Mục Ôn tập và tự đánh giá cuối học kì I của Ngữ văn 8 Cánh diều (trang 132–136 tập một) dài hơn hẳn lớp 6, lớp 7: tới 15 câu hỏi ôn tập, chia bốn mảng đọc hiểu (câu 1–7), viết (câu 8–11), nói và nghe (câu 12–13), tiếng Việt (câu 14–15). Phần tự đánh giá dùng truyện cười dân gian Con rắn vuông với 8 câu hỏi và hai đề viết: giới thiệu một hiện tượng tự nhiên hoặc bàn về một thói xấu. Bên dưới là lời giải từng câu đúng đề in trong sách, đáp án trắc nghiệm có lí do, hai bài viết tham khảo, đề kiểm tra tự soạn với ngữ liệu là văn bản thông tin, và bảng tra năm bài học có đường dẫn tới bài soạn. Các bài khác của bộ sách xem tại Ngữ văn 8 Cánh diều.

Nội dung ôn tập (trang 132–133)
Hai yêu cầu cần đạt của bài: trình bày được những nội dung cơ bản đã học trong học kì I (kĩ năng đọc hiểu, viết, nói và nghe; kiến thức tiếng Việt, văn học) và hiểu yêu cầu về nội dung, hình thức của bài tự đánh giá cuối kì.
A. Đọc hiểu văn bản
Câu 1 (trang 132): Các thể loại, kiểu văn bản đã học và tên văn bản tiêu biểu
Các thể loại và kiểu văn bản đã học trong sách Ngữ văn 8, tập một là những thể loại và kiểu văn bản nào? Nêu một số tên văn bản cụ thể của mỗi thể loại và kiểu văn bản đó.
Trả lời:
- Truyện ngắn (Bài 1): Tôi đi học, Gió lạnh đầu mùa, Người mẹ vườn cau, Chuỗi hạt cườm màu xám.
- Thơ sáu chữ, bảy chữ (Bài 2): Nắng mới, Nếu mai em về Chiêm Hoá, Đường về quê mẹ, Quê người.
- Văn bản thông tin giải thích hiện tượng tự nhiên (Bài 3): Sao băng, Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI, Lũ lụt là gì? – Nguyên nhân và tác hại, Vì sao chim bồ câu không bị lạc đường?
- Hài kịch (Bài 4): Đổi tên cho xã (trích Bệnh sĩ), Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (trích Trưởng giả học làm sang).
- Truyện cười (Bài 4): Cái kính, Thi nói khoác, Treo biển.
- Văn bản nghị luận xã hội (Bài 5): Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta, Chiếu dời đô, Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
Câu 2 (trang 132): Nội dung bao trùm và đặc điểm hình thức của các truyện ở Bài 1
Nội dung khái quát bao trùm toàn bộ các văn bản truyện ở Bài 1 trong sách Ngữ văn 8, tập một là gì? Nêu nhận xét về đặc điểm hình thức thể loại nổi bật của các văn bản đó và những điểm cần lưu ý về cách đọc hiểu.
Trả lời:
- Nội dung bao trùm: những tình cảm trong trẻo, nhân hậu của con người, thường nhìn từ trẻ thơ: cảm xúc ngày đầu đến trường (Tôi đi học), lòng thương người nghèo của hai chị em Sơn khi đem chiếc áo bông cho bé Hiên (Gió lạnh đầu mùa), tình mẹ và sự gắn bó với quê nhà (Người mẹ vườn cau).
- Hình thức: truyện ngắn ít sự kiện, cốt truyện đơn giản, nhiều khi gần với tùy bút; chú trọng diễn biến tâm trạng hơn là hành động; chi tiết nhỏ mà giàu sức gợi (chiếc áo bông cũ, con đường làng mùa thu); giọng kể nhẹ nhàng, thấm đẫm chất trữ tình.
- Cách đọc: xác định ngôi kể và điểm nhìn; theo dõi mạch cảm xúc của nhân vật; tìm chi tiết then chốt và lí giải ý nghĩa; chú ý lời văn, hình ảnh thiên nhiên gắn với tâm trạng; rút ra thông điệp về cách sống.
Câu 3 (trang 132): Nội dung các bài thơ sáu chữ, bảy chữ và cách đọc
Nhận xét về nội dung (đề tài, chủ đề, cảm xúc,…) của các văn bản thơ (sáu chữ, bảy chữ) trong Bài 2 và nêu một số điểm cần lưu ý về cách đọc thể thơ này.
