Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là bài Viết của Bài 5 Nghị luận xã hội trong Ngữ văn 8 Cánh diều (Tập 1). Trang này nói rõ kiểu bài khác gì với nghị luận về một vấn đề đời sống, đưa ra dàn ý, 10 bài văn mẫu đi từ 10 tác phẩm khác nhau (Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta, Sống chết mặc bay, Bức tranh của em gái tôi, Hai cây phong, Cốm của Thạch Lam…), lỗi hay gặp và gợi ý cho phần Nói và nghe. Chi tiết của các tác phẩm đã đối chiếu với văn bản và tài liệu công khai; còn chuyện về người hàng xóm, bạn cùng lớp mà các bài kể lại đều được người viết dựng lên để minh họa, không phải chuyện có thật.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Điểm riêng của kiểu bài nằm ngay trong tên đề: vấn đề phải được nảy ra từ một tác phẩm, nhưng thứ em bàn là đời sống. Tác phẩm là điểm tựa, là nơi vấn đề hiện lên rõ nhất; còn phần lớn bài viết dành cho lí lẽ và dẫn chứng ngoài đời. Nếu viết dài về nghệ thuật kể chuyện, về cách xây dựng nhân vật, bài sẽ trượt sang phân tích văn học. Nếu chỉ nhắc tên tác phẩm cho có rồi bàn chuyện khác, bài lại thành nghị luận về một vấn đề đời sống thông thường.
Bài viết đạt yêu cầu khi:
- Nêu được vấn đề bằng một cụm từ rõ ràng (thói vô cảm, lòng đố kị, trò đùa ác…) và cho thấy vấn đề ấy thật sự có trong tác phẩm, qua một vài chi tiết đúng.
- Tóm lược tác phẩm hoặc chi tiết then chốt thật gọn, thường trong một đoạn; chi tiết nào nhắc đến cũng phải đúng với văn bản.
- Nói rõ ý kiến của người viết: tán thành, phản đối, hay tán thành có điều kiện.
- Mở rộng ra đời sống hôm nay bằng lí lẽ và những bằng chứng có địa chỉ: việc em chứng kiến, một tình huống được nói rõ là giả định, hoặc sự kiện thật có nguồn đáng tin.
- Có phần bàn thêm: một ý kiến trái chiều, một cách hiểu sai, hay giới hạn của vấn đề.
- Các đoạn nối với nhau bằng câu chuyển đoạn, nhất là chỗ chuyển từ tác phẩm sang đời sống.
| Kiểu bài | Bắt đầu từ đâu | Tác phẩm giữ vai trò gì |
|---|---|---|
| Nghị luận về một vấn đề đời sống | Một hiện tượng đang diễn ra quanh ta | Có thể có hoặc không, nếu có chỉ là một dẫn chứng |
| Phân tích một tác phẩm | Văn bản | Là đối tượng chính: nội dung và nghệ thuật |
| Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm | Một chi tiết, một nhân vật, một tình huống trong tác phẩm | Là nơi khơi ra vấn đề; chiếm khoảng một phần tư đến một phần ba bài |
Vị trí trong sách: Ngữ văn 8 Cánh diều, Tập 1, Bài 5, phần Viết. Các văn bản đọc trong bài đều nêu một vấn đề xã hội: Hịch tướng sĩ bàn về thái độ của tướng sĩ trước họa xâm lăng, Nước Đại Việt ta khẳng định nền độc lập và văn hiến, Chiếu dời đô nói lí do dời đô về Thăng Long, Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? hỏi làm sao để đất nước trường tồn. Đề thực hành ở trang 124 yêu cầu dựa vào những văn bản đã đọc để nêu suy nghĩ về những biểu hiện của tình yêu Tổ quốc (mẫu 1 và mẫu 2 dưới đây đi từ hai văn bản của bài này). Phần rèn kĩ năng của sách tập trung vào ba loại câu giúp bày tỏ thái độ: câu khẳng định, câu phủ định, câu cảm. Ở lớp 8, đề này chỉ có trong bộ Cánh diều; học sinh dùng sách khác vẫn có thể luyện qua các mẫu để chuẩn bị cho kiểu bài cùng tên ở lớp trên.
Dàn ý bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
1. Mở bài
– Đi vào bằng một trong hai đường: từ một chi tiết của tác phẩm, hoặc từ một chuyện ngoài đời rồi nối sang tác phẩm.
– Nêu vấn đề xã hội cần bàn và ý kiến khái quát của em.
2. Thân bài
a. Vấn đề trong tác phẩm (một đoạn)
+ Tóm lược tác phẩm hoặc chi tiết làm điểm tựa.
+ Chỉ ra vấn đề hiện lên ở đâu, qua nhân vật hay hành động nào.
b. Bàn về vấn đề trong đời sống (phần trọng tâm)
+ Giải thích vấn đề, phân biệt với những điều dễ nhầm.
+ Biểu hiện hôm nay: dẫn chứng từ quan sát, trải nghiệm.
+ Nguyên nhân, tác hại hoặc ý nghĩa: ý nào cũng cần lí lẽ và một bằng chứng.
+ Bàn thêm: phản bác một ý kiến trái chiều hoặc chỉ ra cách hiểu sai.
c. Giải pháp, việc nên làm (với bản thân, gia đình, nhà trường…)
3. Kết bài
– Nhắc lại ý nghĩa của vấn đề, có thể quay lại chi tiết trong tác phẩm.
– Một suy nghĩ hoặc việc làm cụ thể của em.
Cách tìm vấn đề từ một tác phẩm: hỏi lần lượt ba câu. Nhân vật làm điều gì đáng khen hay đáng trách? Điều ấy có xảy ra quanh em không? Gọi tên nó bằng một cụm từ như thế nào? Ví dụ: quan phụ mẫu đánh bài khi đê vỡ, quanh ta có người đứng quay video khi người khác gặp nạn, vấn đề là thói vô cảm.
Vấn đề đặt ra từ văn bản nghị luận trong Bài 5
Mẫu 1: Từ Hịch tướng sĩ, bàn về những thú vui vô bổ lôi kéo người trẻ
Mùa hè năm ngoái, anh Toại ở cuối ngõ nhà tôi bán chiếc xe máy mà bố mẹ anh mua cho hôm anh đỗ đại học. Cả xóm chỉ biết anh cần tiền gấp. Mãi về sau mới vỡ lẽ: anh nợ một khoản lớn vì cá độ bóng đá qua một ứng dụng trên điện thoại, bắt đầu từ những lần đặt vài chục nghìn cho vui. Câu chuyện ấy cứ trở lại trong đầu tôi khi học Hịch tướng sĩ, bởi hơn bảy trăm năm trước, Trần Quốc Tuấn cũng đã phải lên tiếng trước những trò tiêu khiển tưởng như vô hại.
Khoảng năm 1284, quân Mông – Nguyên đang chuẩn bị đánh nước ta một lần nữa. Sứ giặc hống hách trên đất nước mình, vậy mà một bộ phận tướng sĩ vẫn sống như thời bình. Trần Quốc Tuấn viết bài hịch để thức tỉnh họ. Điều làm tôi chú ý là ông không trách chung chung mà gọi tên từng thú vui: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, rượu ngon, tiếng hát. Ông trách họ “nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn”. Rồi ông chỉ ra một lẽ rất giản dị: khi giặc đến, cựa gà không đâm thủng được áo giáp, mẹo cờ bạc không thay được mưu lược nhà binh. Những thú vui ấy không giết ai ngay; chúng chỉ lặng lẽ lấy đi thời gian, của cải và ý chí, cho đến lúc cần dùng thì không còn gì.
Vấn đề mà bài hịch đặt ra chưa hề cũ; nó chỉ khoác một bộ áo khác. Thú vui vô bổ của người trẻ hôm nay ít khi là con gà chọi; nó nằm gọn trong chiếc điện thoại: trang cá độ, trò chơi phải nạp tiền mới qua màn, những vòng quay trúng thưởng. Cần nói cho công bằng: giải trí không có lỗi. Một trận bóng xem cùng bạn bè, một ván cờ sau giờ học là điều tốt. Thú vui trở thành vô bổ khi nó chiếm chỗ của việc chính, khi nó đòi thêm tiền, thêm giờ, và khi người chơi không còn tự dừng lại được.
Vì sao những trò ấy dễ lôi kéo người trẻ đến vậy? Trước hết vì chúng ở quá gần, chỉ cách một cái chạm tay. Thứ hai, chúng thường cho người chơi thắng nhỏ lúc đầu. Anh Toại kể lần đầu anh thắng gấp đôi số tiền bỏ ra, và chính cảm giác ấy kéo anh vào lần thứ hai, thứ mười. Thứ ba, khi đã thua, người ta lại muốn gỡ, càng gỡ càng lún sâu. Lại còn lời rủ rê của bạn bè.
Hậu quả không dừng ở chuyện mất tiền. Người sa vào trò đỏ đen bỏ bê học hành, nói dối gia đình, vay mượn khắp nơi, có khi bước sang con đường vi phạm pháp luật. Trò chơi điện tử nạp tiền nhẹ hơn nhưng cũng ăn mòn giấc ngủ, sức khỏe và sự tập trung. Đau nhất là niềm tin: bố mẹ anh Toại đến giờ vẫn giữ chìa khóa tủ, dù anh đã thôi chơi gần một năm.
Có người sẽ nói: tiền của tôi, thời gian của tôi, tôi muốn tiêu thế nào là quyền của tôi. Trần Quốc Tuấn đã trả lời ý kiến ấy từ xưa. Ông nhắc tướng sĩ rằng khi nước mất thì thái ấp của chủ, bổng lộc của tướng, gia đình của họ cũng không còn. Không ai sống một mình. Người trẻ tiêu tuổi hai mươi vào màn hình cá độ sẽ kéo theo cả cha mẹ, anh em. Đối lập với tướng sĩ mải chơi là hình ảnh người chủ soái: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”. Ông không bắt ai sống khổ hạnh, chỉ muốn họ biết điều gì đáng lo.
Vậy người trẻ nên làm gì? Tự đặt giới hạn cho thời gian giải trí và giữ đúng giới hạn ấy. Không tải những ứng dụng có đặt tiền, dù là thử cho biết. Khi lỡ sa vào, hãy nói với người lớn càng sớm càng tốt, vì món nợ để lâu chỉ lớn thêm. Và khi thấy bạn mình bắt đầu mê một trò đỏ đen, đừng im lặng.
Anh Toại bây giờ đi làm ca ở một xưởng in, tối nào cũng đi bộ quanh hồ thay vì cầm điện thoại. Anh bảo giá như hồi ấy có ai nói thẳng với anh sớm hơn. Bài hịch của Trần Quốc Tuấn, xét cho cùng, cũng là một lời nói thẳng như thế, chỉ có điều nó được viết ra từ trước khi quá muộn.
Mẫu 2: Từ Nước Đại Việt ta, phản bác ý kiến cho rằng yêu nước là phải chửi đội bạn
Sau một trận bóng đá căng thẳng giữa đội tuyển nước ta và một đội láng giềng, tôi đọc được một bình luận có hàng nghìn lượt thích: đã yêu nước thì phải vào trang cá nhân của cầu thủ đội bạn mà chửi cho họ biết mặt. Tôi không đồng tình. Và tôi muốn dùng chính một văn bản vừa học, đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi, để trả lời ý kiến ấy.
Đoạn trích mở đầu Bình Ngô đại cáo, viết đầu năm 1428 khi cuộc kháng chiến chống quân Minh vừa thắng lợi. Đó là một lời tự hào rất lớn. Nhưng hãy xem Nguyễn Trãi tự hào bằng gì. Ông nói nước ta “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, có núi sông bờ cõi riêng, phong tục riêng; các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần cùng với Hán, Đường, Tống, Nguyên “mỗi bên xưng đế một phương”. Ông đặt Đại Việt ngang hàng với phương Bắc. Khi nhắc đến những kẻ xâm lược thất bại, ông nêu chúng như bằng chứng lịch sử, không phải để chửi rủa cả một dân tộc. Niềm tự hào ấy đứng trên những gì ta có, chứ không đứng trên việc hạ thấp người khác.
Từ đó có thể thấy ý kiến cho rằng yêu nước là phải chửi đội bạn sai ở ba chỗ.
Thứ nhất, lăng mạ không làm đội tuyển mạnh lên. Cầu thủ của ta không chạy nhanh hơn chỉ vì cầu thủ đối phương phải đọc hàng trăm lời xúc phạm. Trái lại, những dòng chửi bới ấy được chụp lại, lan đi, và người nước ngoài sẽ nghĩ về người Việt qua chính những dòng đó. Một dân tộc tự hào về nền văn hiến lâu đời mà lại để con cháu nói năng như thế thì thật đáng buồn!
Thứ hai, tự hào thật sự luôn đi cùng sự tỉnh táo. Nguyễn Trãi không hề nói nước ta lúc nào cũng mạnh. Ông thừa nhận sức mạnh của mỗi thời một khác, rồi mới khẳng định “hào kiệt đời nào cũng có”. Một người hâm mộ tỉnh táo cũng vậy: biết vui khi đội nhà thắng, biết nhận ra đội nhà chơi kém khi thua, và biết khen một bàn thắng đẹp của đối phương. Khen đối thủ không làm ai bớt yêu nước.
Thứ ba, chẳng ai có quyền nhân danh Tổ quốc để xúc phạm người khác. Có người cãi rằng bên kia chửi mình trước. Nhưng đáp lại lời thô tục bằng lời thô tục hơn chỉ là bắt chước đúng điều mình chê. Ta có thể phản bác bằng lí lẽ, báo cáo những bình luận xấu, hoặc đơn giản là không tham gia.
Đề bài trong sách hỏi về những biểu hiện của tình yêu Tổ quốc. Tôi nghĩ một biểu hiện rất gần với tuổi chúng tôi là biết tự hào một cách có hiểu biết: hiểu đất nước mình đáng quý ở đâu, và giữ cho hình ảnh ấy không bị chính mình làm vấy bẩn. Tôi đã không bấm thích bình luận kia. Tôi viết bên dưới một dòng ngắn: thua trận này thì tập để thắng trận sau, còn văn hiến thì không ai được thua.
Vấn đề đặt ra từ truyện ngắn, tùy bút
Mẫu 3: Từ Sống chết mặc bay, bàn về thói vô cảm trước hoạn nạn của người khác
Sáng thứ bảy, bác Thược bán xôi ở đầu chợ bị một chiếc xe máy phóng nhanh quệt ngã. Nồi xôi đổ tung ra đường, bác ngồi ôm cổ chân, mặt tái đi. Tôi đứng cách đó chừng mười mét và thấy một cảnh khiến tôi xấu hổ thay: vòng người quanh bác mỗi lúc một đông, nhưng phần lớn chỉ giơ điện thoại lên quay. Phải đến khi chú bán hoa quả bên cạnh chạy sang đỡ bác vào hiên, gọi người nhà bác, đám đông mới tản dần.
Cảnh ấy làm tôi nhớ truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, in trên tạp chí Nam Phong năm 1918. Đêm mưa, đê sông Nhị Hà rỉ nước nhiều chỗ, hàng trăm dân phu lội bùn giữ đê, người nào cũng ướt sũng và rã rời. Trong khi ấy, ở ngôi đình cao ráo, quan phụ mẫu ngồi giữa kẻ hầu người hạ, mải mê ván tổ tôm. Người vào báo tin đê sắp vỡ bị quát đuổi ra. Đúng lúc quan ù to, reo lên khoái chí, thì nước tràn khắp vùng. Tên truyện mượn nửa đầu một câu tục ngữ nói về kẻ mặc kệ sống chết của người khác, miễn là mình được lợi.
Vấn đề mà truyện đặt ra là thói vô cảm trước hoạn nạn của con người. Quan phụ mẫu vô cảm vì quyền lực và lòng ích kỉ của một viên quan. Còn những người đứng quanh bác Thược không có quyền hành gì, cũng chẳng được lợi gì. Vậy vì sao họ vẫn đứng nhìn? Tôi nghĩ có mấy lí do. Ai cũng tưởng sẽ có người khác ra tay, nên rốt cuộc không ai ra tay. Nhiều người sợ phiền, sợ bị liên lụy. Và đáng lo nhất là thói quen biến mọi chuyện thành một thứ để xem, để đăng, để bình luận, như thể người bị nạn chỉ là nhân vật trong một đoạn phim.
Thói quen ấy gây hại nhiều hơn ta tưởng. Với người gặp nạn, những phút đầu là lúc cần giúp nhất, và mỗi phút đứng nhìn là một phút bị mất. Họ còn bị phơi ra trước bao nhiêu người đúng lúc đau đớn, lúng túng nhất. Với người đứng xem, lòng trắc ẩn mòn dần đi qua từng lần như vậy. Còn với cả khu phố, nếu ai cũng nghĩ sẽ có người khác lo, thì đến lượt mình gặp chuyện, mình cũng chỉ nhận lại những chiếc điện thoại giơ lên.
Cũng cần nói rõ: giúp đỡ không có nghĩa là liều lĩnh. Không phải ai cũng biết sơ cứu, và với người bị thương nặng, tự ý khiêng đi có khi còn nguy hiểm hơn. Nhưng việc có thể làm thì nhiều: gọi cấp cứu, báo cho người nhà, dựng chiếc xe đổ, đứng chắn để xe khác đi chậm lại, nhặt giúp đồ đạc rơi vãi. Ghi hình chỉ có ích khi dùng làm bằng chứng gửi cho cơ quan chức năng, không phải để đăng lên mạng kèm một lời bình.
Phạm Duy Tốn viết về một viên quan sống cách đây hơn một trăm năm. Thứ khiến người ta mặc kệ sống chết của người khác khi ấy là ván bài và túi tiền; bây giờ, có khi chỉ là vài lượt xem. Lần sau, nếu đứng trong một vòng người như sáng hôm ấy, tôi muốn mình là người bước ra trước, chứ không phải người giơ máy lên trước.
Mẫu 4: Từ Bức tranh của em gái tôi, nghĩ về lòng đố kị với thành công của người thân
Trong truyện Bức tranh của em gái tôi của Tạ Duy Anh, có một khoảnh khắc tôi đọc đi đọc lại: ở phòng trưng bày, người anh nhìn bức tranh được giải nhất của em gái và nhận ra cậu bé trong tranh chính là mình, với vẻ mặt sáng sủa mà cậu chưa bao giờ nghĩ mình có. Cậu sững sờ, rồi tự hào, rồi thấy mình thật đáng xấu hổ. Xấu hổ vì suốt thời gian em gái được người lớn khen ngợi, cậu chỉ thấy mình bị bỏ rơi, hay gắt gỏng với em, còn em thì vẫn nhìn anh bằng con mắt trìu mến nhất.
Truyện chạm vào một vấn đề ít ai muốn thừa nhận: lòng đố kị khi người thân, bạn bè thành công. Đố kị khác với ganh đua. Ganh đua là muốn mình giỏi lên để bằng người. Đố kị là không vui nổi khi người khác vui, thậm chí mong họ kém đi. Đáng sợ ở chỗ nó hay nhắm vào người gần mình nhất, vì người gần nhất là người ta hay đem ra so sánh nhất.
Tôi biết điều đó vì tôi từng như vậy. Mộc Miên là bạn thân của tôi từ hồi tiểu học. Năm lớp 7, Miên được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi Văn, còn tôi thì không. Hôm Miên khoe, tôi cười, nhưng về nhà không trả lời tin nhắn của bạn, rồi còn nói với một bạn khác rằng Miên được chọn chỉ vì hay viết theo ý cô. Giống cậu bé lén xem tranh em rồi thầm phục, tôi đã đọc bài của Miên dán ở bảng tin và biết nó hay thật.
Vì sao người ta đố kị? Có lẽ vì ai cũng sợ mất chỗ đứng của mình. Cậu anh trai kia thấy cả nhà xoay quanh em gái và cảm thấy mình thừa thãi. Tôi sợ Miên giỏi hơn thì sẽ không cần chơi với tôi nữa. Nhưng đố kị không mang lại cho mình thứ gì. Nó khiến mình khó chịu, làm rạn tình thân, và giữ chân mình đứng yên tại chỗ, vì thay vì học cái hay của người kia, mình lại bận tìm cái dở của họ.
Thoát ra không dễ, nhưng có thể bắt đầu từ ba việc. Gọi đúng tên cảm xúc: mình đang ghen tị, chứ không phải người kia đáng ghét. Đổi câu hỏi sao không phải mình thành câu hỏi mình học được gì từ bạn. Và nói ra một lời chúc mừng, dù hơi muộn. Kiều Phương đâu cần anh mình giỏi vẽ; em chỉ mong anh cùng đi nhận giải.
Tôi đã nhắn cho Miên một lời chúc mừng muộn ba tuần. Miên trả lời bằng một cái mặt cười, rồi hỏi tôi có muốn đọc bản nháp bài thi của bạn ấy không.
Mẫu 5: Từ Cuộc chia tay của những con búp bê, bàn về trẻ em khi gia đình tan vỡ
Lúc sắp lên xe theo mẹ, Thủy quay vào nhà, cho Em Nhỏ và Vệ Sĩ ngồi sát nhau, nhường cả đôi cho Thành và đòi anh hứa giữ chúng mãi cạnh nhau. Hai con búp bê được ở cùng nhau; còn Thành và Thủy thì mỗi người một ngả. Chi tiết nhỏ ấy ở cuối truyện ngắn của Khánh Hoài khiến tôi phải dừng lại, vì nó đặt ra một câu hỏi lớn: khi gia đình tan vỡ, trẻ em phải gánh chịu những gì, và người lớn nên làm gì cho các em.
Truyện kể về ngày bố mẹ Thành và Thủy chia tay. Mẹ giục hai anh em chia đồ chơi, vì hai đứa sắp phải sống ở hai nơi. Thủy đến trường chào cô giáo và các bạn, cho biết mình sẽ theo mẹ về quê, từ nay không được đến lớp nữa mà ra chợ ngồi bán hoa quả. Nghe vậy, cô giáo không cầm được nước mắt, các bạn trong lớp cũng khóc theo. Năm 1992, truyện đoạt giải Nhì ở một cuộc thi sáng tác lấy quyền trẻ em làm chủ đề. Điều đó cho thấy câu chuyện được nhìn từ phía những đứa trẻ, từ những quyền mà các em đáng được hưởng.
Khi bố mẹ chia tay, trẻ em mất nhiều hơn một mái nhà chung. Các em mất những điều nhỏ bé mà quen thuộc: người anh chiều nào cũng chờ ở cổng trường, chiếc áo được em gái khâu lại, ngôi trường và lớp học. Thủy mất cả quyền được đi học. Không đứa trẻ nào gây ra cuộc chia tay, nhưng chính các em lại thường mang phần nặng nhất, mà không có tiếng nói nào trong quyết định ấy.
Thanh Trà, một bạn cùng lớp tôi, từng trải qua chuyện này năm lớp 6. Trà không phải chuyển trường, nhưng suốt hai tháng liền bạn ấy gần như không nói chuyện với ai. Sau này Trà kể điều làm bạn buồn nhất không phải chuyện bố mẹ không còn ở cùng nhau, mà là cả hai đều hỏi Trà muốn ở với ai, như bắt Trà phải chọn một người và bỏ một người.
Vậy người lớn nên làm gì? Theo tôi, trước hết là nói thật với con, bằng những lời con hiểu được, và cho con biết rằng con không có lỗi. Thứ hai, giữ lại những gì còn giữ được: trường lớp, bạn bè, những buổi anh chị em được gặp nhau. Thứ ba, đừng biến con thành người đưa tin giữa hai bên, đừng bắt con chọn phe, đừng nói xấu nhau trước mặt con. Thầy cô và hàng xóm cũng có phần việc của mình: để ý đến đứa trẻ, hỏi han nhẹ nhàng, chứ không tò mò bàn tán.
Có người cho rằng chuyện gia đình là chuyện riêng, người ngoài không nên bàn. Đúng là quyết định chia tay thuộc về bố mẹ. Nhưng khi một đứa trẻ phải bỏ học như Thủy, hay phải gặm nhấm nỗi buồn một mình như Trà, thì đó không còn là chuyện riêng của một nhà nữa.
Thủy đã làm được điều mà người lớn trong truyện không làm được: giữ cho hai con búp bê ở cạnh nhau. Nếu buộc phải chia tay, mong các ông bố bà mẹ cũng cố giữ cho những gì thân thiết nhất của con được ở bên con.
Mẫu 6: Từ Hai cây phong, nghĩ về người thầy gieo ước mơ cho học sinh vùng khó
Trong Hai cây phong của Ai-ma-tốp, có cảnh lũ trẻ làng Ku-ku-rêu mỗi dịp nghỉ hè lại leo lên những cành cao của hai cây phong trên đồi. Từ trên ấy, chúng thấy thảo nguyên trải ra tít tắp, con sông sáng loáng dưới nắng, và cả những vùng đất xa mà chúng chưa từng đến. Phải rất lâu sau, người kể chuyện mới biết ai đã trồng hai cây phong: thầy Đuy-sen, người thầy đầu tiên của làng, đã trồng chúng cùng cô học trò mồ côi An-tư-nai.
Văn bản là phần đầu truyện Người thầy đầu tiên. Thầy Đuy-sen che chở cho cô bé mồ côi bị hắt hủi ấy, cho em đến lớp, và nhiều năm sau, An-tư-nai trở thành một viện sĩ. Từ hai cây phong, truyện gợi ra một vấn đề xã hội vẫn còn nguyên giá trị: vai trò của người thầy trong việc gieo ước mơ cho trẻ em ở những nơi khó khăn.
Tôi hiểu điều ấy bằng chính tuổi thơ của mình. Hai năm đầu tiểu học, tôi học ở điểm trường trong bản, cách trường chính một con dốc dài. Cô Sầm Thị Nhài dạy ghép hai lớp trong cùng một phòng, nửa này lớp Một, nửa kia lớp Hai. Cô treo lên vách một tấm bản đồ đã bạc màu và chỉ cho chúng tôi đâu là Hà Nội, đâu là biển. Trưa nào mưa to, cô nấu cháo cho những đứa nhà xa. Cô không nói nhiều về ước mơ, nhưng chính tấm bản đồ ấy khiến lần đầu tiên tôi muốn đi xa hơn con dốc.
Vì sao học sinh vùng khó cần những người thầy như thế? Bởi một đứa trẻ khó mà mơ về điều nó chưa từng thấy. Đường đến trường xa, việc nhà việc nương nhiều, có gia đình còn chưa coi trọng chuyện học. Người thầy giống như cây phong cao trên đồi: cho học trò đứng lên mà nhìn qua khỏi ngọn đồi trước mặt. Một câu khen đúng lúc, một cuốn sách cho mượn, một lần đến tận nhà xin cho trò đi học tiếp, có khi đổi được cả một đời người.
Nhưng ước mơ không lớn lên chỉ nhờ lời động viên. Học sinh vùng khó còn cần con đường đi được trong mùa mưa, bữa trưa đủ no, sách vở, phòng học không dột. Người thầy cũng cần được chia sẻ bớt gánh nặng, chứ không thể một mình vừa dạy, vừa nấu ăn, vừa đi vận động. Có người bảo trẻ vùng cao học xong rồi cũng về làm nương. Tôi không nghĩ vậy. Học không chỉ để rời bản. Người có chữ trở về làm nương cũng sẽ làm khác: biết chọn giống, biết tính toán, biết dạy lại con mình.
Thầy Đuy-sen đã già, nhưng hai cây phong vẫn đứng trên đồi cho lũ trẻ trèo lên. Tôi nghĩ cô Nhài cũng đã trồng những cây như thế. Có điều, cây của cô không mọc trên đồi, mà mọc trong mắt những đứa học trò từng đứng trước tấm bản đồ bạc màu.
Mẫu 7: Từ Một thứ quà của lúa non: Cốm, bàn về việc giữ nét đẹp ẩm thực truyền thống
Năm nào cũng vậy, cứ khi gió heo may vừa về, bà Nhót lại gánh cốm đi qua ngõ nhà tôi, hai chiếc thúng phủ lá sen. Bà không rao to. Khách quen nhận ra bà qua tiếng đòn gánh kẽo kẹt. Cầm gói cốm bà gói trong lá sen, buộc bằng sợi lạt mỏng, tôi mới hiểu vì sao Thạch Lam có thể viết hẳn một bài tùy bút về thứ quà nhỏ bé này.
Một thứ quà của lúa non: Cốm, in trong tập Hà Nội băm sáu phố phường năm 1943, đi từ hương lúa non trên cánh đồng đến cốm làng Vòng, rồi chuyện hồng và cốm đi đôi với nhau trong lễ sêu Tết. Đoạn tôi nhớ nhất là khi nhà văn dặn người đọc cách thưởng thức: ăn ít thôi, ăn chậm, vừa ăn vừa nghĩ; còn khi mua thì cầm gói cốm cho khẽ, như cầm một thứ trời đất ban cho, đã qua bao bàn tay người làm.
Từ bài tùy bút, tôi nghĩ đến chuyện giữ gìn nét đẹp của ẩm thực truyền thống. Nét đẹp ấy không chỉ ở món ăn. Nó ở cách làm, như hạt lúa non phải rang, giã đúng độ; ở cách gói, như tàu lá sen giữ hương và giữ hơi ẩm; và ở cách ăn, chậm rãi để cảm nhận.
Quanh tôi, cách ăn ấy đang thưa dần. Nhiều bạn cùng lớp chỉ quen đồ ăn nhanh, ăn vội trên đường đến lớp, hay vừa ăn vừa lướt điện thoại. Tôi cũng từng ăn hết một gói cốm trong lúc xem phim mà chẳng nhớ nó thơm thế nào. Ăn như thế, món gì cũng chỉ còn là thứ để no.
Giữ nét đẹp truyền thống không có nghĩa là quay lưng với món mới. Một cốc trà sữa không có tội gì. Điều đáng giữ là sự trân trọng: biết món mình ăn từ đâu ra, ai làm ra nó, và dành cho nó một chút thời gian. Có thể bắt đầu bằng những việc nhỏ: cất điện thoại trong bữa cơm, hỏi bà cách làm một món quê, mua cốm của những người như bà Nhót.
Chiều qua, mẹ mua một gói cốm. Tôi mở lá sen thật chậm, ăn từng nhúm nhỏ, và lần đầu tiên nhận ra vị ngọt của cốm đến sau mùi thơm. Hóa ra cách ăn chậm mà Thạch Lam khuyên không hề khó, chỉ cần mình chịu dừng lại một chút.
Mẫu 8: Từ Bài học đường đời đầu tiên, cảnh báo những trò đùa ác
Giờ ra chơi tuần trước, Khắc Huy ở lớp bên rút chiếc ghế khi một bạn sắp ngồi xuống, để quay một đoạn clip đăng lên nhóm chat. Bạn ấy ngã ngửa, đầu đập vào cạnh bàn, phải đưa lên phòng y tế. Khi bị cô giáo gọi lên, Huy chỉ nói một câu: em đùa thôi mà.
Câu nói ấy làm tôi nhớ đến Dế Mèn trong Bài học đường đời đầu tiên, trích từ Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài. Mèn cường tráng, kiêu căng, coi thường anh hàng xóm Dế Choắt ốm yếu. Một chiều, Mèn cất giọng hát chế nhạo chị Cốc đang đứng kiếm mồi gần đó, rồi lủi ngay vào hang sâu. Chị Cốc tức giận, tưởng Choắt là kẻ trêu mình, liền mổ Choắt trọng thương. Mèn không định hại ai, cũng như Huy không định làm bạn mình chảy máu. Nhưng hậu quả của trò đùa lại rơi vào người không có lỗi.
Vấn đề mà câu chuyện đặt ra là những trò đùa ác, những lời trêu chọc gây hậu quả mà người bày trò không lường trước. Ranh giới giữa đùa vui và đùa ác thật ra khá rõ. Đùa vui là khi cả hai cùng cười. Đùa ác là khi một người cười trên nỗi sợ, nỗi đau hay sự xấu hổ của người khác.
Vì sao những trò như vậy vẫn xảy ra? Một phần vì người ta muốn tỏ ra hay ho trước đám đông; Mèn trêu chị Cốc cũng để chứng tỏ mình chẳng sợ ai. Một phần vì những đoạn clip gây cười dễ được chia sẻ, khiến người làm thích thú. Và phần lớn vì người bày trò không chịu nghĩ đến bước tiếp theo.
Cái giá của trò đùa ác có thể rất đắt: một vết thương trên đầu, một đoạn clip khiến bạn bị chế giễu suốt nhiều tuần, một nỗi sợ khiến bạn ngại đến lớp. Người bày trò cũng mất lòng tin của bạn bè, có khi phải chịu kỉ luật. Điều đáng nói là người bày trò thường đứng ở chỗ an toàn, như Mèn nằm im trong hang, còn người chịu đòn lại ở ngoài.
Có người bảo đừng làm to chuyện, tuổi học trò ai mà chẳng đùa. Đùa thì được, nhưng gắn chữ đùa vào một hành động gây đau không làm nó bớt nguy hiểm đi. Dế Mèn cũng chỉ định đùa, và Dế Choắt đã không qua khỏi.
Trước khi nhắm mắt, Choắt chỉ kịp dặn Mèn bỏ cái tính hung hăng, làm gì cũng phải nghĩ trước. Lời dặn ấy dành cho cả chúng ta. Trước khi bày một trò đùa, hãy nhìn xem người kia có cười cùng mình hay không.
Bài ngắn từ truyện cổ tích, ngụ ngôn
Mẫu 9: Từ Ông lão đánh cá và con cá vàng, bàn về lòng tham (bài ngắn)
Truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng do Pu-skin kể lại đặt ra một vấn đề không bao giờ cũ: lòng tham khiến con người muốn mãi mà không thấy đủ.
Kéo lưới được con cá vàng, ông lão nghèo động lòng trả nó về với nước, không đòi một thứ gì. Mụ vợ thì khác. Lần đầu, mụ chỉ đòi một cái máng lợn mới, điều có thể thông cảm với một nhà nghèo. Nhưng máng có rồi, mụ lại muốn một ngôi nhà; nhà có rồi, mụ đòi làm nhất phẩm phu nhân; làm phu nhân chưa bao lâu, mụ lại muốn được làm nữ hoàng. Cuối cùng, mụ muốn thành Long Vương để chính con cá vàng phải hầu hạ mình. Mỗi lần ông lão ra biển, sóng lại dữ dội hơn. Lần cuối, cá vàng không đáp lời mà lặn mất, và về đến nhà, ông lão chỉ thấy vợ đang ngồi bên túp lều cũ, cạnh cái máng sứt ngày nào.
Mong muốn có cuộc sống khá hơn không phải là tham. Lòng tham bắt đầu khi người ta không biết dừng, khi cái có được hôm nay chỉ làm mình thèm thứ lớn hơn ngày mai. Nó đáng sợ hơn nữa khi mọi thứ đều đòi người khác làm thay. Mụ vợ chưa một lần tự ra biển; mụ đẩy chồng đi và coi người ban ơn cho mình như kẻ phải phục dịch mình.
Điều đáng chú ý là ông lão cũng góp phần vào bi kịch. Ông khổ sở, ngượng ngùng mỗi lần ra biển, nhưng lần nào cũng nghe theo vợ. Lòng tham của một người lớn lên được là nhờ sự nhắm mắt chiều theo của những người quanh họ.
Ngoài đời, lòng tham ít khi mặc áo nữ hoàng. Nó có thể là đòi bố mẹ đổi điện thoại mới khi chiếc cũ vẫn dùng tốt, chỉ vì bạn bè đều có loại mới hơn. Nó có thể là thói chiếm phần hơn của người khác trong một việc chung. Lớn hơn, nó khiến có người lấy cả của công làm của riêng. Điểm chung là người tham chẳng bao giờ thấy mình đã có nhiều.
Biết đủ không phải là thôi cố gắng. Đó là biết quý cái mình đang có, muốn điều gì thì tự tay làm ra, và biết nói không khi người khác đòi hỏi quá đáng. Túp lều và cái máng sứt ở cuối truyện không hẳn là hình phạt của cá vàng. Đó là chỗ lòng tham đưa người ta trở về.
Mẫu 10: Từ Đẽo cày giữa đường, bàn về thói thiếu chính kiến trên mạng (bài ngắn)
Hải Đường lớp tôi vẽ truyện tranh khá đẹp và đăng từng chương lên mạng. Chương đầu có người chê nét vẽ đơn giản quá, Đường liền vẽ lại thật cầu kì. Có người kêu truyện dài, Đường cắt bớt. Lại có người muốn nhân vật chính phải là con trai, Đường cũng đổi. Đến chương thứ tư thì Đường bỏ dở, bảo không còn nhận ra truyện của mình nữa.
Chuyện của Đường giống hệt truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường. Anh thợ mộc bỏ cả gia tài ra mua gỗ rồi ngồi đẽo cày ở vệ đường. Có người khuyên làm cày to cho dễ dùng, anh nghe ngay. Người khác chê to quá, anh lại đẽo cho thấp, cho nhỏ. Đến khi có người bày rằng vùng núi cày bằng voi, anh liền đẽo toàn những chiếc cày khổng lồ. Không một ai đến mua, cả đống gỗ thành đồ bỏ, bao nhiêu vốn đổ đi hết.
Truyện chỉ ra tác hại của thói thiếu chính kiến, và trên mạng, thói ấy càng dễ mắc. Lời góp ý đến nhanh, nhiều và trái ngược nhau. Người góp ý chỉ mất vài giây gõ phím, chẳng phải chịu trách nhiệm gì về kết quả. Ai cũng muốn được khen, nên cứ chiều theo từng người một, và cuối cùng chẳng làm vừa lòng ai. Tệ hơn, người làm mất dần niềm tin vào chính mình, đến mức không dám tự quyết một việc nhỏ nếu chưa hỏi ý kiến cả trăm người lạ.
Lắng nghe góp ý là tốt, nhưng lắng nghe khác với nghe theo. Trước hết phải biết mình làm việc này để làm gì. Sau đó lọc lời góp ý: người nói có hiểu việc không, họ có đưa ra lí do không, có nhiều người cùng chỉ ra một lỗi không. Lời nào hợp lí thì thử, thử rồi mới quyết. Còn những lời chỉ nói thích hay không thích, nghe để biết, không cần làm theo. Giữ chính kiến chẳng phải là bịt tai lại, mà là biết giữ chiếc cày của mình.
Tuần này Đường đã vẽ lại chương một theo ý ban đầu của mình. Trước khi sửa điều gì, bạn ấy dán lên bàn học một câu hỏi: chiếc cày này mình đẽo cho ai cày?
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
- Biến thành bài phân tích văn học. Viết ba bốn đoạn về nghệ thuật tương phản, cách xây dựng nhân vật rồi mới bàn đời sống ở đoạn cuối. Sửa: gói phần tác phẩm vào một đoạn, chỉ giữ những chi tiết làm hiện ra vấn đề.
- Vấn đề gượng ép, không có trong tác phẩm. Ví dụ: lấy Ông lão đánh cá và con cá vàng để bàn về bảo vệ môi trường biển. Sửa: vấn đề phải gắn với hành động, số phận của nhân vật; tự hỏi xem chi tiết nào trong truyện cho thấy điều mình định bàn.
- Nhớ sai chi tiết. Viết nhầm Dế Mèn bị chị Cốc mổ, hay Thủy ở lại với bố. Sửa: đọc lại văn bản hoặc bản tóm tắt trước khi viết; chi tiết nào không chắc thì không đưa vào.
- Bịa số liệu cho có vẻ thuyết phục. Câu kiểu theo thống kê, 80% học sinh… mà không có nguồn sẽ làm bài mất điểm. Sửa: dùng điều em quan sát được, hoặc nói rõ đó là tình huống giả định.
- Chỉ một chiều. Bài toàn lời phê phán hoặc toàn lời ca ngợi. Sửa: thêm một đoạn đối thoại với ý kiến khác (giải trí có tội gì, chuyện nhà là chuyện riêng…) và trả lời bằng lí lẽ.
- Kết bằng khẩu hiệu. Tất cả hãy cùng nhau chung tay… Sửa: khép bài bằng một việc em sẽ làm, hoặc quay lại chi tiết của tác phẩm, như mẫu 5 quay lại đôi búp bê, mẫu 9 quay lại cái máng sứt.
Mẹo nhỏ: câu quan trọng nhất của bài là câu chuyển từ tác phẩm sang đời sống. Hãy viết nó thật rõ, chẳng hạn: Quan phụ mẫu vô cảm vì quyền lực; còn những người đứng quanh bác Thược thì vì sao? Có câu bản lề này, người chấm thấy ngay em đang nghị luận xã hội chứ không phải phân tích truyện. Theo gợi ý của sách, hãy dùng xen vài câu khẳng định, phủ định dứt khoát và một câu cảm đặt đúng chỗ để bài có thái độ rõ ràng.
Gợi ý bài nói: thuyết trình và tóm tắt về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Phần Nói và nghe của Bài 5 yêu cầu nghe và tóm tắt nội dung bài thuyết trình về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học. Có thể dùng chính bài viết của em để thuyết trình, rồi đổi vai làm người nghe:
- Người nói: rút bài viết thành ba ý lớn; mở đầu bằng chi tiết gây chú ý nhất của tác phẩm, kể trong không quá một phút.
- Nói rõ từng ý bằng câu báo hiệu (ý thứ nhất…, vì sao lại như vậy?) để người nghe dễ ghi.
- Người nghe: ghi theo bốn ô: vấn đề, ý kiến của người nói, các lí lẽ, các bằng chứng; mỗi ô vài từ khóa, không chép nguyên câu.
- Tóm tắt lại bằng lời của mình trong ba đến năm câu, rồi hỏi người nói xem mình hiểu đúng chưa.
Đoạn mở đầu bài nói tham khảo: Các bạn có nhớ ông quan trong truyện Sống chết mặc bay không? Đê sắp vỡ, dân đang lội bùn giữ đê, còn ông ngồi trong đình đánh bài. Hôm nay mình không nói về ông quan ấy. Mình muốn nói về những người bình thường như chúng ta, khi đứng trước một người gặp nạn, lại rút điện thoại ra trước khi đưa tay ra. Mình sẽ nói ba ý: vì sao người ta đứng nhìn, đứng nhìn thì có hại gì, và chúng ta có thể làm gì.
Nên luyện mẫu nào trước?
Ai đang chuẩn bị cho đề trang 124 về biểu hiện của tình yêu Tổ quốc thì đọc mẫu 2: bài đi từ Nước Đại Việt ta và có phần phản bác một ý kiến sai. Muốn học cách mở bài từ một chuyện ngoài đời rồi nối sang tác phẩm, xem mẫu 1, 3 và 8. Mẫu 4, 5 và 6 mở bằng một chi tiết trong truyện và có trải nghiệm của chính người viết. Mẫu 1 và mẫu 5 là bài dài, đủ các bước giải thích, nguyên nhân, tác hại, phản đề, giải pháp. Bài kiểm tra 45 phút thì xem mẫu 9 và mẫu 10: hai bài ngắn mà vẫn đủ tác phẩm, lí lẽ, phản đề và lời kết. Khi luyện, em hãy thử lấy một tác phẩm khác và tự đặt tên cho vấn đề trước khi viết.
Xem thêm:
- Bài soạn cùng Bài 5 (Cánh diều 8): Soạn bài Hịch tướng sĩ, Soạn bài Nước Đại Việt ta
- Tác phẩm dùng trong các mẫu: Phân tích Hịch tướng sĩ, Tóm tắt Sống chết mặc bay, Phân tích Bức tranh của em gái tôi, Phân tích Cuộc chia tay của những con búp bê, Hai cây phong (tác giả, tác phẩm), Một thứ quà của lúa non: Cốm, Phân tích Bài học đường đời đầu tiên, Phân tích Ông lão đánh cá và con cá vàng, Tóm tắt Đẽo cày giữa đường
- Văn mẫu nghị luận lớp 8 gần đề: Nghị luận về một vấn đề của đời sống lớp 8, Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí lớp 8, Phân tích một tác phẩm truyện lớp 8
- Lớp dưới, lớp trên: Nghị luận về một vấn đề trong đời sống lớp 7, Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết lớp 9