Tác phẩm văn học là sáng tác nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu, do một người hay cả một cộng đồng tạo ra, xây dựng nên thế giới hình tượng (nhân vật, cảnh vật, tâm trạng) để nói về đời sống và gửi gắm tư tưởng, tình cảm. Một bài ca dao, một truyện ngắn, một vở kịch hay một cuốn tiểu thuyết đều là tác phẩm văn học.
| Khái niệm | Sáng tác nghệ thuật bằng ngôn từ, có hình tượng, hướng tới người đọc |
| Nghĩa của từ | Tác phẩm (作品: cái được làm ra) + văn học (nghệ thuật ngôn từ) |
| Thuộc | Lí luận văn học; là đơn vị cơ bản của mọi nền văn học |
| Dấu hiệu nhận biết | Chất liệu ngôn từ, có hình tượng, có hư cấu hoặc chọn lọc, gửi gắm thông điệp và cảm xúc |
| Hai mặt | Nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng) và hình thức (ngôn từ, kết cấu, thể loại) |

Tác phẩm văn học được làm bằng gì?
Người họa sĩ làm việc với màu, nhạc sĩ với âm thanh, còn nhà văn chỉ có chữ. Cùng là những chữ ta dùng hằng ngày, nhưng trong tác phẩm, chúng được chọn lọc và sắp đặt để dựng lên một thế giới riêng: một làng quê có ông lão nuôi con chó vàng, một cô gái đứng bên lầu nhìn ra cửa bể. Nói theo cách của sách lí luận, đó là một sáng tạo bằng lời của người viết, và nó chỉ hoàn tất khi đến tay người đọc.
Từ đó có thể nhìn tác phẩm ở hai lớp. Lớp thứ nhất là văn bản: chữ in trên giấy, số trang, số câu, có thể đếm và chép lại được. Lớp thứ hai là thế giới hình tượng hiện lên trong đầu người đọc khi đọc những dòng chữ ấy; lớp này không nằm sẵn trên trang giấy mà chỉ “sống” khi có người đọc. Một cuốn truyện nằm yên trên giá sách thì mới là văn bản; khi được mở ra và gây xúc động cho ai đó, nó mới trọn vẹn là tác phẩm.
Ở bình diện pháp lí, tác phẩm văn học còn là một loại tài sản trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam xếp tác phẩm văn học vào nhóm tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, cùng với sách khoa học, sách giáo khoa và các tác phẩm thể hiện bằng chữ viết.
Bốn dấu hiệu nhận ra một tác phẩm văn học
Một bản tin thời tiết và một bài thơ về cơn mưa cùng dùng tiếng Việt, cùng nói về mưa. Điều làm chúng khác nhau nằm ở mấy dấu hiệu sau:
- Ngôn từ được dùng như chất liệu nghệ thuật. Chữ không chỉ để báo tin mà còn để gợi hình, gợi âm thanh, gợi cảm xúc; đổi một chữ là có thể mất cái hay.
- Có hình tượng. Tác phẩm nói qua nhân vật, sự việc, cảnh vật hay cái tôi trữ tình, chứ không nêu thẳng kết luận. Nam Cao không cần viết câu “người nông dân nghèo mà trong sạch”; ông để lão Hạc làm điều đó.
- Có hư cấu hoặc ít nhất là chọn lọc, sắp xếp lại đời sống. Truyện có thể bịa hoàn toàn; kí, tùy bút dựa vào việc thật nhưng người viết vẫn chọn chi tiết, đặt điểm nhìn và bộc lộ cảm xúc.
- Có thông điệp và giá trị thẩm mĩ. Đọc xong, người đọc mang theo một suy nghĩ hay cảm xúc nào đó, và đọc lại lần sau có thể thấy thêm nghĩa mới. Văn bản thông tin thì đọc một lần nắm đủ ý là xong việc.
Thiếu dấu hiệu thứ hai và thứ tư, một văn bản dù viết hay vẫn chỉ là văn bản thông tin hay nghị luận thông thường. Đây là lí do bài báo đưa tin về một trận lũ không phải tác phẩm văn học, còn bút kí về chính trận lũ ấy thì có thể là.
Phân loại tác phẩm theo loại và thể
Lí luận văn học truyền thống chia tác phẩm thành ba loại lớn theo cách tái hiện đời sống, mỗi loại lại gồm nhiều thể:
| Loại | Cách nói về đời sống | Một số thể |
|---|---|---|
| Tự sự | Kể lại sự việc, có cốt truyện và nhân vật | Truyện ngắn, tiểu thuyết và đặc điểm của nó, truyện cổ tích, truyện thơ |
| Trữ tình | Bộc lộ trực tiếp cảm xúc, tâm trạng | Thơ trữ tình, ca dao trữ tình |
| Kịch | Để nhân vật tự hành động, đối thoại trên sân khấu | Bi kịch, hài kịch, chính kịch, chèo, tuồng |
Nhiều sách hiện nay tách thêm kí (phóng sự, tùy bút, hồi kí) và nghị luận văn chương thành nhóm riêng. Ngoài ra còn hai cách chia hay gặp: theo hình thức ngôn từ (văn vần và văn xuôi), theo nguồn gốc sáng tác (văn học viết của tác giả có tên tuổi và sáng tác truyền miệng của dân gian).
Lão Hạc, Làng, Truyện Kiều: soi ba tác phẩm quen
Đặt khái niệm vào ba tác phẩm học sinh hay gặp, có thể thấy các dấu hiệu trên hiện ra thế nào.
Lão Hạc: tư tưởng nằm trong một cái chết
Truyện ngắn của Nam Cao (1943) kể về một lão nông nghèo bán con chó vàng, gửi tiền và mảnh vườn lại cho con rồi tự tìm đến cái chết. Tác phẩm không có câu nào giảng giải về nhân cách, nhưng hình tượng lão Hạc khiến người đọc tự hiểu cái nghèo đã dồn con người tới đâu và cái trong sạch vẫn được giữ đến cùng. Phần phân tích nhân vật lão Hạc và giá trị truyện đi sâu hơn vào điểm này.
Làng: một tâm trạng thành cả câu chuyện
Truyện của Kim Lân (1948) xoay quanh ông Hai, người đi tản cư mà lúc nào cũng khoe làng mình. Nghe tin làng theo giặc, ông đau đớn, xấu hổ, không dám ra đường. Cả truyện hầu như chỉ là diễn biến trong lòng một người, vậy mà nói được tình yêu làng gắn với lòng yêu nước. Xem thêm bài soạn truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Truyện Kiều: một tác phẩm, nhiều cách đọc
Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng chữ Nôm, thể lục bát, dài 3.254 câu. Đây là truyện thơ, tức tác phẩm tự sự viết bằng thơ, nên vừa có cốt truyện vừa đậm chất trữ tình. Hai thế kỉ qua người ta vẫn đọc ra những tầng nghĩa mới từ cùng một văn bản, đúng với dấu hiệu thứ tư ở trên.
Tác phẩm văn học khác văn bản văn học ở đâu?
| Khái niệm | Chỉ cái gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Văn bản văn học | Lớp ngôn từ cụ thể: câu chữ, đoạn, chương | Đoạn trích in trong sách giáo khoa |
| Tác phẩm văn học | Văn bản cộng với thế giới hình tượng và ý nghĩa sống trong lòng người đọc | Truyện Kiều như một chỉnh thể nghệ thuật |
| Văn học | Cả loại hình nghệ thuật ngôn từ, hoặc toàn bộ tác phẩm của một thời, một dân tộc | Văn học trung đại Việt Nam |
| Văn bản thông tin | Văn bản chủ yếu cung cấp hiểu biết, không dựng hình tượng | Bài giới thiệu một danh lam, bản tin |
Trong giờ đọc hiểu, đoạn trích là văn bản; khi bàn về giá trị, ta bàn về cả tác phẩm. Muốn hiểu chữ “văn học” ở tầng rộng nhất, đọc thêm bài văn học hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.
Khi viết bài phân tích mà chữ tác phẩm lặp nhiều, có thể đổi sang thiên truyện, áng văn hay sáng tác theo gợi ý đồng nghĩa, trái nghĩa với tác phẩm.
