những lần nhân vật lên tiếng, một câu hỏi) để nội dung và nghệ thuật hòa làm một.
  • Nếu còn thời gian, viết thêm một đoạn đối chiếu với truyện cùng đề tài để làm rõ nét riêng.

3. Kết bài

  • Đánh giá những gì truyện làm được về nội dung lẫn cách viết, vị trí của nó trong văn học.
  • Nêu điều truyện để lại cho em, gắn với một hình ảnh hay một suy nghĩ cụ thể.

Dàn ý gợi ý cho đề câu lạc bộ Văn học trong sách Chân trời sáng tạo, áp vào đoạn Thúy Kiều báo ân, báo oán

  • Mở bài: Truyện Kiều của Nguyễn Du; đoạn trích là lúc Kiều, nhờ Từ Hải, lần đầu được làm người phán xử; nhận định: sức hấp dẫn nằm ở cách Kiều nói với từng người.
  • Không khí phiên xử nơi quân trướng: quyền phán quyết được trao vào tay người từng bị chà đạp.
  • Báo ân Thúc Sinh: lời lẽ trang trọng, thân tình; món quà lớn; thái độ sợ hãi của Thúc Sinh.
  • Xử Hoạn Thư: lời mỉa mai của Kiều, lí lẽ bào chữa khôn khéo của Hoạn Thư, quyết định tha.
  • Trừng trị bọn bất nhân: công lí theo quan niệm nhân dân.
  • Nghệ thuật: kể bằng lục bát, đối thoại sắc nét, ngôn ngữ nhân vật mang cá tính; tự sự hòa với trữ tình.
  • Kết bài: ước vọng về lẽ công bằng của người xưa, tấm lòng Nguyễn Du với người phụ nữ.

Truyện ngắn hiện đại Việt Nam: tình huống, chi tiết và người kể

Mẫu 1

Mẫu 1: Làng (Kim Lân) – một tin đồn thắt nút, một tin cải chính mở nút

1.219 từ

Ở Làng, truyện ngắn quen thuộc của Kim Lân, mọi biến cố bắt đầu từ một câu nói vu vơ ở quán nước và kết thúc bằng một câu nói khác của ông chủ tịch làng. Giữa hai lời nói ấy, một ông lão nông dân đi qua cả một cơn khủng hoảng tinh thần. Viết năm 1948, khi nhiều gia đình bỏ làng đi tản cư theo lệnh kháng chiến, nhà văn chọn một tình huống rất nhỏ để thử thách một tình cảm rất lớn: tình yêu dành cho làng quê của một người dân cày và sợi dây nối nó với cuộc kháng chiến.

Tình huống truyện được dựng như một phép thử. Ông Hai mê làng đến thành tật, đi đâu cũng khoe làng Chợ Dầu. Nhà văn đặt đúng người yêu làng nhất trước cái tin làng mình theo giặc. Với kẻ dửng dưng, tin ấy chỉ là chuyện bàn tán; với ông Hai, nó đánh trúng chỗ ông lấy làm lẽ sống. Người loan tin lại là một chị tản cư, kể giữa đám đông, có đầu có đuôi như tận mắt chứng kiến. Kim Lân không chừa cho nhân vật một khe hở để nghi ngờ, và vì không nghi được nên ông càng đau.

Ông Hai đón tin dữ bằng cơ thể trước khi bằng lời: cổ nghẹn lại, mặt tê dại, người lặng đi như nghẹt thở. Rồi ông vờ lảng sang chuyện khác, trả tiền nước, đi thẳng về. Người ngày nào cũng tìm người để kể chuyện làng nay tránh mặt tất cả; sự đảo chiều ấy cho thấy niềm tự hào trước kia lớn bao nhiêu thì nỗi nhục bây giờ nặng bấy nhiêu.

Truyện kể ở ngôi thứ ba, song điểm nhìn bám sát ông Hai, nên những ngày sau đó người đọc gần như sống trong đầu ông. Về đến nhà, ông nằm lì trên giường, nhìn đám con và nghĩ chúng cũng sẽ bị người đời khinh; ông giật mình mỗi khi bên ngoài có tiếng bàn tán về bọn theo giặc; ông sợ cả cái nhìn của mụ chủ nhà. Những câu ông tự hỏi rồi tự đáp xen vào lời người kể đến mức khó tách ra, nên nỗi đau hiện lên từ bên trong.

Chỗ căng nhất của tình huống là lúc ông phải chọn. Có lúc ông tính chuyện quay về làng, rồi gạt đi ngay, bởi về lúc này là bỏ kháng chiến. Nhà văn cho ông Hai tự nói ra kết luận bằng một câu rất mộc: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Hai vế của câu văn giằng co, vế sau đè lên vế trước: người nông dân cả đời gắn với lũy tre đã tự đặt đất nước lên trên cái làng. Lựa chọn ấy đau mà dứt khoát, chứng tỏ cái làng trong lòng ông Hai đã khác xưa: không còn là thói khoe khoang mà quyện vào niềm tin theo kháng chiến.

Cảnh ông Hai ôm đứa con nhỏ nhất vào lòng mà trò chuyện là chỗ ngòi bút Kim Lân tinh tế nhất. Ông gặng hỏi thằng bé nó là con của ai, quê ở chốn nào, theo ai, rồi gần như đáp hộ nó. Bề ngoài là đối thoại, thực chất là lời tự nhủ, là lời thề của một người không biết giãi bày cùng ai. Những câu hỏi đáp giản dị như dạy trẻ tập nói lại chứa điều thiêng liêng nhất trong lòng ông: làng vẫn là làng của bố con ông, còn trái tim ông thì đã trao cho kháng chiến, cho Cụ Hồ. Một tình cảm lớn được nói ra bằng thứ ngôn ngữ nhỏ bé nhất, và vì thế càng thật.

Khi tin cải chính đến, nút thắt được gỡ bằng một chi tiết nghịch lí: ông Hai gặp ai cũng khoe căn nhà của mình vừa bị Tây đốt sạch. Ai mất nhà cũng khóc, ông mất nhà mà mừng, vì căn nhà cháy là bằng chứng làng ông không theo giặc. Tiếng cười bật ra ở đây vừa hóm vừa thương. Ông lại hăng hái nói về làng như cũ, nhưng ta biết ông không còn là người của những trang đầu.

Làng không cần tiếng bom để viết về chiến tranh. Chỉ với một tin đồn và một tin cải chính, Kim Lân cho thấy cuộc kháng chiến đi vào tận những góc riêng nhất trong lòng người dân quê. Gấp sách lại, điều tôi nhớ lâu nhất không phải tiếng reo cuối truyện mà là phút ông lão lặng người ở quán nước: khoảnh khắc một con người buộc phải hỏi mình thuộc về đâu.

Mẫu 2

Mẫu 2: Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) – đi theo cây lược qua ba bàn tay

836 từ

Nếu phải chọn một đồ vật để kể lại toàn bộ truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, có lẽ không gì hợp hơn chính cây lược. Nó được hứa trong một lời dặn, được làm ra bằng đôi tay người cha, được trao qua tay đồng đội lúc người cha nằm xuống, và mãi sau mới đến được người con. Lần theo con đường của cây lược, ta thấy Nguyễn Quang Sáng viết về tình phụ tử giữa chiến tranh không bằng lời ngợi khen mà bằng một hành trình đầy dở dang.

Cây lược ra đời từ một lời dặn rất trẻ con. Trong mấy ngày phép ngắn ngủi của người cha, cô bé tám tuổi cứ khăng khăng không chịu gọi ba, bởi vết thẹo trên má làm anh khác hẳn người đàn ông trong tấm ảnh. Đến buổi sáng anh lên đường, nỗi nhớ dồn nén bấy lâu mới vỡ òa thành tiếng gọi ba, và em chỉ kịp nhắn ba nhớ mua cho mình cây lược. Nhà văn đặt lời dặn nhỏ nhoi ấy vào đúng phút chia tay, nên nó gánh lấy tất cả những gì hai cha con chưa kịp nói với nhau.

Ở chiến khu, cây lược thành nơi người cha dồn hết thương nhớ. Anh Sáu kiếm được một khúc ngà, ngồi cưa từng chiếc răng lược tỉ mẩn, rồi khắc lên sống lược một dòng chữ tặng con gái. Người lính quen cầm súng giờ cặm cụi như một người thợ bạc. Chi tiết ấy cho thấy tình cha không chỉ là cảm xúc: nó thành công sức, thành thời gian, thành một vật có thể cầm trên tay. Mỗi lần nhớ con, anh lại lấy cây lược ra ngắm, như thể chải tóc cho con từ xa.

Cây lược đổi chủ lần thứ hai trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất. Trúng đạn trong một trận càn, anh Sáu không còn sức trăng trối, chỉ kịp đưa cây lược cho bác Ba. Đến đây, việc Nguyễn Quang Sáng chọn bác Ba làm người kể mới thấy hết tác dụng. Bác vừa là người chứng kiến, vừa là người nhận lời gửi gắm. Bác kể bằng giọng người trong cuộc, có lúc nghẹn lại, có lúc dừng lời để nghĩ ngợi, nên câu chuyện không thành một bản tường thuật lạnh lùng. Người đọc tin vào tiếng gọi xé lòng của bé Thu vì người kể đã đứng ngay đó và cũng đã khóc.

Chặng cuối, cây lược mới về tới tay người nhận. Cô bé năm nào nay làm giao liên giữa vùng chiến sự. Cuộc gặp không còn người cha, chỉ còn kỉ vật. Đó là nỗi đau mà chiến tranh để lại cho biết bao gia đình: tình thương có thể đi hết quãng đường, còn người thương thì không.

Từ một lời dặn đến một kỉ vật, cây lược ngà nối quá khứ với hiện tại, người đã khuất với người ở lại. Nguyễn Quang Sáng không cần kể nhiều về bom đạn; ông để một cây lược nhỏ, lẽ ra chỉ dùng để chải tóc, mang trên mình cả một khoảng đời không trọn vẹn.

Mẫu 3

Mẫu 3: Những con cá cờ (Trần Đức Tiến) – cái bể xi măng và mặt hồ rộng

654 từ

Những con cá cờ là truyện ngắn của Trần Đức Tiến, được chọn làm văn bản ở phần Tự đánh giá cuối Bài 4 sách Ngữ văn 9 Cánh diều. Truyện kể về mấy đứa trẻ lên Hà Nội nghỉ hè, ở với bố mẹ trong dãy nhà tập thể gần Hồ Tây. Câu chuyện nhỏ, đề tài thiếu nhi, nhưng điều nhà văn muốn nói chạm tới cả người lớn: con người, nhất là trẻ em, cần một khoảng trời rộng hơn những bức tường quen thuộc.

Chủ đề ấy hiện lên trước hết qua hai không gian đối lập. Một bên là cái bể xi măng giữa sân, có hòn non bộ, nước để lâu ngày đen sẫm, nơi lũ cá cờ cứ lượn quanh một vòng mãi không thôi. Một bên là Hồ Tây ngay gần đó, mặt nước mở ra bốn phía. Cái bể vừa là bối cảnh thật vừa là hình ảnh tượng trưng: nó giống chính khu nhà đang giữ chân lũ trẻ, chật chội và lặp lại ngày này qua ngày khác.

Nhân vật Quang được xây dựng qua những việc rất trẻ con: câu cá cờ thả vào bình thủy tinh, theo các bạn trốn đi chơi, bị lạc rồi thiếp đi trong một giấc mơ có tiếng đàn vọng lại. Đối lập với cậu là người bố tên Chất, cứ tính dẫn cả nhà đi dạo phố rồi lại nghĩ ra phố chỉ tổ bụi bặm, mệt người. Người kể ở ngôi thứ ba nhưng nhiều lúc hòa vào ý nghĩ của từng nhân vật, nên ta thấy rõ hai cách nhìn: người lớn coi yên ổn là đủ, trẻ con lại thấy sự yên ổn ấy như một chiếc lồng.

Chi tiết đáng nhớ nhất nằm ở cuối truyện. Bị bố đánh, Quang không khóc vì đau mà khóc khi chiếc bình vỡ, lũ cá rơi ra. Rồi cậu mang chúng ra Hồ Tây thả. Người kể cho biết đến giờ những con cá ấy vẫn sống, giữa lòng hồ mênh mông. Thả cá là cách một đứa trẻ trao cho con vật thứ tự do mà chính em chưa có, cũng là lời nhắn rất khẽ gửi tới người lớn.

Đọc truyện, tôi nghĩ đến nhiều bạn nhỏ trong các khu chung cư bây giờ: sân chơi là hành lang, cuối tuần là màn hình. Truyện không trách ai, chỉ đặt cạnh nhau một cái bể và một mặt hồ. Câu hỏi còn lại thuộc về người đọc: chúng ta đang để những đứa trẻ lớn lên trong cái bể nào?

Mẫu 4

Mẫu 4: Bí ẩn của làn nước (Bảo Ninh) – khi người giữ bí mật tự mình kể lại

1.052 từ

Có những truyện mà người đọc biết nhiều hơn nhân vật. Bí ẩn của làn nước, truyện ngắn của Bảo Ninh, làm điều ngược lại: người kể là người duy nhất trên đời biết sự thật, và chỉ khi nghe ông kể, chúng ta mới thành người thứ hai được biết. Truyện có trong sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, Bài 5 Đối diện với nỗi đau. Lựa chọn ngôi kể ấy biến một câu chuyện cứu người trong đêm vỡ đê thành lời tự bạch về một nỗi đau không thể nói cùng ai.

Người kể là chính người cha, xưng tôi, kể khi tóc đã bạc. Khoảng cách thời gian quyết định giọng văn. Truyện không mở bằng đêm lũ mà bằng dòng sông hiện tại, bằng những suy nghĩ chậm rãi về thời gian cứ trôi như nước. Ông nhìn những đốm sáng lấp lánh trên mặt sông và bảo trong đó có điều bí ẩn của đời mình. Ngay từ đầu, người đọc biết đây là chuyện cũ, đã lắng xuống mà chưa từng nguôi. Nhịp kể từ tốn của người già tạo một không khí trầm, đối lập hẳn với cơn hỗn loạn sắp được kể.

Phần giữa truyện quay về một đêm rằm tháng Bảy, lúc nước lũ dâng đỉnh điểm và bom Mỹ phá tung con đê chắn trước xóm. Ở đây, điểm nhìn của người trong cuộc khiến câu chuyện vừa dồn dập vừa mù mịt: anh chồng chạy về, kéo được vợ cùng đứa con mới lọt lòng lên nóc nhà tranh; căn nhà dạt đi rồi vướng vào cây đa giữa làng. Người kể chỉ thấy những gì một người đang vật lộn với nước có thể thấy: tiếng kêu cứu, cành cây rung, bàn tay tuột khỏi tay. Không có cái nhìn từ trên cao giải thích mọi việc, nên khi đứa trẻ rơi xuống nước, người đọc cũng hoảng hốt như anh.

Sự thật được hé lộ trên chiếc ca nô cứu nạn, và Bảo Ninh để người kể nói về khoảnh khắc ấy chỉ bằng mấy chữ: “Tôi nhìn, chết lặng.” Đứa trẻ anh cứu được hóa ra là con gái, mà con anh là con trai. Câu văn cụt lủn đánh dấu chỗ người kể không tả nổi lòng mình. Rồi anh ôm đứa bé vào lòng và nhận nó làm con. Nhà văn không để nhân vật đắn đo dài dòng; quyết định đến ngay, như bản năng của một người cha, và vì thế nó lay động.

Từ đây, ngôi kể thứ nhất mang thêm một tầng nghĩa: đây là lời của người giữ bí mật. Dân làng ai cũng tin cô gái là đứa trẻ người cha đã giành lại từ tay lũ, chính cô cũng tin vậy. Người kể nói rằng ngoài ông ra chỉ con sông biết điều ấy. Câu văn đặt dòng sông vào vị trí nhân chứng duy nhất, đồng thời cho thấy nỗi cô đơn của người cha. Ông đã cứu một sinh mạng, nuôi nó lớn bằng tình thương thật, nhưng mỗi lần ra bờ sông là một lần đối diện với những người nằm lại dưới làn nước: vợ ông, đứa con trai và một người mẹ xa lạ. Tình thương và nỗi đau cùng sống trong một con người mà không loại trừ nhau.

Nhan đề vì thế có hai lớp. Bí ẩn của làn nước là điều dòng sông giữ hộ, cũng là chiều sâu trong lòng người cha mà không ai nhìn thấu. Chiến tranh trong truyện không hiện ra bằng chiến trường, mà bằng một đoạn đê vỡ ở hậu phương và một đời người mang vết thương không ai hay.

Đọc xong, em hiểu vì sao Bảo Ninh để chính người cha cất lời. Chỉ lời của ông mới chứa nổi hai điều tưởng như trái ngược: mất mát không gì bù đắp và tình thương không cần cùng máu mủ. Truyện khép lại, còn dòng sông trong truyện như vẫn chảy, mang theo điều nó từng chứng kiến.

Mẫu 5

Mẫu 5: Gói thuốc lá (Thế Lữ) – bài viết trong 45 phút

556 từ

Gói thuốc lá là truyện trinh thám của Thế Lữ xoay quanh nhân vật nhà báo Lê Phong, được chọn vào phần Tự đánh giá Bài 6 sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập hai. Sức hấp dẫn của truyện nằm ở cách nhà văn dùng những chi tiết rất đời thường để dẫn người đọc tới sự thật của một vụ án mạng.

Truyện mở đầu bằng cái chết bí hiểm của nhân vật Đường. Mối nghi ban đầu đổ lên Nông An Tăng, và manh mối đầu tiên Lê Phong lần theo là mấy dòng chữ phía sau một tấm danh thiếp. Cốt truyện đi đúng lối trinh thám: án mạng trước, người bị nghi oan, rồi từng nút được gỡ dần. Người đọc bị cuốn theo vì luôn tưởng mình sắp đoán ra, rồi lại phải đoán lại từ đầu.

Điểm hấp dẫn kế tiếp nằm ở người phá án. Lê Phong không có phép màu, anh chỉ để ý những điều người khác bỏ qua. Trong buổi đi xem chiếu bóng, người đi cùng mà ai cũng ngỡ là Thạc bỗng im lặng khác thường, xức nước hoa, thắt chiếc ca vát sặc sỡ. Từ những thay đổi vụn vặt ấy, Lê Phong dựng lại mưu kế của Đinh Võ Thạc: nhờ người em sinh đôi đổi chỗ để có bằng chứng ngoại phạm. Suy luận đi từ quan sát đến giả thuyết rồi tới kiểm chứng, nên người đọc thấy thuyết phục.

Chi tiết gói thuốc lá ở nhan đề là mắt xích cuối cùng. Một món đồ quen thuộc giữa bạn bè, được Lê Phong khéo léo đòi lại, trở thành cái bẫy nhỏ khiến kẻ thủ ác tự lộ mình. Đặt lời giải vào một vật bình thường, nhà văn nhấn mạnh rằng tội ác dù tính toán kĩ đến đâu vẫn để lại dấu vết.

Qua vụ án, Thế Lữ còn chạm tới lòng tham có thể biến con người thành kẻ sát nhân. Với em, Gói thuốc lá là một bài học về cách đọc: muốn hiểu một truyện, cũng như muốn phá một vụ án, phải nhìn kĩ những điều tưởng như chẳng đáng để tâm.

Truyện nước ngoài: lối kể kiệm lời và khung kể chuyện

Mẫu 6

Mẫu 6: Ông lão bên chiếc cầu (Hê-minh-uê) – cuộc trò chuyện cứ quay về mấy con vật

872 từ

Ông lão bên chiếc cầu của Hê-minh-uê gần như chỉ gồm vài câu hỏi đáp giữa một anh lính và ông cụ ngồi bên vệ đường. Truyện ra đời từ những ngày nhà văn làm báo ở Tây Ban Nha giữa lúc nước này nội chiến, khi dân chúng bỏ nhà chạy qua các cây cầu. Điều làm em chú ý là cuộc trò chuyện ấy cứ đi một vòng rồi lại về đúng một chỗ: mấy con vật ông lão bỏ lại. Chính sự lặp lại tưởng như vụng về ấy mang chủ đề của truyện: chiến tranh bứt con người khỏi những gì nhỏ bé mà họ thương yêu.

Hê-minh-uê dựng cảnh rất tiết kiệm. Một cây cầu phà, dòng xe và người nối nhau qua sông, lính đẩy giúp những chiếc xe lên dốc. Giữa chuyển động ấy có một điểm đứng yên: ông lão đeo kính gọng thép, quần áo bám bụi, ngồi im vì quá mệt. Đặt một con người bất động giữa dòng người hối hả, nhà văn khiến ông lão hiện ra như một dấu hỏi.

Người kể là một anh lính được giao đi thám thính phía bên kia cầu. Anh hỏi ngắn, ông lão đáp cũng ngắn. Hỏi quê, ông nói về thị trấn của mình rồi nhắc ngay việc chăm đàn vật nuôi. Hỏi tiếp, ông lại kể về con mèo, đôi dê, mấy cặp chim bồ câu. Đến câu hỏi về chính kiến, ông đáp mình chẳng bận tâm chuyện chính trị. Lời đáp nào cũng trượt khỏi câu hỏi để trở về những con vật. Qua kiểu đối thoại ấy, Hê-minh-uê cho thấy tâm trí ông lão vẫn mắc lại ở nơi ông vừa rời đi; với ông, những con vật là cả thế giới.

Người kể hầu như không bình luận. Anh không nói ông lão đáng thương, cũng không tả nỗi xúc động của mình. Nhưng việc anh nán lại hỏi han, khuyên ông lên xe đi tiếp, dù chính anh đang có nhiệm vụ, đã nói thay anh. Hê-minh-uê từng ví cách viết của mình như một tảng băng trôi: câu chữ chỉ để lộ phần nổi, cảm xúc chìm sâu bên dưới. Khi ông lão gắng nhổm người dậy được một lát rồi lại sụp xuống bụi đường, lẩm bẩm rằng điều ông bận lòng chỉ là đàn vật nuôi, người đọc hiểu ông sẽ không đi được nữa.

Cái kết là chỗ giọng văn lạnh nhất và cũng đau nhất. Người kể nhắc rằng hôm ấy là Chủ nhật Phục sinh, rằng mây dày nên phi cơ của đối phương chưa thể lên, rằng loài mèo vốn biết tự lo thân. Đó là toàn bộ cái may ông lão có được. Ngày lễ mừng Chúa sống lại được đặt sát bên một con người đang chờ cái chết; chữ may mắn dành cho một số phận chẳng có chút may nào. Sự mỉa mai không cần thêm lời phán xét.

Ông lão không có tên, vì thế ông mang gương mặt của mọi người dân bị cuộc chiến bỏ lại bên lề đường. Đọc truyện, em nhận ra một tác phẩm chống chiến tranh có thể không có lấy một tiếng súng; chỉ cần một ông già nhớ hai con dê của mình là đủ.

Mẫu 7

Mẫu 7: Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi) – lời thú nhận sau bốn mươi năm

853 từ

Người thứ bảy của nhà văn Nhật Bản Mu-ra-ka-mi Ha-ru-ki có một cách mở rất lạ: người kể không được gọi bằng tên mà bằng thứ tự của mình trong một buổi kể chuyện. Ông là người thứ bảy cất lời trong một đêm gió mưa, khi những người khác đã kể xong. Cái khung ấy biến chuyện con sóng năm xưa thành một lời thú nhận trước nhiều người, và chủ đề của truyện cũng nằm ở đó: con người chỉ được giải thoát khi dám đối mặt với cái mình sợ.

Câu chuyện bên trong khung kể khá giản dị. Thuở bé, người đàn ông chơi thân với K, học dưới mình một lớp, ốm yếu, ít nói mà vẽ rất đẹp. Trong một cơn bão, lúc tâm bão đi qua và trời tạm lặng, hai đứa ra bờ biển. Cậu bé linh cảm con sóng đang tới, nhưng nỗi sợ khiến cậu bỏ chạy lên đê, bỏ bạn lại. Sóng cuốn K đi. Mu-ra-ka-mi không kéo dài cảnh ấy; ông dồn sức nặng vào hình ảnh đợt sóng kế tiếp khựng lại ngay trước cậu, trong lòng sóng là K đang cười. Hình ảnh nửa thực nửa mơ khiến người đọc không biết đó là điều cậu thấy thật hay là nỗi ám ảnh đã kịp in vào mắt cậu.

Phần tiếp theo cho thấy nỗi sợ tàn phá con người ra sao. Cậu ốm nặng, đêm nào cũng gặp ác mộng, rồi xin về sống ở Na-ga-nô, thật xa biển. Gần bốn mươi năm, ông tránh mọi nơi có nước. Ngôi kể thứ nhất khiến những năm tháng ấy hiện ra qua giọng của một người đã quá quen sống chung với vết thương: bình thản bề ngoài, mỏi mệt bên trong. Nụ cười của K trở đi trở lại như một câu hỏi chưa ai trả lời.

Rồi ông trở về. Ngồi trước biển, ông thấy những con sóng hiền lành vỗ vào chân và lòng mình nhẹ hẳn. Ông được cởi trói không nhờ phép màu mà nhờ một quyết định: quay lại đúng nơi mình sợ nhất. Lời chiêm nghiệm cuối truyện, rằng đáng sợ hơn cả là ngoảnh mặt đi và nhắm mắt trước nỗi sợ, vì thế không phải lời khuyên suông. Đó là điều một đời người đúc kết, được nói ra trước những người lạ đang ngồi nghe trong đêm mưa.

Đặt Người thứ bảy cạnh Bí ẩn của làn nước, một truyện ngắn Việt Nam về nỗi đau thời chiến, em thấy hai người đàn ông có nhiều chỗ giống nhau: cùng mang một bí mật gắn với nước, cùng sống hàng chục năm với nỗi đau không chia sẻ. Người cha trong truyện ấy giấu kín sự thật với cả làng, với cả đứa con gái; người thứ bảy lại chọn đứng lên kể cho những người xa lạ. Hai lựa chọn, hai cách đối diện, cùng cho thấy văn chương hiểu con người tới tận chỗ yếu đuối nhất.

Người thứ bảy không có những biến cố dồn dập. Sức ám ảnh của nó đến từ khung kể, từ hình ảnh con sóng lặp lại và từ giọng điềm tĩnh của một người cuối cùng đã thôi trốn chạy.

Truyện truyền kì và truyện thơ Nôm

Mẫu 8

Mẫu 8: Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) – những lần Vũ Nương lên tiếng

1.192 từ

Trong bài nghị luận được chọn vào sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, Nguyễn Đăng Na nhìn câu chuyện của Vũ Nương không chỉ như chuyện một người vợ bị ngờ oan mà như bi kịch của con người. Đọc lại Chuyện người con gái Nam Xương, em thử kiểm nghiệm cách nhìn ấy qua một điều rất cụ thể: những lần Vũ Nương được cất lời. Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kì mạn lục ở thế kỉ XVI, cho nhân vật của mình nói không nhiều, nhưng mỗi lần nàng lên tiếng lại là một nấc trên con đường đi xuống của bi kịch.

Lần thứ nhất là lời dặn trong buổi tiễn chồng đi lính. Nàng chẳng cầu chồng mang ấn phong hầu về làm rạng rỡ, mà “chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Ước muốn ấy khiêm nhường đến mức thật thà: không danh vọng, chỉ mong người về lành lặn. Lời dặn viết theo lối văn cân đối của truyện truyền kì, nhưng ý thì rất đời thường. Trớ trêu thay, người chồng trở về bình yên thật, mà hạnh phúc lại tan vỡ chính vì người ấy.

Giữa lần nói thứ nhất và lần thứ hai là những năm Vũ Nương gánh mọi phần việc thay chồng: nuôi con nhỏ, thuốc thang cho mẹ chồng lúc ốm, lo tang lễ khi bà qua đời. Lời trăng trối của bà mẹ chồng ghi nhận công lao ấy và tin trời xanh không phụ nàng. Nguyễn Dữ để một người khác nói lời khen, như một bằng chứng khách quan cho phẩm hạnh của Vũ Nương, để rồi lời khen ấy bị lời ngây thơ của một đứa trẻ phủ lấp.

Lần thứ hai nàng lên tiếng là để thanh minh. Bé Đản không chịu nhận cha vì đêm nào cũng có một người cha khác đến; Trương Sinh nghi vợ, mắng nhiếc rồi đuổi đi. Vũ Nương phân trần mình vốn con nhà nghèo được nương tựa nhà giàu, xưa nay giữ trọn tiết hạnh, xin chồng đừng ngờ oan. Lời lẽ đủ tình đủ lí mà không được nghe. Truyện không kể Trương Sinh cãi lại bằng lí lẽ nào; anh chỉ không cho vợ nói. Đến đây có thể hiểu vì sao bi kịch không chỉ thuộc về một người chồng đa nghi, mà thuộc về cả một trật tự trong đó lời của người đàn bà nhẹ bẫng.

Lần thứ ba là lời nguyền bên bến Hoàng Giang. Không còn ai để thanh minh, Vũ Nương nói với thần sông: nếu lòng trong trắng thì xin hóa ngọc Mị Nương dưới nước, làm cỏ Ngu mĩ trên bờ; bằng không thì đành chịu làm mồi cho tôm cá, diều quạ. Lời thanh minh giờ đã thành lời thề trước trời đất, và việc gieo mình xuống sông là cách duy nhất để lời ấy có người chứng giám. Một người phải chết mới được tin: đó là đáy sâu nhất của bi kịch.

Chi tiết cái bóng sau đó mới hé lộ sự thật. Một đêm, bé Đản chỉ vào bóng cha trên vách và bảo đó chính là người vẫn đến. Trò chơi Vũ Nương bày ra để con có cha hóa thành nguyên nhân cái chết của nàng. Lời giải oan cất lên từ miệng đứa trẻ, cũng là cái miệng đã gây ra nỗi oan. Sự trùng khớp ấy làm câu chuyện vừa chặt chẽ vừa chua xót.

Phần kì ảo dưới thủy cung cho Vũ Nương một lần lên tiếng cuối cùng. Khi chồng lập đàn bên sông, nàng hiện về giữa đoàn xe kiệu rực rỡ, rồi nói lời từ chối: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.” Nguyễn Dữ cho nhân vật được minh oan, đó là tấm lòng nhân hậu của nhà văn với người phụ nữ. Nhưng ông không cho câu chuyện kết thúc có hậu: cái bóng đã lấy đi một mái nhà, và không lễ giải oan nào dựng lại được. Yếu tố kì ảo ở đây không làm nỗi đau nhẹ đi mà làm nó rõ hơn.

Nhìn lại cả truyện, những lần Vũ Nương lên tiếng nối thành một đường dốc: từ lời dặn đầy hi vọng, đến lời thanh minh không ai nghe, đến lời thề với thần sông, cuối cùng là lời từ biệt. Một người tốt đã làm đủ điều tốt, nói đủ lời phải, vẫn không được đối xử như một con người. Câu chuyện viết cách đây hơn bốn trăm năm mà vẫn khiến người đọc hôm nay muốn lắng nghe nhau hơn.

Mẫu 9

Mẫu 9: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Nguyễn Đình Chiểu) – hành động trước, lời nói sau

854 từ

Đề bài của sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo mời học sinh viết cho câu lạc bộ Văn học về vẻ đẹp của truyện thơ Việt Nam. Nếu được chọn một đoạn để giới thiệu, em sẽ chọn đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trong truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu. Chỉ trong mấy chục câu lục bát, nhà thơ đã dựng xong một hình mẫu anh hùng mà người dân Nam Bộ mến phục: thấy việc bất bình thì ra tay, làm ơn không chờ ai trả.

Đoạn trích có cốt truyện đơn giản như một truyện dân gian: chàng trai đang trên đường về quê thăm song thân rồi mới lên kinh ứng thí thì gặp bọn cướp, đánh tan chúng, cứu hai cô gái. Sự đơn giản ấy hợp với lối thưởng thức truyện thơ ngày trước, khi nhiều người nghe kể, nghe nói thơ hơn là tự đọc. Mạch truyện đi thẳng, sự việc nối nhau nhanh, người nghe dễ nhớ.

Vân Tiên trước hết đẹp ở hành động:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.

Không gươm giáo, không quân lính, trong tay chàng chỉ có cành cây vừa bẻ làm gậy. Hai dòng thơ dồn liền ba động từ ghé, bẻ, xông, nhịp nhanh như chính hành động. Nguyễn Đình Chiểu còn ví chàng như Triệu Tử xông pha giữa vòng vây, một hình ảnh quen với người đọc thời ấy, để nâng việc nghĩa lên tầm anh hùng. Phong Lai thì ngược lại: hung hăng quát tháo mà chỉ một gậy đã ngã. Bút pháp tương phản giúp cái thiện thắng gọn gàng, đúng như mong ước của người dân.

Khi trận đánh đã xong, nhân vật bộc lộ mình qua lời nói. Thấy hai cô gái muốn ra lạy tạ, chàng vội ngăn:

Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.

Lời ngăn vừa vội vàng vừa đúng lễ: chàng giữ khoảng cách nam nữ theo khuôn phép xưa, cũng là cách tôn trọng người mình vừa cứu. Khi Nguyệt Nga ngỏ ý mời chàng theo về chỗ cha mình làm quan để được trả nghĩa, chàng từ chối thẳng thắn, cho rằng làm ơn mà mong người trả thì chẳng đáng gọi là người tốt, gặp việc nghĩa mà ngoảnh đi thì chẳng đáng mặt anh hùng. Lời lẽ mộc mạc, có chữ Hán xen với tiếng nói thường ngày, nghe đúng giọng một người trọng nghĩa khinh tài.

Kiều Nguyệt Nga hiện lên qua những lời thưa rõ ràng, khiêm nhường: kể quê quán, việc phải đi xa theo lời cha, nỗi lo cho tiết hạnh của mình, lòng mong được đền đáp. Một người trọng nghĩa, một người trọng ân, cả hai cùng hướng về những giá trị đạo đức mà tác giả muốn đề cao.

Đoạn trích cho thấy rõ đặc trưng của truyện thơ: kể chuyện bằng lục bát, có cốt truyện, nhân vật, đối thoại, mà vẫn giữ được nhạc điệu của thơ. Với em, sức sống của Lục Vân Tiên nằm ở chỗ những câu thơ như thế dễ thuộc, dễ nhắc lại mỗi khi có ai làm việc tốt mà chẳng cần đền đáp.

Mẫu 10

Mẫu 10: Thúy Kiều báo ân, báo oán (Nguyễn Du) – phiên tòa với ba giọng nói của Kiều

1.080 từ

Trong hơn ba nghìn câu Truyện Kiều, đoạn báo ân báo oán là lúc hiếm hoi người con gái quen chịu đựng được ngồi ở ghế phán xử. Nhờ Từ Hải, Kiều mở một phiên tòa giữa quân doanh để trả ơn và đòi nợ những người từng đi qua đời mình. Đọc kĩ, em nhận ra điều làm đoạn trích hấp dẫn không phải là kết quả xử án mà là cách Kiều nói: với mỗi người, nàng có một giọng khác, và qua những giọng ấy Nguyễn Du khắc họa một nhân vật vừa sắc sảo vừa nhân hậu.

Hai câu mở đầu dựng không khí như sân khấu của một phiên xử:

Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.

Quân trướng uy nghiêm, trống lệnh, gươm giáo, lính tráng chực sẵn. Từ Hải để Kiều toàn quyền định đoạt. Lần đầu tiên trong truyện, Kiều không phải nghe kẻ khác phán quyết số phận mình mà tự tay phán quyết.

Giọng thứ nhất là giọng ân tình dành cho Thúc Sinh. Kiều nhắc những ngày ở Lâm Tri, gọi chàng là người cũ, tự nhận phần duyên không trọn. Lời lẽ trang trọng mà thân tình, dùng điển Sâm Thương, chữ tòng, đúng kiểu lời của người có học. Món quà đền ơn được nói bằng những con số lớn: “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”. Ngay trong lời cảm tạ ấy, Kiều đã nhắc tới người vợ của Thúc Sinh bằng những chữ rất nặng, báo trước cuộc đối mặt sắp tới. Còn Thúc Sinh thì mồ hôi ướt đẫm như mưa: người đàn ông ngày trước không che chở nổi Kiều giờ chỉ biết đứng run.

Giọng thứ hai là giọng mỉa mai dành cho Hoạn Thư. Câu chào đầu tiên đã sắc như lưỡi dao:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

Tiếng tiểu thư từng là tiếng Kiều phải gọi khi làm thân con hầu; nay vẫn tiếng ấy mà vị thế đảo ngược, nghe thành lời giễu cợt. Kiều nói về cái gan hiếm có của đàn bà, về thói cay nghiệt, bằng giọng của người đã nếm đủ những trận đòn ghen.

Hoạn Thư không van xin suông. Nàng ta đưa ra lí lẽ: ghen tuông là chuyện thường tình của đàn bà; mình đã để Kiều ra ở gác Quan Âm chép kinh, lúc Kiều trốn đi cũng chẳng sai người đuổi bắt; cuối cùng là câu nói khó bề bác bỏ:

Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

Lời bào chữa đi từ lẽ thường đến công ơn rồi đến nhận lỗi, khéo đến mức Kiều phải khen người này khôn, lời lẽ đâu ra đấy. Ở đây Nguyễn Du cho thấy tài khắc họa nhân vật qua ngôn ngữ: Hoạn Thư hiện ra không đơn giản là kẻ ác mà là một người đàn bà rất hiểu đời, hiểu người.

Giọng thứ ba là giọng của người phán xử độ lượng. Kiều cân nhắc: tha thì may cho người, còn trừng trị thì mình hóa ra nhỏ nhen. Nàng tha. Quyết định ấy cho thấy tấm lòng rộng lượng, đồng thời cho thấy Kiều biết đâu là giới hạn của sự trả thù. Với những kẻ còn lại như Bạc Hạnh, Bạc Bà, Ưng, Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Kiều xử nghiêm theo đúng lời thề trước kia. Lời bình rằng kẻ ác tự làm thì tự chịu, chẳng ai thương, là phán quyết của công lí theo cách nghĩ của nhân dân.

Chính ba giọng nói ấy làm nên vẻ đẹp tự sự hòa cùng trữ tình của truyện thơ. Câu lục bát vừa kể sự việc, vừa chứa đối thoại sắc nét, vừa để người đọc thấy cảm xúc của Kiều đổi theo từng người đứng trước mặt nàng. Đoạn trích nằm trong bài học Khát vọng công lí là rất đúng chỗ: đó là giấc mơ công lí của Nguyễn Du và của nhân dân, được viết ra cho một người con gái suốt đời chịu oan khổ.

Mẫu 11

Mẫu 11: Truyện lạ nhà thuyền chài (Lê Thánh Tông) – những phép lạ làm sáng một nàng dâu

645 từ

Đọc Truyện lạ nhà thuyền chài trong tập Thánh Tông di thảo, tương truyền của vua Lê Thánh Tông, người ta dễ bị cuốn theo các phép lạ: ngôi nhà giữa biển, mâm cơm đầy những con vật bé xíu còn bơi nhảy, hai gã thân phủ vảy, mặt như thú dữ, chỉ trong chốc lát đã kéo thuyền vượt muôn dặm. Nhìn kĩ, mọi yếu tố kì ảo ấy đều hướng về một nhân vật: Ngọa Vân, nàng dâu đến từ biển. Truyện ngợi ca một nàng dâu hết lòng với cha mẹ chồng, và cái kì ảo là thứ ánh sáng làm vẻ đẹp ấy lấp lánh.

Truyện mở đầu rất thực. Đôi vợ chồng già làm nghề chài lưới, đến lúc gần sáu mươi mới sinh được Thúc Ngư. Cậu không chịu học chữ vì cho rằng sách vở chẳng giúp bắt được con cá nào, lại hay đi biền biệt, bảo là đi kiếm vợ. Cái nền hiện thực ấy giúp phần kì ảo phía sau có chỗ bám.

Phép lạ bắt đầu khi hai ông bà lạc thuyền trong sương mù và được một ông lão râu dài đón tiếp như thông gia. Cuộc lạc đường thành buổi dạm hỏi, bữa cơm lạ thành lễ ra mắt. Mọi điều được thuật lại tỉnh bơ như chuyện thường ngày, nên người đọc chấp nhận một cách tự nhiên.

Đỉnh cao của truyện là lúc nước biển dâng trong đêm Thất tịch. Ngọa Vân biến thành một con cá rất lớn nằm ngang ngăn nước, giữ lại sự sống cho gia đình chồng. Chi tiết ấy nâng phẩm chất của nàng lên mức phi thường: lòng hiếu thảo được đo bằng việc dám để lộ thân phận thật và chấp nhận chia lìa. Sau đó nàng cất tiếng hát chia tay, để lại cho Thúc Ngư một thứ thuốc giữ cho chàng không bao giờ chìm dưới nước, rồi hóa rồng bay lên. Cái kết vừa đẹp vừa buồn, đúng chất truyện truyền kì.

Đoạn bình của Sơn Nam Thúc khép lại truyện, khen Ngọa Vân và chê những nàng dâu bất hiếu, cho thấy rõ dụng ý răn dạy của tác phẩm. Với em, điều đọng lại không phải bài học khô khan mà là hình ảnh một sinh vật biển to lớn nằm ngang giữa dòng nước dữ trong đêm, che cho một mái nhà nhỏ khỏi bị cuốn trôi.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Bảng dưới đây đặt cạnh nhau câu văn chưa đạt và cách viết lại, để em thấy lỗi nằm ở đâu chứ không chỉ biết tên lỗi.

Câu văn chưa đạt Vì sao chưa đạt Viết lại
Ông Hai biết tin làng Chợ Dầu theo Tây. Ông buồn lắm. Mấy ngày liền ông chỉ ở trong nhà. Chỉ kể lại sự việc, không có nhận xét nào. Ông Hai từ người thích khoe làng thành người lẩn tránh mọi cái nhìn, nghĩa là cái tin kia đã đánh vào đúng niềm kiêu hãnh lớn nhất của ông.
Truyện sử dụng ngôi kể thứ nhất rất hay. Gọi tên biện pháp nhưng không nói tác dụng. Người kể là bác Ba, người chứng kiến từ đầu đến cuối, nên tiếng thét gọi cha của cô bé đến với ta qua nỗi xúc động của chính người trong cuộc.
Hê-minh-uê sinh năm 1899, từng lái xe cứu thương, từng sống ở Pa-ri, đoạt giải Nô-ben… (cả đoạn mở bài) Mở bài thành tiểu sử, chưa có nhận định về truyện. Giữ một câu về tác giả, dành chỗ cho ý kiến khái quát: truyện nói gì và nói bằng cách nào.
Đoạn trích ca ngợi Lục Vân Tiên là người anh hùng dũng cảm, trọng nghĩa. (và dừng ở đó) Phân tích truyện thơ mà bỏ quên chất thơ: nhịp, từ ngữ, câu lục bát, lời thoại. Thêm phân tích hình thức: ba động từ dồn trong hai dòng thơ, lời ngăn đúng lễ của nhân vật, bút pháp tương phản.
Đặt trong ngoặc kép một câu nhớ mang máng. Trích sai làm mất điểm và sai lệch tác phẩm. Không chắc từng chữ thì kể lại ý bằng lời mình và bỏ ngoặc kép; dòng thơ dẫn nguyên văn thì chép đúng từng chữ.
Truyện để lại nhiều suy nghĩ cho người đọc. (câu kết) Kết chung chung, áp vào truyện nào cũng được. Gọi tên một điều cụ thể: một chi tiết, một hình ảnh, một thay đổi trong cách nghĩ của em.
  • Trước khi viết, gạch ba cột trên nháp: sự việc hay chi tiết – nét nghệ thuật – nó giúp ta hiểu gì. Những dòng nào điền đủ ba cột mới đưa vào bài.
  • Với truyện truyền kì, đừng chỉ liệt kê yếu tố kì ảo; hãy hỏi vì sao nhà văn cần phép lạ ở đúng chỗ ấy.
  • Với truyện thơ Nôm, mỗi đoạn thân bài nên có ít nhất một câu thơ được phân tích tới từng chữ.
  • Bài 45 phút nên gói trong năm đoạn (mở, ba đoạn thân, kết); chọn hai nét nghệ thuật là đủ, viết kĩ hơn là viết nhiều.
  • Muốn bài có dấu ấn riêng, hãy chọn một trục xuyên suốt: một đồ vật, một câu hỏi, những lần nhân vật lên tiếng.

Gợi ý bài nói: thảo luận một vấn đề gợi ra từ truyện đã đọc

Mục Nói và nghe cùng Bài học ở hai bộ Kết nối tri thức và Cánh diều đều là thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống; sách Kết nối tri thức nói rõ vấn đề ấy được gợi ra từ tác phẩm văn học. Bài phân tích truyện em vừa viết chính là chỗ xuất phát tốt.

  • Chọn một vấn đề gần với tuổi học trò mà truyện gợi ra: không gian vui chơi của trẻ em (Những con cá cờ), cách đối diện với nỗi sợ và lỗi lầm (Người thứ bảy), chuyện nghe nhau trong gia đình (Chuyện người con gái Nam Xương).
  • Mở lời bằng chi tiết truyện trong một hai câu, rồi chuyển ngay sang câu hỏi cho cả nhóm; không kể lại truyện.
  • Chuẩn bị hai ba ý kiến của riêng em, mỗi ý kèm một ví dụ đời thường; đoán trước ý kiến trái chiều để đáp lại.
  • Khi bạn khác nói, ghi lại ý chính, hỏi lại chỗ chưa rõ; cuối buổi tóm tắt những điểm cả nhóm đồng tình.

Lời mở đầu tham khảo: Các bạn còn nhớ cậu bé Quang trong truyện Những con cá cờ không? Cậu thả lũ cá ra Hồ Tây vì không chịu được cảnh chúng bơi mãi trong một cái bể đen. Hôm nay nhóm mình thử bàn một câu hỏi gần hơn: sau giờ học, bọn mình có thật sự có chỗ để chơi không, hay cũng đang bơi vòng quanh trong một cái bể khác?

Nên đọc mẫu nào trước?

Học sách Cánh diều, em nên đọc mẫu 1 (Làng) và mẫu 6 (Ông lão bên chiếc cầu) vì đó đúng là hai đề trong sách, sau đó đọc mẫu 2 và mẫu 3 về hai truyện khác của Bài 4. Nếu lớp em dùng bộ Chân trời sáng tạo, hãy bắt đầu với mẫu 9 và mẫu 10 cùng dàn ý gợi ý ở trên, vì đề yêu cầu phân tích một đoạn trích truyện thơ. Với bộ Kết nối tri thức, em được chọn rộng hơn: mẫu 8 và mẫu 11 cho truyện truyền kì, mẫu 4 cho truyện hiện đại, mẫu 7 cho kiểu bài có đoạn so sánh. Cần luyện viết nhanh thì đọc mẫu 5; cần một bài dài để học cách triển khai luận điểm thì đọc mẫu 1, mẫu 8 và mẫu 10.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet