Vấn đề xã hội là một tình trạng gây ảnh hưởng xấu đến nhiều người trong cộng đồng, được số đông nhìn nhận là cần thay đổi, và không một cá nhân nào tự giải quyết nổi. Thất nghiệp, ô nhiễm không khí, bạo lực học đường hay nghiện mạng xã hội đều là ví dụ. Trong môn Ngữ văn, cụm từ này còn gắn với kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội.
| Nghĩa ngắn | Chuyện chung của nhiều người, có hại hoặc đáng lo, cần cả cộng đồng chung tay |
| Cấu tạo | Vấn đề (問題, điều cần được giải quyết) + xã hội (社會, cộng đồng người) |
| Loại từ | Cụm danh từ |
| Tiếng Anh | social issue, social problem |
| Dùng nhiều ở | Báo chí, xã hội học, đề văn nghị luận xã hội |

Khi nào chuyện riêng thành vấn đề xã hội?
Một người mất việc là chuyện buồn của gia đình người ấy. Hàng chục nghìn người mất việc trong một năm vì nhà máy đóng cửa hàng loạt thì đó đã là vấn đề xã hội. Ranh giới nằm ở ba điểm.
- Diện ảnh hưởng rộng. Không phải một, hai người, mà nhiều người, nhiều gia đình, đôi khi cả một thế hệ.
- Được cộng đồng gọi tên. Một tình trạng chỉ thành “vấn đề” khi đủ nhiều người thấy nó có hại và muốn thay đổi. Vì thế có chuyện từng bị coi là bình thường, như tục lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ tuổi, về sau mới được nhìn nhận là vấn đề cần ngăn chặn.
- Nguyên nhân vượt khỏi tầm tay một người. Gốc rễ thường nằm ở kinh tế, phong tục, luật lệ hay công nghệ, nên lời khuyên “cố gắng lên” không đủ; phải có chính sách, nhà trường, gia đình, tổ chức cùng làm.
Hai chữ trong cụm từ cũng gợi đúng tinh thần ấy. Vấn đề là điều được đặt ra để phải trả lời, phải giải quyết; chữ này có nguồn gốc khá thú vị, kể ở bài chữ vấn, chữ đề và cái đề bài phải trả lời. Còn xã hội là cả cộng đồng người sống cùng nhau. Ghép lại: câu hỏi mà cả cộng đồng phải cùng trả lời.
Một bài viết trên Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam từng nhận xét rằng các nghiên cứu trong nước hay đi thẳng vào từng vấn đề cụ thể như nghèo đói, bất bình đẳng, bạo lực gia đình, mà ít khi dừng lại định nghĩa khái niệm chung. Hiểu khái niệm trước rồi mới xét từng hiện tượng sẽ giúp nhìn ra điểm chung giữa chúng.
Vấn đề xã hội trong đề văn nghị luận
Ở trường phổ thông, cụm từ này xuất hiện nhiều nhất trong tên kiểu bài: “Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội”. Đề có thể nêu thẳng vấn đề (“ô nhiễm rác thải nhựa”), hoặc đưa một câu chuyện, một bức ảnh, một số liệu để học sinh tự gọi tên.
Muốn gọi tên đúng, có thể tự hỏi ba câu: chuyện này ảnh hưởng đến ai và bao nhiêu người; vì sao nó xảy ra; nếu không ai làm gì thì hậu quả là gì. Trả lời được cả ba là đã có bộ khung cho thân bài: thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp. Khung này quen đến mức nhiều người viết thành công thức, nên phần làm bài văn nổi bật lên thường là ở dẫn chứng gần gũi và ở chỗ chỉ ra được một nguyên nhân người khác bỏ qua.
Đề lớp 10 có nhiều mẫu viết theo hướng này, xem bài mẫu nghị luận về vấn đề xã hội lớp 10. Muốn phân biệt kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống với nghị luận về tư tưởng đạo lí, đọc bài ba dạng đề của văn nghị luận xã hội.
Vấn đề xã hội, tệ nạn xã hội và hiện tượng đời sống
| Cụm từ | Phạm vi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Vấn đề xã hội | Rộng nhất: mọi tình trạng có hại, cần chung tay giải quyết | Thất nghiệp, ô nhiễm, già hóa dân số, áp lực học tập |
| Tệ nạn xã hội | Hẹp hơn: hành vi lệch chuẩn, thường vi phạm pháp luật hoặc đạo đức | Trộm cắp, nghiện rượu, đua xe trái phép |
| Hiện tượng đời sống | Trung tính: điều đang diễn ra, có thể tốt hoặc xấu | Phong trào đọc sách, trào lưu sống xanh, thói quen dùng điện thoại khi ăn |
Có nơi dùng lẫn “vấn đề xã hội” với “tệ nạn xã hội”, nhưng hai cụm không trùng nhau. Mọi tệ nạn đều là vấn đề xã hội; ngược lại thì không, vì thất nghiệp hay biến đổi khí hậu chẳng phải “tệ nạn” của ai. Bài các dạng tệ nạn và tác hại giải thích riêng nhóm hẹp ấy. Còn “hiện tượng đời sống” là chữ của đề văn: một hiện tượng tốt, như phong trào hiến máu, vẫn đem ra bàn được nhưng không gọi là vấn đề xã hội.
Chuyện sinh ít con cũng là một vấn đề xã hội lớn, nhất là khi một nước đã rơi xuống dưới ngưỡng mức sinh thay thế.
Những nhóm vấn đề gần với học sinh
- Trường học: bạo lực học đường, áp lực điểm số, học thêm tràn lan.
- Công nghệ: dùng mạng xã hội quá đà, tin giả, lừa đảo qua mạng.
- Môi trường: rác thải nhựa, khói bụi đô thị, thiếu nước sạch ở vùng hạn mặn.
- Gia đình và giới: định kiến giới, trẻ em thiếu sự quan tâm khi bố mẹ đi làm xa.
Nhóm cuối có bài riêng về chữ bình đẳng giới trong đời sống. Chọn đề tự do thì nên chọn vấn đề mình từng chứng kiến: một trận đánh nhau trước cổng trường kể bằng mắt mình thấy thuyết phục hơn mười con số chép lại.
Vấn đề xã hội qua vài tình huống cụ thể
Vấn đề xã hội tiếng Anh là gì?
Thường dùng social issue hoặc social problem. “Social problem” nhấn vào mặt có hại, còn “social issue” rộng hơn, có khi chỉ một chủ đề gây tranh luận trong xã hội.
Ví dụ về vấn đề xã hội mà học sinh hay gặp là gì?
Bạo lực học đường, nghiện điện thoại, áp lực thi cử, rác thải nhựa quanh trường. Các ví dụ này vừa ảnh hưởng đến nhiều bạn cùng lứa, vừa cần cả nhà trường lẫn gia đình chung tay.
Vấn đề xã hội có phải lúc nào cũng là chuyện xấu?
Bản thân vấn đề là điều cần khắc phục, nên mang màu tiêu cực. Tuy vậy, bàn về vấn đề xã hội không phải là kể tội: bài văn hay thường chỉ ra cả những cách người ta đang cùng nhau giải quyết.
Vấn đề xã hội khác chuyện cá nhân thế nào?
Chuyện cá nhân ảnh hưởng chủ yếu đến một người và người đó có thể tự xoay xở. Vấn đề xã hội lặp lại ở rất nhiều người, có nguyên nhân chung, và chỉ giải quyết được khi nhiều bên cùng làm.