Luyện nhận diện: bốn câu có đáp án
Câu 1: Trong các văn bản sau, văn bản nào là tác phẩm văn học: bản tin dự báo thời tiết; bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”; tờ hướng dẫn sử dụng nồi cơm điện; truyện ngắn Lão Hạc?
Đáp án: Bài ca dao và truyện ngắn Lão Hạc. Cả hai dùng ngôn từ để dựng hình tượng (núi Thái Sơn, nước trong nguồn; nhân vật lão Hạc) và gửi gắm tình cảm. Bản tin và tờ hướng dẫn chỉ cung cấp thông tin, đọc xong là dùng được ngay, không cần hình tượng.
Câu 2: Xếp các tác phẩm sau vào loại tự sự, trữ tình hoặc kịch: Làng (Kim Lân), Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Sơn Tinh, Thủy Tinh.
Đáp án: Tự sự: Làng, Sơn Tinh, Thủy Tinh (truyện truyền thuyết). Trữ tình: Bánh trôi nước. Kịch: Vũ Như Tô. Lưu ý Bánh trôi nước có tả chiếc bánh nhưng mục đích là bộc lộ thân phận và bản lĩnh người phụ nữ, nên vẫn thuộc trữ tình.
Câu 3: Vì sao một bài báo đưa tin về trận lũ không phải tác phẩm văn học, còn một bút kí viết về chính trận lũ đó lại có thể là?
Đáp án: Bài báo nhằm báo tin chính xác: số liệu, thời gian, địa điểm. Bút kí cũng dựa vào việc thật nhưng người viết chọn chi tiết, dựng cảnh, đặt cảm xúc và suy ngẫm của mình vào, tạo ra hình tượng và giá trị thẩm mĩ. Ranh giới nằm ở mục đích và cách dùng ngôn từ, không nằm ở đề tài.
Câu 4: Trong truyện Làng, hãy chỉ ra một chi tiết cho thấy nhà văn gửi tư tưởng qua hình tượng chứ không nói thẳng.
Đáp án tham khảo: Cảnh ông Hai ôm đứa con út, hỏi con nhà ta ở đâu, ủng hộ ai, rồi nghe con trả lời. Kim Lân không viết câu “ông Hai trung thành với kháng chiến”; ông để nhân vật mượn lời con trẻ giãi bày lòng mình. Người đọc tự nhận ra tình yêu làng đã hòa vào tình yêu nước.
Tác phẩm văn học trong giờ Ngữ văn và ngoài đời
Thế nào là tác phẩm văn học, nói ngắn gọn nhất?
Là một sáng tác bằng lời (viết ra hoặc truyền miệng) dựng lên hình tượng về con người, cuộc sống để người đọc cảm và nghĩ. Truyện, thơ, kịch, kí đều thuộc phạm vi này.
Một tác phẩm văn học gồm những yếu tố nào?
Gồm hai mặt gắn liền nhau. Nội dung có đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng; hình thức có ngôn từ, kết cấu, thể loại, nhân vật, chi tiết. Khi phân tích, bước xác định chủ đề khi đọc một tác phẩm thường là bước khó nhất vì chủ đề ít khi được nói thẳng.
Tác phẩm văn học có được bảo hộ bản quyền không?
Có. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, người viết tự động có quyền tác giả từ lúc tác phẩm được viết ra dưới một hình thức cụ thể, không cần đăng ký mới có; phần lớn các quyền ấy kéo dài trong suốt cuộc đời người viết và thêm 50 năm tính từ năm sau khi họ qua đời. Ca dao, truyện cổ tích không rõ tác giả thuộc văn học dân gian, được dùng tự do hơn.
Làm bài phân tích một tác phẩm văn học nên bắt đầu từ đâu?
Nên đọc kĩ toàn văn bản, xác định thể loại trước, vì thể loại quyết định cách đọc: truyện thì nhìn vào nhân vật và tình huống, thơ thì nhìn vào hình ảnh và cảm xúc. Có thể tham khảo dàn ý trong các bài văn phân tích, đánh giá tác phẩm lớp 10.