Trả lời: Các bài thơ cùng xoay quanh quê hương, gia đình: Nắng mới là nỗi nhớ người mẹ đã khuất khi nắng mới về; Nếu mai em về Chiêm Hoá là lời mời đến với thiên nhiên, con người vùng cao Tuyên Quang; Đường về quê mẹ vẽ cảnh làng quê Bắc Bộ trên đường về quê ngoại; Quê người là nỗi nhớ quê khi sống xa nhà. Cảm xúc chủ đạo là thương nhớ, gắn bó, có lúc bâng khuâng, có lúc tự hào.
Khi đọc: xác định số tiếng mỗi dòng, cách chia khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp (bảy chữ thường 4/3 hoặc 3/4, sáu chữ thường 2/2/2 hoặc 3/3); tìm chủ thể trữ tình và mạch cảm xúc qua từng khổ; chú ý từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ; đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác khi cần.
Câu 4 (trang 132): Đề tài, chủ đề, ý nghĩa và cách đọc văn bản thông tin ở Bài 3
Đề tài và chủ đề chung của các văn bản thông tin ở Bài 3 có gì đặc sắc? Nêu ý nghĩa của các văn bản này. Cần lưu ý những gì về cách đọc các văn bản thông tin trong Bài 3?
Trả lời:
- Đặc sắc: cả bốn văn bản cùng giải thích hiện tượng tự nhiên, từ hiện tượng đẹp trên bầu trời (sao băng) đến hiện tượng gây tai họa (lũ lụt, nước biển dâng) và một khả năng kì lạ của loài vật (bồ câu tìm đường). Chúng trả lời câu hỏi vì sao bằng kiến thức khoa học nhưng viết dễ hiểu, có số liệu, hình ảnh.
- Ý nghĩa: giúp người đọc hiểu đúng thay vì tin vào lời đồn; nhận ra con người phải thích ứng và có trách nhiệm (nước biển dâng gắn với biến đổi khí hậu, đe dọa trực tiếp đồng bằng sông Cửu Long).
- Cách đọc: tìm hiện tượng được giải thích; xác định nguyên nhân, quá trình, kết quả; nhận ra cách sắp xếp thông tin (nhân quả, trật tự thời gian, mức độ quan trọng); đọc kĩ sa pô, đề mục, phương tiện phi ngôn ngữ; đánh giá độ tin cậy của số liệu, nguồn.
Câu 5 (trang 132): Nội dung hài kịch, truyện cười ở Bài 4 và ý nghĩa tiếng cười
Nêu nội dung chính của các văn bản hài kịch và truyện cười trong Bài 4, từ đó nhận xét và phân tích ý nghĩa tiếng cười được thể hiện trong các văn bản này.
Trả lời:
| Văn bản | Nội dung chính | Cái đáng cười bị phê phán |
|---|---|---|
| Đổi tên cho xã (Lưu Quang Vũ) | Ông chủ tịch Toàn Nha tổ chức lễ rình rang đổi tên xã Cà Hạ thành Hùng Tâm, phong chức danh mới cho nhiều người trong khi xã vẫn nghèo. | Bệnh sĩ diện, chuộng hình thức, nói to làm nhỏ |
| Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (Mô-li-e) | Lão trưởng giả may lễ phục quý tộc, bị thợ may lợi dụng, tâng bốc gọi là ông lớn để moi tiền. | Thói học đòi, háo danh, ngu dốt |
| Cái kính (A-dít Nê-xin) | Người đàn ông tưởng đeo kính là đọc được chữ, thử mãi mới lộ ra mình không biết chữ. | Sự thiếu hiểu biết mà muốn đi đường tắt |
| Thi nói khoác; Treo biển | Những cuộc nói khoác tranh hơn thua; nhà hàng nghe ai góp ý cũng xóa bớt chữ trên biển cho tới khi cất luôn biển. | Thói khoác lác; thiếu chủ kiến |
Ý nghĩa tiếng cười: mua vui và giải trí, nhưng sâu hơn là phê phán những thói xấu có thật quanh ta. Hài kịch của Lưu Quang Vũ, Mô-li-e cười sắc hơn vào thói háo danh; truyện cười dân gian cười nhẹ nhàng, giúp người nghe tự nhìn lại mình.
Câu 6 (trang 133): Nội dung chung và cách đọc các văn bản ở Bài 5
Các văn bản trong Bài 5 có chung nội dung gì? Cần lưu ý những gì về cách đọc các văn bản này?
Trả lời: Các văn bản nghị luận ở Bài 5, từ Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta, Chiếu dời đô thời trung đại đến Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?, Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới hiện đại, có chung chủ đề lòng yêu nước, ý thức về vận mệnh dân tộc và trách nhiệm của mỗi người với đất nước. Khi đọc: xác định luận đề, các luận điểm cùng lí lẽ, dẫn chứng đi kèm; với văn bản trung đại, nắm hoàn cảnh ra đời, thể loại (hịch, chiếu, cáo) và nghệ thuật lập luận (đối, liệt kê, dẫn chứng lịch sử); tách nhận định riêng của tác giả khỏi thông tin khách quan; liên hệ với thực tế hôm nay.
Câu 7 (trang 133): Phân tích ví dụ cho thấy các văn bản gần gũi, sâu sắc, thiết thực
Nhìn chung, tất cả các văn bản trong sách Ngữ văn 8, tập một đều có nội dung gần gũi, sâu sắc và thiết thực đối với đời sống hiện nay. Em hãy phân tích và làm sáng tỏ nhận xét đó thông qua một số ví dụ cụ thể.
Trả lời:
- Gió lạnh đầu mùa: mỗi mùa đông, trường em lại quyên góp áo ấm cho học sinh vùng cao. Hành động của chị em Sơn cho thấy sẻ chia bắt đầu từ những việc nhỏ, và người lớn (mẹ Sơn) nên khuyến khích chứ không trách trẻ.
- Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI: số liệu về đồng bằng sông Cửu Long bị xâm nhập mặn không còn là chuyện xa xôi; đọc văn bản, em hiểu vì sao cần tiết kiệm năng lượng, trồng rừng ngập mặn.
- Đổi tên cho xã: những phong trào hô khẩu hiệu thật kêu mà làm chẳng bao nhiêu vẫn còn, kể cả trong trường học; vở kịch nhắc ta coi trọng thực chất.
B. Viết
Câu 8 (trang 133): Các dạng văn bản được luyện viết và quan hệ giữa Viết với Đọc hiểu
Các dạng văn bản cụ thể được luyện viết trong sách Ngữ văn 8, tập một thuộc những kiểu văn bản nào? Chỉ ra mối quan hệ giữa phần Viết và phần Đọc hiểu của mỗi bài học.
Trả lời:
| Bài | Dạng bài viết | Kiểu văn bản | Đọc hiểu làm nền |
|---|---|---|---|
| 1 | Kể lại một chuyến đi hoặc một hoạt động xã hội | Tự sự (kết hợp miêu tả, biểu cảm) | Cách kể, tả, bộc lộ cảm xúc trong truyện ngắn |
| 2 | Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ sau khi đọc một bài thơ sáu chữ, bảy chữ; tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ | Biểu cảm; sáng tác thơ | Hiểu luật, vần, nhịp và cảm xúc trong bốn bài thơ |
| 3 | Thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên; văn bản kiến nghị về một vấn đề đời sống | Thông tin (thuyết minh); văn bản hành chính | Mẫu trình bày nguyên nhân, quá trình, kết quả |
| 4 | Nghị luận về một vấn đề của đời sống | Nghị luận xã hội | Thói xấu bị phê phán trong hài kịch, truyện cười gợi vấn đề |
| 5 | Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học | Nghị luận xã hội | Cách lập luận của hịch, cáo, chiếu và bài nghị luận hiện đại |
Văn bản đọc vừa là mẫu về kiểu văn bản, vừa gợi đề tài cho bài viết.
Câu 9 (trang 133): Yêu cầu và tác dụng của việc tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ
Nêu yêu cầu và tác dụng của việc tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ.
Trả lời:
- Yêu cầu: mỗi dòng sáu hoặc bảy tiếng; có vần (chân hoặc lưng), nhịp phù hợp; có thể chia khổ; nội dung thể hiện một cảm xúc, suy nghĩ chân thật; dùng từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ có chọn lọc.
- Tác dụng: tự làm thơ giúp em hiểu luật thơ từ bên trong nên đọc Nắng mới hay Đường về quê mẹ nhạy hơn; rèn khả năng chọn chữ, gọt câu; giúp em bày tỏ cảm xúc về người thân, quê hương bằng một hình thức mới.
Câu 10 (trang 133): Những kĩ năng viết đã rèn luyện, ý nghĩa và tác dụng
Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một hướng dẫn em rèn luyện những kĩ năng viết nào? Phân tích ý nghĩa và tác dụng của các kĩ năng ấy.
Trả lời:
- Quy trình viết bốn bước (chuẩn bị; tìm ý, lập dàn ý; viết; kiểm tra, chỉnh sửa): giúp bài viết có định hướng, không lạc đề, bớt lỗi.
- Kể kết hợp tả và biểu cảm (Bài 1): làm câu chuyện về chuyến đi sinh động, có cảm xúc thật.
- Giải thích theo quan hệ nhân quả (Bài 3): rèn tư duy khoa học, trình bày mạch lạc một hiện tượng.
- Viết kiến nghị (Bài 3): biết trình bày đúng thể thức để đề đạt nguyện vọng với cơ quan, tổ chức, một kĩ năng dùng suốt đời.
- Lập luận (Bài 4, 5): nêu luận điểm, dùng lí lẽ và bằng chứng, phản bác ý kiến trái chiều, giúp em bảo vệ quan điểm của mình có căn cứ.
Câu 11 (trang 133): Điểm mới của phần Viết lớp 8 so với lớp 7
Các nội dung và yêu cầu của phần Viết trong sách Ngữ văn 8, tập một có gì mới so với sách Ngữ văn 7?
Trả lời:
- Kiểu bài mới: thuyết minh giải thích hiện tượng tự nhiên (lớp 7 thuyết minh quy tắc, luật lệ); văn bản kiến nghị; nghị luận về vấn đề đời sống và vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm (lớp 7 nghị luận văn học phân tích nhân vật); thơ sáu chữ, bảy chữ (lớp 7 bốn chữ, năm chữ); kể chuyến đi, hoạt động xã hội (lớp 7 kể về sự kiện, nhân vật lịch sử có thật).
- Yêu cầu cao hơn: phải kết hợp nhiều phương thức trong một bài; lập luận chặt hơn, biết phản bác ý kiến khác; thông tin cần chính xác, có nguồn; bài viết dài và phức tạp hơn.
C. Nói và nghe
Câu 12 (trang 133): Nội dung nói và nghe đã rèn luyện, trọng tâm của mỗi bài
Nêu những nội dung chính được rèn luyện về kĩ năng nói và nghe trong sách Ngữ văn 8, tập một. Xác định trọng tâm phần nói và nghe của mỗi bài học.
Trả lời:
| Bài | Nội dung | Trọng tâm |
|---|---|---|
| 1 | Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội | Nói |
| 2 | Thảo luận ý kiến về một vấn đề trong đời sống | Nói nghe tương tác |
| 3 | Tóm tắt nội dung thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên | Nghe |
| 4 | Thảo luận ý kiến về một hiện tượng trong đời sống | Nói nghe tương tác |
| 5 | Nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học | Nghe |
Câu 13 (trang 133): Nói và nghe liên quan với đọc hiểu, viết; phân tích ví dụ
Nội dung rèn luyện kĩ năng nói và nghe liên quan với nội dung đọc hiểu và viết trong mỗi bài học như thế nào? Phân tích một số ví dụ ở các bài học trong sách Ngữ văn 8, tập một để làm sáng tỏ điều ấy.
Trả lời: Nói và nghe thường dùng chung đề tài, chung kiểu văn bản với đọc và viết của bài, chỉ đổi sang hình thức giao tiếp trực tiếp. Ví dụ:
- Bài 3: đọc Sao băng để biết cách giải thích một hiện tượng, viết bài thuyết minh về một hiện tượng khác, rồi nghe bạn thuyết minh và tóm tắt lại. Muốn tóm tắt đúng, em phải nhận ra nguyên nhân, kết quả như khi đọc.
- Bài 4: từ thói háo danh trong Đổi tên cho xã, nhóm thảo luận về hiện tượng sống ảo, khoe khoang trên mạng; ý kiến thu được là chất liệu cho bài nghị luận về một vấn đề đời sống.
D. Tiếng Việt
Câu 14 (trang 133): Nội dung chính của phần tiếng Việt và quan hệ với các phần khác
Nêu những nội dung chính của phần tiếng Việt trong sách Ngữ văn 8, tập một. Các nội dung này có mối quan hệ như thế nào với phần Đọc hiểu, Viết, Nói và nghe?
Trả lời:
| Bài | Thực hành tiếng Việt | Phục vụ đọc, viết, nói |
|---|---|---|
| 1 | Trợ từ và thán từ | Hiểu sắc thái lời nhân vật trong truyện; bộc lộ cảm xúc khi kể |
| 2 | Sắc thái nghĩa của từ ngữ | Cảm nhận chữ dùng trong thơ; chọn từ khi làm thơ, viết cảm nghĩ |
| 3 | Các đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp | Nhận ra cách tổ chức thông tin; viết bài thuyết minh mạch lạc |
| 4 | Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn | Hiểu cái cười ẩn sau lời thoại hài kịch, truyện cười |
| 5 | Ôn tập về từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ | Đọc văn bản trung đại; dùng thành ngữ, tục ngữ tăng sức thuyết phục cho bài nghị luận |
Câu 15 (trang 133): Biện pháp tu từ trong các bài thơ ở Bài 2, phân tích một biện pháp
Nêu một số biện pháp tu từ có trong các văn bản thơ đã học ở Bài 2 và phân tích tác dụng của một biện pháp mà em thích.
Trả lời: Các bài thơ dùng nhiều điệp ngữ, so sánh, liệt kê, nhân hóa, cùng hệ thống từ láy gợi hình, gợi cảm. Em thích phép điệp ngữ trong Nắng mới của Lưu Trọng Lư. Khổ đầu mở ra bằng:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Cụm mỗi lần nắng mới trở lại ở khổ hai, khi nhà thơ nhớ cảnh mẹ đem áo đỏ ra phơi trước giậu. Sự lặp lại cho thấy nỗi nhớ không đến một lần rồi thôi mà trở về đều đặn theo từng mùa nắng, như một thói quen của kí ức. Nhờ điệp ngữ, ánh nắng trở thành sợi dây nối hiện tại với quá khứ, và hình bóng người mẹ hiện lên rất tự nhiên mà không cần một lời than nào. Các từ xao xác, não nùng làm buổi trưa thêm vắng lặng.
Tự đánh giá cuối học kì I (trang 134–136)
Mục Định hướng đánh giá nói rõ: bài làm trong 2 tiết (90 phút). Phần đọc hiểu dùng văn bản mới cùng thể loại, hỏi bằng trắc nghiệm và câu trả lời ngắn; phần viết là đoạn hoặc bài văn ngắn thuộc một trong các kiểu đã luyện ở năm bài học.
I. Đọc hiểu: truyện cười Con rắn vuông
Truyện (theo Truyện cười dân gian Việt Nam) kể anh chồng quen tính khoác lác về nhà khoe thấy con rắn bề ngang bốn mươi thước, bề dài hơn trăm thước. Vợ cứ lắc đầu không tin, anh ta rút dần chiều dài xuống tám mươi, sáu mươi rồi bốn mươi thước. Câu kết của người vợ làm bật ra tiếng cười: “Con rắn anh thấy, bề ngang đã chắc chắn là bốn mươi thước, bề dài cũng lại đến bốn mươi thước không kém một phân thì chẳng hoá ra là con rắn vuông à?”
Câu 1 (trang 135): Nội dung chính của văn bản Con rắn vuông
Nội dung chính của văn bản Con rắn vuông là gì? A. Giới thiệu hình dáng, kích thước của con rắn vuông. B. Kể chuyện anh chàng nói khoác về con rắn vuông. C. Kể lại câu chuyện về một con rắn hình vuông. D. Ghi lại suy nghĩ của người viết về con rắn vuông.
Trả lời: B. Con rắn chỉ có trong lời khoác của anh chồng; truyện xoay quanh thói nói khoác bị lật tẩy, không có con rắn hình vuông nào thật.
Câu 2 (trang 135): Thể loại của văn bản
Văn bản trên thuộc thể loại nào? A. Truyện ngụ ngôn. B. Truyện cười. C. Truyện cổ tích. D. Truyện thần thoại.
Trả lời: B. Truyện ngắn, có tình huống gây cười, nhân vật mang thói xấu (khoác lác), kết thúc bằng một câu thoại bất ngờ làm bật tiếng cười.
Câu 3 (trang 135): Đặc điểm thể loại của văn bản
Phương án nào sau đây nêu đặc điểm thể loại của văn bản trên? A. Nội dung thường viết về các câu chuyện hoang đường… B. Cốt truyện thường mượn các con vật để nói chuyện con người. C. Bối cảnh truyện thường là các tình huống mâu thuẫn giữa thật và giả… D. Truyện thường do dân gian kể và lưu truyền lại cho đời sau.
Trả lời: C. Tiếng cười nảy ra từ mâu thuẫn giữa lời anh chồng tự nhận là thật với sự vô lí của con rắn dài bằng rộng. B là đặc điểm ngụ ngôn; D đúng với mọi truyện dân gian nên không phải đặc điểm riêng của truyện cười.
Câu 4 (trang 136): Câu là lời nhân vật người vợ
Câu nào sau đây là lời nhân vật người vợ trong văn bản trên? A. Anh chàng nọ tính khoác lác đã quen. B. Vợ không tin, nhưng cũng định trêu chồng một mẻ… C. Chồng rút lui một lần nữa… D. Vẫn không dài đến nước ấy đâu!
Trả lời: D. Câu này đứng sau gạch đầu dòng, ngay sau lời dẫn Vợ vẫn khăng khăng. A, B, C là lời người kể chuyện.
Câu 5 (trang 136): Mục đích chính của truyện
Mục đích chính của truyện trên là gì? A. Giải trí. B. Châm biếm. C. Đả kích. D. Lên án.
Trả lời: A. Người vợ chỉ định trêu chồng, tiếng cười cuối truyện là tiếng cười vui trong gia đình. Truyện có phê phán nhẹ thói nói khoác nhưng không nhằm châm biếm sâu cay, càng không đả kích hay lên án ai.
Câu 6 (trang 136): Nghĩa hàm ẩn của câu Lần này tôi nói thật nhé
Câu: “Lần này tôi nói thật nhé.” có nghĩa hàm ẩn là gì? A. Các lần trước đều nói thật. B. Các lần trước đều không nói thật. C. Các lần trước đều không nói dối. D. Các lần trước không phải tôi nói.
Trả lời: B. Nói lần này mới thật tức là ngầm thừa nhận những con số trước đó (hơn trăm, tám mươi, sáu mươi thước) đều là bịa. Anh chồng tự lộ mình mà không hay.
Câu 7 (trang 136): Mục đích của người vợ và từ ngữ thể hiện mục đích ấy
Trong văn bản có câu: “Vợ không tin, nhưng cũng định trêu chồng một mẻ…”. a) Theo em, mục đích chính của người vợ là gì? b) Từ ngữ nào trong câu trên cho người đọc thấy mục đích chính ấy?
Trả lời:
- a) Người vợ biết chồng nói khoác nên muốn dồn để chồng tự lộ ra cái vô lí trong lời mình, vừa đùa vui vừa nhắc khéo chồng bỏ tật khoác lác.
- b) Cụm từ định trêu và một mẻ: cho thấy đây là trò đùa có chủ ý, không phải cãi nhau thật.
Câu 8 (trang 136): Vì sao người vợ bò lăn ra cười ở cuối truyện
Trong phần kết thúc truyện, vì sao người vợ “bò lăn ra cười”?
Trả lời: Vì anh chồng mắc đúng bẫy: cứ bị vợ chê là không đúng, anh lại bớt chiều dài, tới bốn mươi thước thì bằng đúng bề ngang anh khẳng định từ đầu. Con rắn dài bằng rộng thành ra hình vuông, một điều không thể có. Lời khoác tự mâu thuẫn, người vợ cười vì chồng tự bóc mẽ mình, cũng vì trò trêu của chị đã thành công.
II. Viết (chọn một trong hai đề, viết thành bài văn ngắn)
Đề 1 (trang 136): Giới thiệu về một hiện tượng tự nhiên mà em yêu thích
Trả lời: Đây là bài thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên (Bài 3): nêu hiện tượng, giải thích nguyên nhân và quá trình, nêu đặc điểm, ý nghĩa; có thể kèm hình vẽ. Bài tham khảo về cầu vồng:
Sau một cơn mưa rào mùa hè, đôi khi ta thấy một dải bảy màu vắt ngang bầu trời. Khoa học giải thích hiện tượng ấy bằng chính những giọt mưa và ánh nắng.
Ánh sáng Mặt Trời nhìn có vẻ trắng nhưng thực ra gồm nhiều màu. Khi chiếu vào một giọt nước còn lơ lửng trong không khí, tia sáng bị bẻ cong (khúc xạ) lần thứ nhất lúc đi vào giọt, phản xạ ở mặt trong phía sau, rồi khúc xạ lần nữa khi đi ra. Mỗi màu bị bẻ cong một mức khác nhau, vì vậy ánh sáng trắng tách ra thành dải màu từ đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm đến tím. Hàng triệu giọt nước cùng làm việc ấy, mắt ta nhận được một vòng cung màu.
Muốn thấy cầu vồng cần đủ ba điều kiện: không khí còn nhiều hạt nước sau mưa, Mặt Trời đã ló ra và ở khá thấp, người xem đứng quay lưng về phía Mặt Trời. Vì thế cầu vồng hay xuất hiện vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn. Màu đỏ luôn ở mép ngoài, màu tím ở mép trong. Có lúc ta thấy thêm một cầu vồng thứ hai mờ hơn phía ngoài, thứ tự màu đảo ngược, do ánh sáng phản xạ hai lần trong giọt nước. Bụi nước ở chân thác hay tia nước tưới cây buổi sáng cũng có thể tạo cầu vồng nhỏ.
Cầu vồng không mang điềm lành hay dữ như lời đồn; nó là một bài học vật lí đẹp về ánh sáng.
Đề 2 (trang 136): Suy nghĩ về một thói hư tật xấu của người Việt làm ảnh hưởng tới lòng tự hào dân tộc
Trả lời: Đây là bài nghị luận về một vấn đề đời sống (Bài 4). Cần nêu thói xấu cụ thể, biểu hiện, nguyên nhân, tác hại (đặc biệt với hình ảnh dân tộc), giải pháp; có ý kiến phản biện. Bài tham khảo:
Chúng ta tự hào về lịch sử chống ngoại xâm, về những danh lam, món ăn được thế giới khen ngợi. Nhưng niềm tự hào ấy có thể bị làm mờ bởi một thói quen rất nhỏ: sự tùy tiện, thiếu ý thức nơi công cộng.
