Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là văn bản nghị luận trung đại được học trong Ngữ văn 8 (Kết nối tri thức, Cánh diều) và Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo. Bài viết tổng hợp thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời (khoảng 1284–1285), đặc điểm thể hịch, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật lập luận và sơ đồ tư duy để em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Hịch tướng sĩ
Bài hịch mở đầu bằng lời dẫn quen thuộc “Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế…”, rồi lần lượt triển khai bốn ý lớn:

- Nêu gương trung thần nghĩa sĩ: kể những người bề tôi xả thân vì chủ, vì nước trong sử sách Trung Quốc và cả hai tấm gương đương thời thời Tống, Nguyên, để khẳng định người trung nghĩa thì được lưu danh.
- Tố cáo tội ác của giặc, bộc lộ nỗi lòng chủ tướng: sứ giặc nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, vơ vét ngọc lụa, bạc vàng; Trần Quốc Tuấn đau xót đến quên ăn mất ngủ, nguyện hi sinh để rửa nhục cho nước.
- Phân tích phải trái: nhắc ân tình chủ – tướng; phê phán thái độ bàng quan và lối sống hưởng lạc của tướng sĩ; chỉ ra hậu quả khi mất nước và viễn cảnh vẻ vang khi thắng giặc.
- Kêu gọi hành động: chuyên tập Binh thư yếu lược; ai khinh bỏ lời dạy thì chẳng khác gì kẻ thù.
Văn bản trong sách giáo khoa là bản dịch từ nguyên tác chữ Hán. Để đọc kĩ từng đoạn kèm câu hỏi, em xem bài soạn bài Hịch tướng sĩ.
Thông tin tác giả Trần Quốc Tuấn
Trần Quốc Tuấn (1231?–1300; năm sinh trong các tài liệu chưa thống nhất) là con của An Sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, được phong tước Hưng Đạo vương nên người đời quen gọi là Hưng Đạo Đại Vương hay Trần Hưng Đạo. Ông nổi tiếng văn võ song toàn, sớm nổi danh vì tài thao lược và đức độ.
Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287–1288), ông được vua Trần Nhân Tông giao chức Quốc công Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Dưới sự chỉ huy của ông, quân dân Đại Việt đánh bại đạo quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thời bấy giờ, tiêu biểu là trận Bạch Đằng năm 1288. Ông cũng nổi tiếng với chủ trương lấy sức dân làm gốc; trước khi mất, ông căn dặn vua Trần Anh Tông phải “khoan thư sức dân” để làm kế lâu dài giữ nước.
Ông mất năm 1300, được nhân dân tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất là đền Kiếp Bạc. Về trước tác, ông để lại Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư (nay đã thất truyền, chỉ còn lời tựa) và bài Hịch tướng sĩ – áng văn chính luận nổi tiếng nhất của thời Trần.
Có thể câu chuyện dân gian về ông cũng giúp em hiểu thêm hình ảnh vị anh hùng này trong tâm thức người Việt: xem truyện Hưng Đạo Đại Vương.
Thông tin tác phẩm Hịch tướng sĩ
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu chung về bài hịch.
Xuất xứ Hịch tướng sĩ
Bài hịch có nguyên tác chữ Hán mang tên Dụ chư tì tướng hịch văn (bài văn hịch răn bảo các tướng dưới quyền), được chép trong bộ Đại Việt sử kí toàn thư. Tên gọi Hịch tướng sĩ là cách gọi ngắn gọn quen dùng trong nhà trường.
Hoàn cảnh sáng tác Hịch tướng sĩ
- Sau lần xâm lược thất bại năm 1258, đế quốc Mông Cổ (từ năm 1271 lập ra nhà Nguyên) ráo riết chuẩn bị đánh Đại Việt lần thứ hai. Sứ giặc sang nước ta đi lại nghênh ngang, hạch sách, đòi hỏi vô độ.
- Trong khi đó, một bộ phận tướng sĩ nhà Trần lại sống cầu an, ham vui chơi, chưa thấy hết nguy cơ.
- Khoảng năm 1284, trước cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), Trần Quốc Tuấn viết bài hịch để khích lệ tướng sĩ học tập Binh thư yếu lược, nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Sử cũ chép rằng trong cuộc kháng chiến này, quân sĩ nhà Trần thích lên cánh tay hai chữ “Sát Thát” (giết giặc Mông Cổ) để tỏ quyết tâm.
Hịch tướng sĩ thuộc thể loại gì?
Hịch tướng sĩ thuộc thể hịch – một thể văn nghị luận thời trung đại. Đặc điểm chính của thể hịch:
- Do vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh phong trào viết ra để cổ động, thuyết phục, kêu gọi đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài.
- Kết cấu chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục; đặc biệt giàu sức khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe.
- Thường viết theo lối văn biền ngẫu (các vế câu sóng đôi, cân xứng).
- Bố cục thường gặp: nêu vấn đề – nêu gương sáng trong lịch sử – phân tích tình hình, phải trái – nêu chủ trương, kêu gọi hành động.
Khác với chiếu (vua ban bố mệnh lệnh) hay cáo (công bố một sự kiện trọng đại), hịch nhấn mạnh sức kêu gọi, cổ vũ tinh thần.
Phương thức biểu đạt
Phương thức biểu đạt chính là nghị luận, kết hợp với biểu cảm (bộc lộ trực tiếp nỗi lòng chủ tướng) và yếu tố tự sự khi kể các tấm gương lịch sử.
Bố cục: Hịch tướng sĩ có mấy phần?
Bài hịch có thể chia làm 4 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”): nêu gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước.
- Phần 2 (từ “Huống chi” đến “ta cũng vui lòng”): tố cáo sự hống hách, tội ác của giặc và bày tỏ lòng căm thù giặc của chủ tướng.
- Phần 3 (từ “Các ngươi ở cùng ta” đến “không muốn vui vẻ phỏng có được không?”): nhắc ân tình chủ – tướng, phê phán những biểu hiện sai trái của tướng sĩ, chỉ ra hậu quả và điều nên làm.
- Phần 4 (còn lại): nêu nhiệm vụ cấp bách là học tập Binh thư yếu lược, khích lệ tinh thần chiến đấu.
Luận đề và nghệ thuật lập luận
- Luận đề: kêu gọi tướng sĩ nêu cao cảnh giác, chăm lo huấn luyện, học tập binh thư để đánh thắng giặc Mông – Nguyên.
- Trình tự lập luận: đi từ chuẩn mực chung (gương xưa) đến thực tế trước mắt (tội ác giặc), từ ân tình đến phê phán, từ hậu quả đến giải pháp – vừa “khích” vừa “dụ”.
- Phép tương phản: đặt cảnh nước mất nhà tan cạnh cảnh chiến thắng vẻ vang qua cặp câu “chẳng những… mà…” để tướng sĩ tự lựa chọn.
- Giọng điệu linh hoạt: lúc là lời tâm tình của người cùng cảnh ngộ, lúc mỉa mai, trách mắng nghiêm khắc, lúc đanh thép như mệnh lệnh.
Giá trị nội dung
Bài hịch phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên: lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết chiến quyết thắng và tinh thần sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Đồng thời, văn bản khắc họa chân dung vị chủ tướng hết lòng vì nước, thương yêu mà nghiêm khắc với tướng sĩ – biểu hiện tiêu biểu của hào khí Đông A thời Trần.
Giá trị nghệ thuật
- Áng văn chính luận xuất sắc: kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, dẫn chứng phong phú.
- Kết hợp hài hòa giữa lí trí và tình cảm, giữa lời khuyên răn và lời bộc bạch.
- Câu văn biền ngẫu cân đối, nhịp nhàng; nhiều phép điệp, liệt kê, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ.
- Hình ảnh giàu sức gợi, ví dụ “uốn lưỡi cú diều”, “đem thịt mà nuôi hổ đói”.
Ý nghĩa nhan đề Hịch tướng sĩ
Nhan đề cho biết ngay thể loại (hịch) và đối tượng (tướng sĩ). Tên chữ Hán Dụ chư tì tướng nhấn mạnh tính chất “dụ” – vừa răn dạy vừa khuyên bảo các tướng dưới quyền, phù hợp với giọng văn vừa nghiêm khắc vừa thân tình của bài.
Sơ đồ tư duy Hịch tướng sĩ
Sơ đồ dưới đây gom những ý cần nhớ nhất về tác giả và tác phẩm để em ôn tập nhanh trước giờ kiểm tra.

Hịch tướng sĩ trong sách giáo khoa mới
- Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1, Bài 3 “Lời sông núi” (học cùng Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Nam quốc sơn hà).
- Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1, Bài 5 “Nghị luận xã hội” (học cùng Nước Đại Việt ta, Chiếu dời đô).
- Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2, Bài 9 “Khát vọng độc lập và tự do”.
Lời kết
Nắm chắc tiểu sử Trần Quốc Tuấn, hoàn cảnh ra đời, đặc điểm thể hịch và bố cục bốn phần là nền tảng để em soạn bài, tóm tắt hay viết bài phân tích Hịch tướng sĩ. Hãy chú ý cách tác giả kết hợp lí lẽ với tình cảm – đó chính là “chìa khóa” làm nên sức thuyết phục của bài hịch.
Xem thêm:
- Soạn bài Hịch tướng sĩ (Kết nối tri thức 8, Chân trời sáng tạo 10)
- Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
- Nam quốc sơn hà: tác giả, tác phẩm
- Đại cáo bình Ngô: tác giả, tác phẩm
- Mở bài Hịch tướng sĩ hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, theo đề
- Kết bài Hịch tướng sĩ hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề