Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bài Viết của Bài 8 Truyện lịch sử và tiểu thuyết trong Ngữ văn 8 Cánh diều (Tập 2), với đề thực hành bàn về lời khẳng khái của Trần Bình Trọng trước tướng giặc. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý, 12 bài văn mẫu bàn về 12 tư tưởng, đạo lí khác nhau (tinh thần bất khuất, uống nước nhớ nguồn, kiên trì, tôn sư trọng đạo, khoan dung, trung thực, tự trọng, giữ chữ tín, khiêm tốn, hiếu thảo, sống có ước mơ…), lỗi hay gặp và mẹo làm bài. Dẫn chứng lịch sử đã đối chiếu nguồn công khai; các câu chuyện ở trường, ở nhà trong bài là tình huống giả định do người viết đặt ra để minh họa.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Tư tưởng, đạo lí là những quan niệm về cách sống, cách đối xử giữa người với người: lòng biết ơn, sự trung thực, tinh thần yêu nước, thái độ với thầy cô, với cha mẹ… Đề thường nêu vấn đề qua một câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn hoặc nêu thẳng tên một phẩm chất. Khác với nghị luận về một hiện tượng đời sống (bắt đầu từ việc đang xảy ra quanh ta), ở kiểu bài này em đi từ một quan niệm, làm rõ nó nghĩa là gì, đúng ở đâu, rồi soi vào đời sống.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Giải thích | Nói rõ nghĩa đen, nghĩa bóng của câu nói hoặc nội hàm của phẩm chất; rút ra được tư tưởng chính trong một hai câu. |
| Ý kiến của người viết | Nêu thẳng em đồng tình (hay chỉ đồng tình một phần) và vì sao. |
| Lí lẽ và bằng chứng | Mỗi luận điểm có lí lẽ đi kèm bằng chứng cụ thể: sự kiện lịch sử, nhân vật văn học, việc em chứng kiến. Bằng chứng thật phải đúng; câu trích phải chính xác. |
| Bàn luận, mở rộng | Chỉ ra biểu hiện trái ngược đáng phê phán, hoặc giới hạn của tư tưởng (khoan dung khác dung túng, khiêm tốn khác tự ti…). |
| Bài học | Kết bài rút ra điều cần làm, gắn với lứa tuổi học sinh, nói cụ thể chứ không hô khẩu hiệu. |
| Diễn đạt | Đoạn văn có câu chủ đề, chuyển ý mạch lạc; giọng chừng mực, tránh lên giọng dạy đời. |
Vị trí trong sách: Ngữ văn 8 Cánh diều, Tập 2, Bài 8, phần Viết. Sách định hướng: hiểu cho đúng tư tưởng, đạo lí mà đề nêu ra; nói rõ mình đồng tình hay phản đối và vì sao; dùng lí lẽ, bằng chứng phù hợp. Đề thực hành yêu cầu bày tỏ suy nghĩ trước lời Trần Bình Trọng đáp tướng giặc (bài văn số 1 dưới đây làm đúng đề này). Hai bộ Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo lớp 8 không có đề riêng mang tên này, nhưng các bài nghị luận xã hội của hai bộ vẫn dùng được những mẫu bàn về phẩm chất, lối sống ở trang này.
Dàn ý bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
1. Mở bài
– Dẫn dắt (từ một câu chuyện, một tình huống, một nhân vật) và nêu tư tưởng, đạo lí cần bàn.
– Nêu khái quát ý kiến của em.
2. Thân bài
a. Giải thích
+ Nghĩa của từ ngữ then chốt, nghĩa đen và nghĩa bóng (nếu là tục ngữ, câu nói).
+ Tư tưởng chính mà câu nói muốn gửi gắm.
b. Phân tích, chứng minh vì sao đúng
+ Luận điểm 1: lí lẽ + bằng chứng (lịch sử, văn học, đời sống).
+ Luận điểm 2: lí lẽ + bằng chứng.
+ (Có thể thêm luận điểm 3.)
c. Bàn luận, mở rộng
+ Phê phán biểu hiện trái ngược.
+ Chỉ ra giới hạn hoặc cách hiểu sai cần tránh.
3. Kết bài
– Nhắc lại vì sao tư tưởng, đạo lí ấy đáng quý.
– Điều em hiểu ra và việc em sẽ làm, càng cụ thể càng tốt.
Bài văn bàn về một câu nói, câu tục ngữ
Mẫu 1: Lời đáp của Trần Bình Trọng và đạo lí đặt Tổ quốc lên trên hết
Có những câu nói chỉ dài hơn một dòng nhưng đứng vững suốt hơn bảy trăm năm. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, danh tướng Trần Bình Trọng bị giặc bắt khi đang chặn đường truy đuổi để bảo vệ cuộc rút lui của triều đình. Tướng giặc dụ dỗ, hỏi ông có muốn được phong vương ở phương Bắc không. Ông đáp: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc.” Rồi ông chịu chết. Câu trả lời ấy là lời khẳng định một đạo lí lớn của dân tộc: danh dự và lòng trung thành với Tổ quốc quý hơn mạng sống, quý hơn mọi bổng lộc.
Hãy đọc kĩ hai vế của câu nói. “Làm ma nước Nam” là chết, nhưng chết trên đất mình, chết với tư cách người con nước Việt. “Làm vương đất Bắc” là sống, lại sống sang trọng, có quyền uy, nhưng phải đổi bằng sự phản bội. Đặt hai lựa chọn cạnh nhau, ông chọn cái chết một cách dứt khoát, không do dự. Chữ “thà” cho thấy ông đã cân nhắc, và chữ “không thèm” cho thấy ông khinh bỉ thứ vinh hoa mà kẻ thù mời chào. Đó không phải sự liều lĩnh nhất thời, mà là một thái độ sống: có những thứ không bao giờ được đem ra mặc cả.
Vì sao đạo lí ấy đúng? Trước hết, một dân tộc nhỏ chỉ có thể đứng vững trước những đế chế hùng mạnh khi mỗi người dân không bán rẻ mình. Quân Nguyên Mông khi ấy mạnh hơn quân nhà Trần nhiều lần về quân số. Nếu những người bị bắt đều nhận lời dụ dỗ, kẻ thù đã biết hết đường đi của vua tôi nhà Trần. Sự im lặng và cái chết của Trần Bình Trọng giữ được bí mật ấy, đồng thời truyền thêm ý chí cho cả quân dân. Sau đó không lâu, cuộc kháng chiến giành thắng lợi. Thứ hai, câu nói của ông không đứng một mình mà nằm trong một truyền thống. Cùng thời ấy có người thiếu niên Trần Quốc Toản uất ức vì còn nhỏ tuổi nên bị gạt khỏi cuộc họp bàn việc nước, đến mức quả cam được vua ban nát bấy trong tay mà không hề hay biết, như ta đã đọc trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Hơn năm trăm năm sau, Nguyễn Huệ tiến quân thần tốc ra Bắc đánh tan quân Thanh. Thời nào cũng có những con người đặt Tổ quốc lên trên bản thân mình.
Có người sẽ hỏi: ngày nay không còn giặc giã, đạo lí ấy có còn cần không? Tôi nghĩ vẫn cần, chỉ là nó mang hình thức khác. Không ai bắt chúng ta chọn giữa cái chết và ngôi vương, nhưng mỗi ngày đều có những lựa chọn nhỏ giữa lợi ích riêng và điều đúng: một người kĩ sư từ chối làm sai thiết kế để ăn bớt vật liệu, một người lính biên phòng giữ cột mốc trong mưa rét, một học sinh không đem bí mật của nhóm đi đổi lấy sự thân thiết với người khác. Ngược lại, những kẻ sẵn sàng bán thông tin, bán danh dự để được giàu sang nhanh chóng đáng bị lên án, dù họ không đứng trước một tướng giặc nào.
Lời đáp ấy nhắc tôi rằng lòng yêu nước không chỉ là cảm xúc dâng lên khi hát quốc ca. Nó là khả năng nói “không” trước những gì làm mình hổ thẹn với Tổ quốc, với người khác và với chính mình. Ở tuổi mười bốn, tôi chưa có dịp nào phải lựa chọn lớn lao. Nhưng tôi có thể tập từ những chuyện nhỏ: không đánh đổi sự trung thực lấy một điểm số đẹp, không im lặng khi thấy điều sai chỉ vì sợ mất lòng. Có lẽ những người như Trần Bình Trọng cũng đã lớn lên từ những lựa chọn nhỏ như thế.
Mẫu 2: Uống nước nhớ nguồn và những người thợ cả
Làng gốm của ông ngoại tôi có một ngôi miếu nhỏ thờ ông tổ nghề. Ngày giỗ tổ, cả làng nghỉ nung, người thợ nào cũng mang đến miếu một món đồ do chính tay mình làm. Lần đầu theo ông đi giỗ tổ, tôi hỏi ông tổ nghề là ai. Ông bảo không ai biết rõ, chỉ biết nhờ có người ấy mà làng này có cái nghề nuôi sống mấy trăm năm. Câu trả lời ấy khiến tôi nghĩ mãi về bốn chữ người Việt vẫn nói với nhau: uống nước nhớ nguồn.
Nghĩa đen của câu tục ngữ rất giản dị: khi uống ngụm nước mát, hãy nhớ đến nơi khơi nguồn dòng nước. Nghĩa bóng sâu hơn nhiều: mọi thành quả ta đang hưởng đều có công sức của người đi trước, và ta phải biết ơn, biết gìn giữ, đền đáp. Đó là đạo lí biết ơn, một trong những nét đẹp lâu đời nhất của người Việt.
Câu tục ngữ có lí, trước tiên vì không có gì tự nhiên mà có. Hạt gạo trong bát cơm qua tay người cấy, người gặt. Cuốn sách tôi đọc có người viết, người in, người dạy tôi biết chữ. Nền độc lập hôm nay được đổi bằng xương máu của bao thế hệ. Người quên điều đó sẽ coi mọi thứ là đương nhiên, và từ đó dễ thành ích kỉ, hoang phí. Thứ hai, lòng biết ơn giữ cho một cộng đồng gắn bó. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, người Việt ở khắp nơi hướng về đền Hùng; ngày giỗ tổ nghề, cả làng gốm của ông tôi tụ lại. Nhớ chung một cội nguồn, người ta thấy mình là người một nhà.
Nhưng biết ơn không chỉ là thắp hương hay nói lời cảm ơn. Ông ngoại tôi, người thợ cả của làng, có một thói quen mà tôi hiểu ra muộn: ông dạy nghề cho bất kì đứa trẻ nào muốn học, không lấy tiền. Ông bảo ngày xưa người ta dạy ông như thế, giờ ông phải trả lại cho nghề. Đó mới là cách nhớ nguồn đầy đủ nhất: tiếp nối điều tốt mà mình đã nhận. Ngược lại, có những người học được nghề rồi bỏ làng, chê nghề cũ quê mùa, thậm chí làm hàng kém chất lượng rồi gắn tên làng để bán. Họ uống nước mà làm đục cả nguồn.
Mùa hè vừa rồi, tôi xin ông dạy nặn chiếc bát đầu tiên. Bát méo, men chảy loang lổ, nhưng ông vẫn mang ra miếu đặt cạnh những món đồ khác vào ngày giỗ tổ. Tôi đứng nhìn chiếc bát méo của mình giữa những chiếc bình đẹp đẽ, và hiểu rằng nhớ nguồn cũng có nghĩa là chịu khó học để nghề không dừng lại ở đời ông.
Mẫu 3: Có công mài sắt, có ngày nên kim (bài ngắn)
Ông bà ta có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim.” Một thanh sắt to, thô, cứng; một cây kim nhỏ, mảnh, sắc. Biến cái này thành cái kia bằng cách mài thì cần một thời gian dài đến mức tưởng như vô lí. Câu tục ngữ dùng hình ảnh ấy để nói rằng: chỉ cần bền bỉ, việc khó đến mấy cũng có ngày làm được.
Vì sao bền bỉ lại quan trọng đến thế? Bởi phần lớn những việc đáng làm đều không trả kết quả ngay. Học một ngoại ngữ, tập một môn thể thao, luyện chữ cho đẹp: tuần đầu tiên ta thấy mình chẳng khá hơn chút nào, và đó chính là lúc nhiều người bỏ dở. Người bền bỉ chịu đi tiếp qua quãng đường không thấy gì thay đổi ấy, cho đến khi những thay đổi nhỏ cộng lại thành một bước tiến rõ rệt.
Tôi tin câu tục ngữ ấy đúng, vì chính tôi đã thấy nó ở Khoa, bạn cùng bàn. Năm lớp sáu, Khoa nói lắp, mỗi lần bị gọi lên bảng là đỏ bừng mặt. Không ai nghĩ có ngày Khoa dẫn chương trình văn nghệ của trường. Vậy mà sáng nào Khoa cũng dậy sớm đọc to một trang sách trước gương, đọc chậm, đọc lại, kiên nhẫn suốt hai năm. Năm nay, Khoa đứng trên sân khấu ngày 20 tháng 11, giọng còn hơi run nhưng trôi chảy từ đầu đến cuối. Không có phép màu nào cả, chỉ có hàng trăm buổi sáng giống nhau.
Tuy vậy, mài sắt cũng cần đúng cách. Mài sai chỗ thì càng mài càng hỏng. Bền bỉ đâu phải là lặp lại mãi một việc vô ích; người kiên trì thông minh là người biết nhìn lại mình, đổi cách khi cần mà không bỏ mục tiêu. Đáng phê phán là thói cả thèm chóng chán: hôm nay học đàn, mai học vẽ, ngày kia bỏ cả hai vì thấy khó.
Mỗi người đều có một thanh sắt của riêng mình. Của tôi là môn Tiếng Anh. Tôi chưa biết bao giờ nó thành kim, nhưng từ tuần này, mỗi tối tôi học mười từ mới, và đánh dấu vào cuốn lịch treo cạnh bàn học.
Mẫu 4: Tôn sư trọng đạo trong thời học trực tuyến
Tối hôm trước ngày Nhà giáo Việt Nam, nhóm chat lớp tôi nhộn nhịp hẳn: bàn chuyện mua hoa, tập văn nghệ, làm thiệp. Giữa chừng, một bạn nhắn đùa rằng bây giờ cái gì cũng tra được trên mạng, cần gì thầy cô nữa. Cả nhóm thả biểu tượng cười. Tôi cũng cười, nhưng câu nói ấy làm tôi phải nghĩ lại về đạo lí tôn sư trọng đạo mà ông bà vẫn dạy.
Tôn sư là kính trọng người thầy; trọng đạo là quý những điều hay lẽ phải, những hiểu biết mà thầy truyền lại. Từ xưa, người Việt đặt thầy vào vị trí rất cao, có câu Không thầy đố mày làm nên. Đạo lí ấy nhắc mỗi người học trò nhớ rằng mình trưởng thành nhờ công dạy dỗ của người khác.
Có đúng là thời nay người thầy bớt quan trọng? Tôi nghĩ ngược lại. Mạng internet cho ta hàng nghìn câu trả lời, nhưng không cho ta biết câu nào đúng, câu nào sai, cũng không biết ta đang hiểu nhầm ở đâu. Cô dạy Văn của tôi không đọc cho chúng tôi chép những bài phân tích dài, cô hỏi đi hỏi lại một câu: em thấy gì ở chi tiết này? Nhờ những câu hỏi ấy, tôi biết tự đọc một bài thơ. Thầy cô không chỉ cho kiến thức, mà cho cách học, cách nghĩ, có khi cả cách sống: thầy chủ nhiệm từng đứng ra xin lỗi phụ huynh thay cả lớp khi chúng tôi làm hỏng một buổi lễ, rồi về lớp chỉ nói với chúng tôi một câu rất nhẹ. Từ hôm ấy, không ai trong lớp muốn thầy phải xin lỗi thay mình lần nữa.
Tôn sư trọng đạo cũng không chỉ thể hiện vào một ngày tháng Mười một. Đó là chào thầy cô khi gặp, là nghe giảng nghiêm túc, là không nói xấu thầy cô trên mạng, là cố gắng học tốt để công dạy dỗ không uổng. Có những biểu hiện đáng buồn: học sinh quay lén giờ dạy rồi cắt ghép để chế giễu, phụ huynh xúc phạm giáo viên trước mặt con. Những việc ấy làm tổn thương không chỉ một người thầy mà cả niềm tin của học trò vào việc học.
Tôn trọng thầy cô cũng không có nghĩa là thầy nói gì cũng đúng tuyệt đối. Người thầy giỏi thường vui khi học trò hỏi lại, thậm chí cãi lại một cách lễ phép và có lí. Trọng đạo nghĩa là trọng sự thật, mà thầy cô là người đầu tiên dạy ta đi tìm sự thật.
Tối hôm ấy, tôi nhắn vào nhóm: thử tra trên mạng xem ai đã ngồi chấm từng bài văn của mình, gạch chân từng lỗi chính tả. Nhóm chat im một lúc, rồi có người thả một bông hoa.
Mẫu 5: Đói cho sạch, rách cho thơm
Đầu ngõ nhà tôi có tiệm sửa xe đạp của chú Tiến. Tiệm nhỏ, chỉ là một mái tôn và mấy cái hộp đựng ốc vít. Tôi đã từng thấy một bác khách dắt xe vào, kêu xe kêu cót két, đòi thay cả bộ líp mới. Chú Tiến xem một lúc, tra ít dầu, siết lại con ốc rồi trả xe, lấy năm nghìn đồng. Bác khách ngạc nhiên. Chú bảo xe chưa hỏng thì không thay. Nhà chú không khá giả gì, nhưng chú không kiếm tiền bằng cách bịa ra bệnh cho chiếc xe. Mỗi lần nhớ chuyện ấy, tôi lại nghĩ đến câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm.”
Đói và rách là cảnh nghèo khổ, thiếu ăn thiếu mặc. Sạch và thơm là sự trong sạch, tử tế. Câu tục ngữ khuyên: dù nghèo đến đâu cũng phải giữ phẩm giá, không vì miếng ăn mà làm điều xấu, không vì nghèo mà để nhân cách lấm lem. Nói gọn lại, ông cha dạy ta giữ lòng tự trọng.
Vì sao phải giữ “sạch, thơm” ngay cả khi đói rách? Bởi cái nghèo có thể qua đi, còn tiếng xấu thì ở lại rất lâu. Một người làm ăn gian dối có thể kiếm được nhiều hơn trong vài lần, nhưng khi người ta đã biết thì không ai quay lại nữa. Tiệm của chú Tiến thì ngược lại: người trong phố tin chú, ai cũng mang xe đến, có người còn gửi chìa khóa nhà nhờ chú trông hộ. Sự trong sạch của chú trở thành vốn quý nhất. Hơn thế, lòng tự trọng giữ cho con người đứng thẳng. Người ta có thể nghèo mà vẫn được kính trọng, nhưng không ai kính trọng một người đã bán rẻ mình.
Cũng cần hiểu đúng câu tục ngữ. Nó không bảo người nghèo cam chịu cảnh nghèo, mà bảo hãy thoát nghèo bằng con đường đàng hoàng. Nó cũng không chỉ nói với người nghèo. Người khá giả mà gian lận, xu nịnh, lợi dụng chức quyền thì dù “no” và “lành” vẫn là thiếu sạch, thiếu thơm.
Với học sinh, giữ “sạch, thơm” bắt đầu từ chuyện rất nhỏ: không xin bài người khác để chép, không nhận quà để giúp bạn gian lận, không nói dối để tránh bị phạt. Chú Tiến chẳng bao giờ đọc câu tục ngữ ấy cho tôi nghe, nhưng chú đã giảng nó bằng cả cái tiệm sửa xe đầu ngõ.
Mẫu 6: Bàn về ý kiến thất bại là mẹ thành công
Đội bóng đá của lớp tôi thua cả ba trận ở giải bóng đá khối 8 năm ngoái, trận nào cũng thua đậm. Sau trận cuối, Mẫn, đội trưởng, ngồi bệt xuống sân, nói một câu mà cả đội nhớ đến giờ: thua kiểu này thì học được nhiều lắm. Chúng tôi tưởng cậu ấy nói cho đỡ ngượng. Một năm sau, đội lớp tôi vào chung kết. Từ câu chuyện ấy, tôi muốn bàn về một ý kiến quen thuộc: thất bại là mẹ thành công.
Gọi thất bại là “mẹ” của thành công nghĩa là thành công được sinh ra, được nuôi lớn từ những lần hỏng việc. Lần vấp nào cũng cho ta biết mình sai ở đâu, thiếu gì, cần thay đổi điều gì. Không ai bước đi được mà chưa từng ngã; không nhà khoa học nào tìm ra điều mới mà không làm hỏng hàng loạt thí nghiệm trước đó.
Ý kiến ấy đúng, nhưng chỉ đúng với người biết nhìn lại. Sau ba trận thua, đội tôi không tập nhiều hơn mà tập khác đi: Mẫn quay video từng trận, cả đội ngồi xem, chỉ ra những lần mất bóng vì ai cũng muốn tự mình ghi bàn. Chúng tôi tập chuyền bóng, tập giữ vị trí, tập cả cách nói với nhau trên sân sao cho không ai bị trách móc. Có buổi tập chỉ toàn chuyền qua chuyền lại, chán đến mức mấy bạn đòi bỏ về. Nếu chỉ buồn bã rồi đổ cho trọng tài, cho sân trơn, thì thua mười trận cũng không học được gì. Thất bại chỉ là “mẹ” khi người ta chịu làm con, chịu học.
Cũng không nên hiểu câu này thành lời khen cho sự cẩu thả: làm qua loa rồi thất bại, rồi tự an ủi rằng đó là mẹ thành công. Có những thất bại phải trả giá đắt và có thể tránh được nếu chuẩn bị kĩ. Câu nói dạy ta không sợ thất bại, chứ không dạy ta coi thường nó.
Trận chung kết năm nay, đội tôi vẫn thua, một không. Nhưng lúc nhận huy chương bạc, không ai cúi mặt. Mẫn cầm quả bóng, nói lại đúng câu năm ngoái, lần này cả đội cùng cười.
Bài văn bàn về một phẩm chất, lối sống
Mẫu 7: Lòng khoan dung
Tháng trước, chiếc máy ảnh cũ ông nội cho tôi bị rơi vỡ ống kính. Người làm rơi là Lân, bạn thân của tôi, mượn đi chụp ảnh cho câu lạc bộ. Lân mang trả, mặt tái mét, nói xin lỗi đến lần thứ năm. Tôi giận đến mức không nói được câu nào, quay lưng đi thẳng. Phải mất ba ngày tôi mới nhắn lại cho Lân. Ba ngày ấy dạy tôi nhiều điều về một phẩm chất mà người ta hay nhắc đến nhưng không dễ có: lòng khoan dung.
Khoan dung là rộng lượng bỏ qua cái sai của người khác, biết thông cảm với hoàn cảnh và điểm yếu của họ, không cố chấp, không thù hằn. Người khoan dung không phải người không biết giận, mà là người biết giận xong thì thôi, không để cơn giận quyết định cách mình đối xử với người khác.
Vì sao con người cần khoan dung? Trước hết, vì ai cũng có lúc sai. Lân không cố ý làm rơi máy ảnh, cũng như chính tôi từng làm mất cuốn truyện của Lân năm lớp sáu và được bỏ qua chỉ bằng một cái nhún vai. Nếu mỗi lỗi lầm đều bị ghi sổ, không tình bạn nào sống nổi qua một năm học. Thứ hai, khoan dung giải phóng chính người tha thứ. Ba ngày giận Lân, người khó chịu nhất không phải Lân mà là tôi: tôi ăn không ngon, mở điện thoại ra lại đóng vào. Khi nhắn cho Lân câu đầu tiên, tôi thấy nhẹ cả người. Thứ ba, khoan dung có sức thay đổi người khác mạnh hơn trừng phạt. Trong Những người khốn khổ của Huy-gô, giám mục Mi-ri-en không tố cáo Giăng Van-giăng, người vừa lấy trộm đồ bạc của ông, mà còn nói với cảnh sát rằng đó là quà ông tặng, rồi đưa thêm cho anh đôi chân nến bạc. Chính sự rộng lượng ấy đã khiến một người tù khổ sai quyết định làm lại cuộc đời. Một hình phạt có thể khiến người ta sợ; một lần được tha thứ có thể khiến người ta muốn tốt lên.
Tuy vậy, khoan dung khác với dung túng. Tha thứ cho người lỡ tay làm rơi máy ảnh khác hoàn toàn với việc làm ngơ cho kẻ cố tình bắt nạt bạn yếu hơn, hay lặp đi lặp lại một lỗi vì biết chắc sẽ được bỏ qua. Khoan dung đúng nghĩa đi kèm sự thẳng thắn: chỉ cho người kia thấy lỗi, rồi cho họ cơ hội sửa. Nếu tha thứ mà không nói gì, ta chỉ đang tránh né, và người sai sẽ không bao giờ biết mình sai ở đâu.
Ngược lại với khoan dung là thói hẹp hòi, để bụng, thậm chí trả đũa. Trên mạng xã hội, ta dễ thấy những người chỉ vì một lời nói lỡ lời mà bị cả nghìn người xúm vào chửi rủa, bị đào lại mọi chuyện cũ. Đám đông ấy tự cho mình là công lí, nhưng thật ra chỉ đang trút giận.
Cuối cùng, Lân đã gom tiền tiêu vặt cả học kì, cùng tôi mang máy ra tiệm thay ống kính cũ. Ảnh chụp bằng ống kính mới hơi khác màu so với trước, nhưng tôi thích nó hơn. Mỗi lần nhìn những tấm ảnh ấy, tôi nhớ rằng mình suýt nữa đã đánh đổi một người bạn lấy một ống kính.
Mẫu 8: Trung thực với chính mình (bài ngắn)
Ai cũng biết trung thực là không nói dối người khác. Ít ai nói đến một kiểu trung thực khó hơn: trung thực với chính mình.
Trung thực là tôn trọng sự thật, nói đúng điều mình biết, làm đúng điều mình nhận. Còn với chính mình, trung thực nghĩa là dám nhìn thẳng vào điều mình chưa biết, việc mình làm chưa tốt, không tự lừa mình bằng những lời bào chữa.
Kiểu trung thực này khó hơn, vì không ai kiểm tra được. Nói dối người khác còn có lúc bị phát hiện; tự lừa mình thì chẳng ai biết, kể cả chính mình sau một thời gian. Ta quen dần với việc tô đẹp bản thân, đến mức tin thật rằng mình đã cố gắng hết sức, rằng mình chỉ không may.
Tôi từng có một bài kiểm tra Toán mười lăm phút được điểm tám, nhờ liếc được một bước giải của bạn bên cạnh. Không ai phát hiện. Tôi vui được đúng một buổi chiều. Đến bài kiểm tra một tiết, dạng bài ấy xuất hiện lại và tôi không làm được. Con số tám trong sổ không giúp gì tôi; nó chỉ che đi đúng chỗ tôi cần học. Lừa thầy cô một lần, thật ra là tôi đã lừa chính mình. Tối hôm ấy, tôi mở lại vở, ngồi làm từ đầu đến cuối dạng bài kia, sai hai lần mới ra. Lần đầu tiên tôi thấy một bài toán làm đúng bằng sức mình đáng giá hơn con số tám không phải của mình.
Người không trung thực với chính mình thường có những câu cửa miệng: tại đề khó, tại cô chấm chặt, tại bạn ấy học thêm. Đổ hết cho hoàn cảnh thì dễ chịu, nhưng như thế mình sẽ mãi đứng yên. Còn người dám nói “mình chưa hiểu” lại là người tiến bộ nhanh nhất, vì họ biết chính xác cần bắt đầu từ đâu.
Từ học kì này, tôi giữ một cuốn sổ nhỏ ghi những dạng bài mình làm sai. Cuốn sổ không đẹp, nhưng nó là thứ trung thực nhất tôi có.
Mẫu 9: Giữ chữ tín
Bà tôi bán hàng tạp hóa đã ba mươi năm. Trong ngăn kéo quầy hàng có một cuốn sổ ghi nợ, nhưng bà bảo cuốn sổ ấy ít khi phải mở, vì người trong xóm hẹn ngày nào trả là ngày ấy mang tiền đến. Bà cũng vậy: hứa giữ hàng cho ai thì dù có người khác trả giá cao hơn, bà vẫn giữ. Bà gọi đó là chữ tín, và bảo đó là thứ vốn duy nhất bà có.
Chữ tín là sự đáng tin: nói được thì làm được, hứa thì giữ lời, hẹn thì đúng hẹn. Ai giữ chữ tín thì lời họ nói có giá trị như một bảo đảm.
Chữ tín cần thiết bởi quan hệ nào giữa người với người cũng dựa trên niềm tin. Bạn bè tin nhau mới dám chia sẻ, người mua tin người bán mới quay lại, thầy cô tin học trò mới giao việc. Niềm tin ấy được xây rất chậm, qua hàng trăm lần giữ lời, nhưng có thể đổ chỉ sau một lần thất hứa. Ông bà ta nói một lần bất tín thì vạn lần bất tin là vì thế. Lớp tôi có Trinh, nhận làm phần thuyết trình của nhóm rồi đến hôm trình bày mới nói chưa làm. Từ đó, dù Trinh học khá, các nhóm đều ngần ngại khi xếp bạn ấy vào. Trinh đã phải mất gần một học kì làm việc chăm chỉ mới lấy lại được lòng tin.
Cũng có lúc ta không giữ được lời hứa vì lí do chính đáng: ốm, việc gia đình đột xuất. Khi ấy, người giữ chữ tín sẽ báo trước, nói rõ lí do và tìm cách bù lại, chứ không im lặng biến mất. Và tốt nhất là đừng hứa những điều mình không chắc làm được. Hứa ít mà làm đủ đáng quý hơn hứa nhiều rồi để người khác chờ.
Từ ngày nghe bà kể, tôi tập một thói quen: trước khi nói “để mình làm cho”, tôi tự hỏi mình đã có đủ thời gian chưa. Tôi nhận lời ít hơn trước, nhưng việc nào đã nhận thì xong đúng hẹn. Hình như bạn bè cũng bắt đầu nhận ra điều đó.
Mẫu 10: Khiêm tốn mà vẫn tự tin
Lớp tôi có hai bạn cùng giỏi Toán. Bạn thứ nhất mỗi lần được điểm cao là đi một vòng khoe với cả lớp, gặp bài khó thì bảo dễ, ai hỏi thì chỉ cho bằng giọng sốt ruột. Bạn thứ hai, Hảo, được giải học sinh giỏi cấp thành phố mà mãi đến khi cô chủ nhiệm đọc tên trước lớp, chúng tôi mới biết. Ai hỏi bài, Hảo đều giảng chậm rãi, có lúc còn bảo cách của bạn hỏi hay hơn cách của mình. Cả lớp đều quý Hảo. Hai người bạn ấy cho tôi thấy rõ thế nào là khiêm tốn.
Khiêm tốn là tự biết mình đang đứng ở đâu, giỏi tới mức nào, không khoe khoang, không coi thường người khác, luôn thấy mình còn phải học. Người khiêm tốn hiểu thế giới hiểu biết rộng không có bờ, và giỏi một môn không có nghĩa là giỏi mọi thứ. Hảo từng kể, lần đi thi thành phố, Hảo gặp những bạn giải được bài theo cách Hảo chưa từng nghĩ tới; từ đó Hảo không dám cho bài nào là dễ nữa.
Khiêm tốn giúp người ta tiến bộ. Người tự cho mình đã giỏi sẽ ngừng học; người thấy mình còn thiếu thì luôn tìm cách lấp đầy. Khiêm tốn còn giúp ta được mọi người yêu quý và sẵn lòng giúp đỡ. Không ai muốn làm việc nhóm với người lúc nào cũng cho rằng ý mình là nhất.
Nhưng khiêm tốn khác hẳn với tự hạ thấp mình. Có bạn được khen thì vội chối em có giỏi gì đâu, được cử đi thi thì từ chối vì sợ người ta nghĩ mình khoe. Đó là tự ti chứ không phải khiêm tốn. Người khiêm tốn vẫn dám nhận phần việc mình làm tốt, vẫn tự tin trình bày ý kiến, chỉ là không coi mình hơn người.
Năm nay tôi được chọn vào đội tuyển Văn. Tôi tự dặn mình hai điều: không khoe trước khi thi, và không nói “chắc em trượt” khi người khác chúc. Tôi chỉ cần làm hết sức và tiếp tục học, như Hảo vẫn làm.
Mẫu 11: Hiếu thảo bắt đầu từ những việc rất thường
Mỗi lần nói đến hiếu thảo, tôi lại nhớ đến những truyện cổ tích về người con lặn lội vào rừng sâu tìm thuốc cho mẹ. Những câu chuyện ấy đẹp, nhưng chúng làm tôi từng nghĩ hiếu thảo là phải làm điều gì to lớn. Phải đến một buổi tối mùa đông năm lớp tám, tôi mới hiểu khác.
Hiếu thảo là lòng kính yêu, biết ơn và chăm sóc cha mẹ, ông bà. Người Việt coi chữ hiếu là gốc của đạo làm người, vì cha mẹ là người cho ta sự sống, nuôi ta khôn lớn bằng biết bao vất vả mà ta không thể đếm hết.
Tối hôm ấy, mẹ tôi đi làm về muộn, lại sốt. Bố đi công tác. Tôi lúng túng không biết làm gì, chỉ nhớ những lần mình ốm mẹ đã làm thế nào: nấu nồi cháo hành, đun nước gừng, đắp khăn ấm. Tôi làm theo, cháo hơi khê, nước gừng cay xè. Mẹ ăn hết bát cháo, rồi nói một câu tôi nhớ mãi: con lớn thật rồi. Lúc ấy tôi hiểu, hiếu thảo không cần đến rừng sâu. Nó nằm trong bát cháo khê, trong chiếc khăn ấm, trong việc nhận ra cha mẹ cũng có lúc mệt mỏi và cần được chăm sóc.
Hiếu thảo ở tuổi học trò còn là những việc thường ngày hơn nữa: chăm học để cha mẹ yên lòng, giúp việc nhà không chờ nhắc, lễ phép khi nói chuyện, hỏi han ông bà thay vì chỉ cúi mặt vào điện thoại. Có bạn nghĩ hiếu thảo là phải vâng lời tuyệt đối. Tôi không nghĩ vậy. Khi không đồng ý với bố mẹ, ta vẫn có thể nói lại bằng giọng nhẹ nhàng và lí lẽ đàng hoàng; cãi lại cho thắng mới là điều làm cha mẹ buồn.
Đáng buồn là có những người con chỉ nhớ đến cha mẹ khi cần tiền, hoặc đợi đến lúc cha mẹ mất mới làm đám giỗ thật to. Lòng hiếu thảo muộn màng ấy, dù thành tâm, cũng không thay được những bữa cơm đã bỏ lỡ.
Từ tối hôm ấy, tôi nấu cháo thành thạo hơn. Mẹ vẫn bảo cháo của tôi hơi khê, nhưng lần nào cũng ăn hết.
Mẫu 12: Sống có ước mơ và bài học từ Đôn Ki-hô-tê
Học đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió, cả lớp tôi cười nghiêng ngả trước chàng hiệp sĩ gầy gò cưỡi con ngựa còm Rô-xi-nan-tê lao vào những chiếc cối xay mà chàng tưởng là bọn khổng lồ. Nhưng khi gấp sách, Quý, bạn ngồi bàn bên, hỏi một câu khiến tôi lặng đi: cười Đôn Ki-hô-tê, có phải là cười người dám mơ? Câu hỏi ấy đưa tôi đến một tư tưởng đáng bàn: con người cần sống có ước mơ, nhưng ước mơ phải đi cùng sự tỉnh táo.
Ước mơ là mong muốn tốt đẹp về tương lai, là điều ta khao khát đạt được. Sống có ước mơ là sống có hướng đi, có lí do để cố gắng mỗi ngày. Trong tiểu thuyết của Xéc-van-tét, Đôn Ki-hô-tê có một ước mơ cao đẹp: làm hiệp sĩ đi khắp nơi bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác. Ước mơ ấy đáng trân trọng. Điều khiến chàng trở thành nhân vật đáng cười là chàng mơ mà không nhìn thấy thực tế, đến mức nhìn những chiếc cối xay gió thành lũ khổng lồ cần tiêu diệt.
Tôi tin con người cần ước mơ. Không có ước mơ, người ta dễ sống qua ngày, gặp khó khăn là buông. Ước mơ cho ta sức bền: một bạn mơ làm bác sĩ sẽ chịu khó học Sinh học thêm mỗi tối; một người mơ đưa nghề gốm quê mình ra thế giới sẽ chịu thức khuya học ngoại ngữ, học cách bán hàng. Ước mơ cũng làm cuộc sống có màu sắc hơn. Đôn Ki-hô-tê, dù hão huyền, vẫn là người dám sống vì điều mình tin, dám xông lên không chút sợ hãi, trong khi nhiều người xung quanh chỉ biết tính toán thiệt hơn.
Nhưng chính Đôn Ki-hô-tê cũng cho thấy giới hạn của ước mơ. Ước mơ mà rời xa thực tế thì thành ảo tưởng, và ảo tưởng làm người ta ngã đau, như chàng hiệp sĩ bị cánh quạt hất văng xuống đất. Bên cạnh chàng có Xan-chô Pan-xa, người tỉnh táo thấy rõ đó chỉ là cối xay, nhưng lại chỉ nghĩ đến chuyện ăn uống, lợi lộc trước mắt. Hai thầy trò như hai nửa: một nửa mơ mộng mà mù quáng, một nửa thực tế mà thiếu lí tưởng. Người sống tốt có lẽ cần cả hai nửa ấy: mơ cao như Đôn Ki-hô-tê, nhưng đặt chân trên mặt đất như Xan-chô.
Trong cuộc sống, ta gặp cả hai kiểu người lệch về một phía. Có người mơ làm ca sĩ nổi tiếng nhưng không chịu tập luyện, chỉ chờ một lần được ai đó phát hiện. Có người lại cho rằng ước mơ là chuyện viển vông, chỉ cần học xong kiếm việc ổn định là được, rồi sống cả đời không biết mình thật sự thích gì. Cả hai đều đáng tiếc.
Tôi trả lời Quý rằng chúng ta không cười Đôn Ki-hô-tê vì chàng dám mơ, mà vì chàng không chịu nhìn. Tối đó, tôi viết vào trang đầu cuốn sổ tay ước mơ của mình, làm kiến trúc sư, và bên dưới là ba việc nhỏ cần làm trong năm nay: học vẽ hình học cho chắc, đọc một cuốn sách về nhà cửa, và chăm chỉ học Toán. Ước mơ ở dòng trên; cối xay gió và mặt đất ở ba dòng dưới.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Giải thích sơ sài hoặc bỏ qua, vào thẳng phần chứng minh. | Viết riêng một đoạn giải thích: nghĩa đen, nghĩa bóng, rồi gói tư tưởng chính vào một câu. Phần này đúng thì cả bài mới đúng hướng. |
| Bằng chứng chung chung, không có tên, không có việc cụ thể. | Mỗi luận điểm một bằng chứng có địa chỉ: một sự kiện lịch sử, một nhân vật văn học đã học, một việc em chứng kiến được kể bằng chi tiết. |
| Dẫn chứng sai hoặc bịa (gán câu nói cho danh nhân, nhớ nhầm năm tháng). | Chỉ dùng dẫn chứng em chắc chắn; câu trích phải chép đúng. Không nhớ chính xác thì diễn đạt lại ý, bỏ ngoặc kép. |
| Chỉ ca ngợi một chiều, không có phần bàn luận. | Thêm đoạn chỉ ra biểu hiện trái ngược đáng phê phán và cách hiểu sai cần tránh (khoan dung khác dung túng, khiêm tốn khác tự ti, kiên trì khác cố chấp). |
| Nhầm sang nghị luận về hiện tượng đời sống: kể dài về một hiện tượng mà không bàn đến tư tưởng. | Câu chuyện đời sống chỉ là bằng chứng; trục của bài vẫn là câu nói hay phẩm chất mà đề nêu. |
| Kết bài hô khẩu hiệu: mỗi chúng ta hãy…, em sẽ luôn luôn… | Kết bằng một việc làm cụ thể, đo được, hoặc quay lại câu chuyện ở mở bài để khép vòng. |
Mẹo nhỏ: khi gặp đề là một câu tục ngữ, hãy tự hỏi ba câu trước khi viết: câu này nói gì, vì sao nó đúng, và nó có khi nào không đúng. Câu hỏi thứ ba giúp bài văn có phần bàn luận, thứ thường làm nên khác biệt giữa bài khá và bài giỏi.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu làm đúng đề thực hành trong sách Cánh diều, hãy đọc mẫu 1: bài đi đủ các bước giải thích, chứng minh bằng lịch sử, bàn luận và liên hệ bản thân. Muốn học cách giải thích một câu tục ngữ, xem mẫu 2, 3 và 5. Mẫu 7 và mẫu 12 là bài dài, có dẫn chứng văn học và phần bàn luận về giới hạn của tư tưởng. Khi chỉ có một tiết, mẫu 3, 8 và 10 cho thấy cách gói đủ ý trong khoảng bốn trăm chữ. Mỗi mẫu mở đầu bằng một câu chuyện khác nhau; khi luyện viết, em hãy thay bằng câu chuyện của chính mình.
Xem thêm:
- Bài soạn cùng Bài 8 (Cánh diều 8): Soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh, Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió, Soạn bài Tức nước vỡ bờ
- Văn mẫu nghị luận gần đề: Nghị luận về một vấn đề của đời sống lớp 8, Nghị luận về một vấn đề trong đời sống lớp 7, Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết lớp 9
- Ca dao, tục ngữ làm dẫn chứng: Ca dao uống nước nhớ nguồn, Ca dao, tục ngữ về tôn sư trọng đạo, Ca dao, tục ngữ về lòng trung thực, Ca dao, tục ngữ về lòng hiếu thảo