Thói tùy tiện hiện ra ở nhiều chỗ. Ở bến xe, nhà ga, người ta chen lấn thay vì xếp hàng. Ở công viên, vỏ chai, túi ni lông vứt ngay cạnh thùng rác. Trên đường, có người vượt đèn đỏ chỉ vì không thấy cảnh sát. Khi ra nước ngoài, vài du khách nói to trong bảo tàng, tranh lấy đồ ăn ở tiệc tự chọn; đã có nơi phải treo biển nhắc nhở bằng tiếng Việt.
Nguyên nhân là thói quen nghĩ việc chung không phải của mình, cộng với việc giáo dục và xử phạt chưa nghiêm.
Tác hại không chỉ là đường phố bẩn hay một hàng người lộn xộn. Mỗi lần một người Việt cư xử thiếu văn hóa trước bạn bè quốc tế, hình ảnh cả dân tộc bị đánh giá theo. Thật đáng buồn khi một đất nước có bề dày văn hiến lại bị nhớ đến qua những tấm biển nhắc nhở. Trong Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, Vũ Khoan cũng chỉ ra tính thiếu kỉ luật là một điểm yếu cần khắc phục nếu muốn hội nhập.
Có người cho rằng đó chỉ là chuyện vặt. Nhưng văn hóa của một dân tộc được nhìn thấy trước hết qua những chuyện vặt như thế. Muốn sửa, mỗi người bắt đầu từ việc nhỏ: xếp hàng, bỏ rác đúng chỗ, giữ trật tự. Nhà trường có thể biến những việc ấy thành nề nếp hằng ngày.
Lòng tự hào dân tộc không chỉ nằm trong sách sử. Nó cần được giữ gìn bằng cách mỗi người cư xử văn minh mỗi ngày.
Đề kiểm tra cuối học kì I tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề do Văn VN tự biên soạn theo định hướng của sách, làm trong 90 phút. Ngữ liệu đọc hiểu là văn bản thông tin do Văn VN tự viết, cùng kiểu với các văn bản ở Bài 3.
I. Đọc hiểu (4 điểm)
Vì sao lá cây đổi màu trước khi rụng?
(1) Cuối thu, đầu đông, những hàng bàng ở miền Bắc chuyển dần sang đỏ rồi trút lá; ở xứ lạnh, cả cánh rừng phong nhuộm vàng, đỏ. Hiện tượng quen thuộc ấy bắt nguồn từ chính những chất màu nằm trong chiếc lá.
(2) Màu xanh của lá đến từ diệp lục, sắc tố giúp cây hấp thụ ánh sáng để quang hợp. Ngoài diệp lục, lá còn chứa các sắc tố vàng và cam, nhưng suốt mùa sinh trưởng chúng bị màu xanh lấn át. Khi ngày ngắn lại, nhiệt độ hạ xuống, cây giảm dần hoạt động. Chất diệp lục bị phân giải nhanh hơn được tạo ra, màu xanh nhạt dần, các sắc tố vàng, cam vốn có mới lộ ra. Ở một số loài như bàng, phong, lá còn tạo thêm sắc tố đỏ từ lượng đường đọng lại.
(3) Cùng lúc ấy, ở chỗ cuống lá nối với cành hình thành một lớp tế bào ngăn cách, chặn dần đường nước đi vào lá. Khi lớp này hoàn chỉnh, chỉ một cơn gió nhẹ cũng đủ làm lá lìa cành. Không còn những tán lá rộng, cây mất ít nước hơn và giữ lại chất dinh dưỡng trong thân, rễ. Rụng lá vì thế là cách cây tự bảo vệ mình qua mùa khô lạnh.
(4) Lá vàng, lá đỏ không phải dấu hiệu cây sắp chết mà là tín hiệu cây đang chuẩn bị cho một mùa sinh trưởng mới.
Câu 1. (Trắc nghiệm) Văn bản thuộc kiểu nào? A. Văn bản nghị luận. B. Văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên. C. Văn bản kiến nghị. D. Tùy bút.
Câu 2. (Trắc nghiệm) Đoạn (3) được trình bày theo kiểu đoạn văn nào? A. Diễn dịch. B. Quy nạp. C. Song song. D. Phối hợp.
Câu 3. Thông tin trong đoạn (2) và (3) được sắp xếp theo trật tự nào? Cách sắp xếp ấy có hiệu quả gì?
Câu 4. Giải thích nghĩa của hai từ Hán Việt diệp lục, quang hợp.
Câu 5. Câu ở đoạn (4) có nghĩa hàm ẩn gì về cách nhìn nhận sự vật?
Câu 6. Viết đoạn văn (5–7 câu) kiến nghị với nhà trường một việc làm để bảo vệ cây xanh trong sân trường.
II. Viết (6 điểm)
Chọn một trong hai đề: (1) Viết bài văn thuyết minh giải thích hiện tượng mưa đá hoặc sương mù. (2) Viết bài văn nghị luận về vấn đề sẻ chia với người khó khăn đặt ra trong truyện Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam).
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / yêu cầu | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | B. Văn bản trả lời câu hỏi vì sao về một hiện tượng tự nhiên bằng kiến thức khoa học. | 0,5 |
| 2 | B. Các câu đầu nêu từng chi tiết (lớp tế bào ngăn cách, lá rụng, cây giữ nước và dinh dưỡng), câu cuối khái quát ý của cả đoạn. | 0,5 |
| 3 | Trật tự nguyên nhân – kết quả kết hợp trật tự thời gian (ngày ngắn, lạnh → diệp lục phân giải → lộ màu vàng, đỏ → lớp ngăn cách → lá rụng). Giúp người đọc theo dõi quá trình dễ dàng, hiểu vì sao có hiện tượng. | 0,75 |
| 4 | Diệp lục: chất màu xanh trong lá (diệp: lá, lục: xanh). Quang hợp: quá trình cây dùng ánh sáng để tạo chất dinh dưỡng (quang: ánh sáng, hợp: tổng hợp). | 0,5 |
| 5 | Nghĩa hàm ẩn: đừng vội đánh giá sự vật qua vẻ bề ngoài; điều tưởng là tàn lụi có thể là bước chuẩn bị cho sự đổi mới (có thể liên hệ với con người). | 0,75 |
| 6 | Đoạn văn nêu rõ người kiến nghị, nơi nhận, thực trạng, đề xuất cụ thể (gắn biển tên cây, phân công lớp chăm cây, cấm đóng đinh vào thân cây…), lời lẽ lịch sự; đúng dung lượng. | 1,0 |
| Viết | Đúng kiểu bài, bố cục ba phần (0,5). Đề 1: nêu hiện tượng, giải thích nguyên nhân và quá trình hình thành theo trình tự hợp lí, nêu tác động và cách ứng phó, thông tin chính xác (4,0). Đề 2: giới thiệu tác phẩm và vấn đề; giải thích, phân tích biểu hiện qua hành động của chị em Sơn và cách ứng xử của người mẹ; liên hệ đời sống hôm nay; phản bác ý kiến cho rằng giúp người là việc của người lớn; bài học (4,0). Chính tả, dùng từ, đặt câu (1,0); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Hệ thống văn bản đã học ở học kì I Ngữ văn 8 Cánh diều
| Bài | Văn bản đọc chính | Tác giả | Thực hành đọc / Tự đánh giá |
|---|---|---|---|
| 1. Truyện ngắn | Tôi đi học; Gió lạnh đầu mùa | Thanh Tịnh; Thạch Lam | Người mẹ vườn cau (Nguyễn Ngọc Tư) / Chuỗi hạt cườm màu xám (Đỗ Bích Thúy) |
| 2. Thơ sáu chữ, bảy chữ | Nắng mới; Nếu mai em về Chiêm Hoá | Lưu Trọng Lư; Mai Liễu | Đường về quê mẹ (Đoàn Văn Cừ) / Quê người (Vũ Quần Phương) |
| 3. Văn bản thông tin | Sao băng; Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI | Theo Hồng Nhung; theo Lưu Quang Hưng | Lũ lụt là gì? – Nguyên nhân và tác hại / Vì sao chim bồ câu không bị lạc đường? |
| 4. Hài kịch và truyện cười | Đổi tên cho xã; Cái kính | Lưu Quang Vũ; A-dít Nê-xin | Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục (Mô-li-e), Thi nói khoác / Treo biển |
| 5. Nghị luận xã hội | Hịch tướng sĩ; Nước Đại Việt ta | Trần Quốc Tuấn; Nguyễn Trãi | Chiếu dời đô (Lý Công Uẩn), Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? (Dương Trung Quốc) / Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Vũ Khoan) |
Cách ôn để làm tốt bài cuối học kì I Ngữ văn 8
- Câu hỏi tiếng Việt trong đề hay lồng vào ngữ liệu: nghĩa hàm ẩn (như câu 6 bài tự đánh giá), trợ từ, thán từ, kiểu đoạn văn. Mỗi nội dung ở câu 14, tự tìm một ví dụ trong văn bản đã học.
- Phần viết có bốn kiểu được nêu trong định hướng; kiểu thuyết minh giải thích hiện tượng tự nhiên cần thông tin chính xác, nên ôn trước hai, ba hiện tượng quen thuộc (sấm sét, cầu vồng, thủy triều).
Xem thêm: