Mở bài Hịch tướng sĩ là phần dẫn vào bài nghị luận về áng hịch Trần Quốc Tuấn viết bằng chữ Hán trước lần thứ hai quân Nguyên kéo sang, văn bản học trong Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, Ngữ văn 8 Cánh diều và Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo. Mở bài tốt cần cho thấy bài hịch vừa là lời hiệu triệu tướng sĩ, vừa là tiếng lòng của vị chủ soái nhà Trần. Dưới đây là 13 mẫu viết sẵn: trực tiếp, gián tiếp, theo đề thường gặp và nâng cao.

Cách viết mở bài Hịch tướng sĩ
- Gọi đúng tên và tước hiệu: Trần Quốc Tuấn, tước Hưng Đạo Vương, người được vua Trần giao thống lĩnh quân đội; tên chữ Hán của bài là Dụ chư tì tướng hịch văn.
- Nêu đúng thời điểm: bài hịch ra đời khoảng năm 1284, khi nhà Nguyên đang chuẩn bị đánh Đại Việt lần thứ hai (1285).
- Nhắc đặc trưng thể hịch: văn nghị luận cổ dùng để kêu gọi, thường viết theo lối biền ngẫu, kết hợp lí lẽ với cảm xúc.
- Câu chốt bám đúng đề: phân tích cả bài, lòng yêu nước của chủ tướng, nghệ thuật lập luận hay một đoạn cụ thể.
- Câu văn trích phải theo đúng bản dịch in trong SGK, không chép theo trí nhớ; chỉ nên trích ngắn.
Mở bài trực tiếp Hịch tướng sĩ
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Hịch tướng sĩ là bài hịch Trần Quốc Tuấn soạn để khích lệ quân sĩ nhà Trần trước khi giặc Nguyên tràn sang lần thứ hai. Qua lời lẽ khi tha thiết, khi nghiêm khắc, bài hịch cho thấy một tấm lòng sôi sục vì nước và ý chí không chịu khuất phục của cả một thời đại.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Trần Quốc Tuấn, tước Hưng Đạo Vương, là vị chủ soái đã đưa quân dân Đại Việt tới thắng lợi trong hai lần đánh đuổi quân Nguyên vào các năm 1285 và 1288. Khoảng năm 1284, khi sứ Nguyên ra vào kinh thành với thái độ hống hách và đại quân phương Bắc lăm le kéo xuống, ông viết bằng chữ Hán bài Dụ chư tì tướng hịch văn, quen gọi là Hịch tướng sĩ. Bài văn phê phán thói cầu an của tướng sĩ, chỉ ra con đường sống còn là luyện quân theo Binh thư yếu lược, đồng thời thổ lộ nỗi đau day dứt của người cầm quân. Có thể xem Hịch tướng sĩ là nơi lí lẽ sắc bén và tình cảm thiết tha cùng hướng về một mục đích: giữ trọn non sông.
Mở bài gián tiếp Hịch tướng sĩ
Mẫu 3 – từ hào khí Đông A thời Trần
Sử sách ghi lại rằng chỉ trong khoảng ba mươi năm, quân dân nhà Trần đã ba lần đánh lui đạo quân Mông – Nguyên, đạo quân từng khiến bao nước lớn phải khuất phục. Sức mạnh ấy được người đời sau gọi bằng ba chữ hào khí Đông A, và một trong những nơi hào khí ấy kết tinh rõ nhất chính là Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Ra đời giữa lúc vận nước như ngàn cân treo sợi tóc, bài hịch vừa là mệnh lệnh của vị chủ soái, vừa là lời giãi bày gan ruột, thức tỉnh tướng sĩ khỏi lối sống an nhàn để cùng nhau sửa soạn cho cuộc chiến một mất một còn.
Mẫu 4 – từ đặc trưng của thể hịch
Thời trung đại, hịch thuộc loại văn nghị luận, được dùng để kêu gọi, cổ vũ đông đảo người nghe cùng hành động trước một biến cố lớn. Muốn lay động được lòng người, bài hịch phải có lí lẽ chặt mà cũng phải có lửa cảm xúc. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một bài như thế. Viết theo lối văn biền ngẫu với những vế câu sóng đôi nhịp nhàng, tác phẩm vừa dẫn gương người xưa, vừa vạch rõ hiểm họa trước mắt, vừa trách móc, răn dạy tướng sĩ, để cuối cùng quy tất cả về một quyết tâm: luyện quân sẵn sàng và đánh thắng giặc Nguyên.
Mẫu 5 – từ con người vừa cầm gươm vừa cầm bút
Có những vị tướng chỉ để lại tên tuổi nơi chiến trường, còn Trần Quốc Tuấn để lại dấu ấn cả trên trang sách. Bên cạnh những trận thắng làm rạng danh quân đội nhà Trần, ông biên soạn Binh thư yếu lược để dạy phép dùng binh và viết Hịch tướng sĩ để khơi dậy ý chí cho người cầm vũ khí. Đọc bài hịch, ta gặp một vị chủ soái hiểu rõ tâm lí từng người dưới quyền: biết lúc nào nên nhắc đến ân tình, lúc nào phải buông lời nặng nề. Chính sự thấu hiểu ấy làm cho áng văn có sức thuyết phục hiếm có.
Mẫu 6 – so sánh với các áng văn yêu nước khác
Văn học Việt Nam thời trung đại có một dòng văn chính luận gắn liền với những cuộc chống ngoại xâm. Nếu Nam quốc sơn hà khẳng định chủ quyền bằng giọng thơ đanh thép, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi tổng kết một cuộc kháng chiến đã toàn thắng, thì Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn ra đời khi trận chiến còn ở phía trước, lúc lòng người cần được đánh thức. Đứng giữa hai tác phẩm ấy, bài hịch thời Trần mang một giọng riêng: vừa là lời hiệu triệu của người cầm quân, vừa là tiếng nói tình nghĩa giữa chủ tướng với những người cùng vào sinh ra tử.
Mẫu 7 – từ hoàn cảnh lịch sử trước năm 1285
Những năm trước 1285, sứ giả nhà Nguyên nhiều lần đến Thăng Long với thái độ ngạo mạn, đòi hỏi vàng bạc, châu báu và coi thường vua quan Đại Việt. Một cuộc xâm lược lớn đang được chuẩn bị ở phương Bắc, trong khi không ít tướng sĩ vẫn mải vui thú riêng. Chứng kiến cảnh sứ giặc “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”, Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch tướng sĩ. Bài hịch là hồi chuông cảnh tỉnh đúng lúc, giúp tướng sĩ nhận ra nỗi nhục của nước và trách nhiệm của chính mình trước giờ đất nước bước vào thử thách.
Mẫu 8 – từ sức mạnh của lời văn
Có người ví một bài văn hay với sức mạnh của cả một đạo quân. Lời ví ấy rất đúng với Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Không cần tiếng trống trận hay ngọn cờ lệnh, chỉ bằng chữ nghĩa, vị Quốc công Tiết chế đã khiến những người lính đang say chọi gà, mê rượu ngon phải giật mình nhìn lại bản thân. Tìm hiểu bài hịch là tìm hiểu vì sao những trang viết ra đời từ thế kỉ XIII vẫn còn nguyên sức khích lệ: đó là sự gặp gỡ giữa lí lẽ sắc sảo, hình ảnh sinh động và một tình yêu đất nước chân thành.
Mở bài Hịch tướng sĩ theo đề thường gặp
Mẫu 9 – đề phân tích lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn
Lòng yêu nước của người xưa không chỉ nằm trong lời thề mà còn hiện ra qua những trăn trở rất đời thường. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn tự bộc bạch: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối”. Một vị tướng quyền cao chức trọng mà mất ăn mất ngủ vì nỗi nhục của nước, đau đến mức sẵn lòng hi sinh thân mình. Đề bài yêu cầu phân tích lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn qua Hịch tướng sĩ chính là mời ta đi vào thế giới nội tâm ấy: căm giận kẻ thù, xót xa cho vận nước và khát khao tướng sĩ cùng mình đứng lên.
Mẫu 10 – đề phân tích nghệ thuật lập luận
Đọc Hịch tướng sĩ, người ta không chỉ xúc động trước tấm lòng của Trần Quốc Tuấn mà còn khâm phục cách ông dẫn dắt người nghe. Bài hịch đi từ gương sáng của các bậc trung thần trong sử sách, đến tội ác của giặc và nỗi lòng chủ tướng, rồi quay sang trách cứ tướng sĩ và vẽ ra hai tương lai trái ngược để họ tự lựa chọn. Mỗi phần đều chuẩn bị cho phần sau, khiến người nghe không thể chối cãi. Phân tích nghệ thuật lập luận của Hịch tướng sĩ giúp ta hiểu vì sao áng văn này được xem là mẫu mực của văn nghị luận thời trung đại.
Mẫu 11 – đề phân tích đoạn trách cứ tướng sĩ
Đoạn văn được nhắc đến nhiều nhất trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn có lẽ là lời trách cứ thẳng thắn dành cho tướng sĩ: họ “nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn”. Tiếp sau đó là hàng loạt thú vui tầm thường được kể ra không kiêng nể: chọi gà, cờ bạc, săn bắn, rượu ngon, tiếng hát. Đó không phải lời mắng nhiếc cho hả giận mà là liều thuốc đắng của người chủ tướng mong thuộc hạ tỉnh ngộ. Phân tích đoạn văn này, ta thấy rõ cả tài lập luận lẫn tấm lòng nghiêm khắc mà bao dung của tác giả.
Mẫu 12 – đề phân tích hình tượng người chủ tướng
Hình ảnh người chủ tướng trong Hịch tướng sĩ hiện lên với nhiều nét đẹp đan xen. Trần Quốc Tuấn đứng đầu quân đội nhưng không ra lệnh từ trên cao; ông nhắc lại những năm tháng cùng tướng sĩ chia nhau manh áo, bữa cơm, cùng sống chết nơi trận mạc. Ông cũng là người thầy sẵn sàng nói lời nặng để người dưới quyền nên người, và là bề tôi đau đáu trước nỗi nhục của vua, của nước. Với đề bài phân tích hình tượng người chủ tướng, ta cần làm rõ sự kết hợp giữa uy nghiêm, ân tình và tình yêu Tổ quốc trong con người Hưng Đạo Vương.
Mở bài Hịch tướng sĩ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – từ câu kết “biết bụng ta”
Cuối bài hịch, sau bao lời dẫn giải, trách cứ và răn dạy, Trần Quốc Tuấn khép lại bằng một lời giản dị đến bất ngờ: ông viết bài hịch để tướng sĩ “biết bụng ta”. Lời ấy như chiếc chìa khóa mở ra toàn bộ tác phẩm. Hịch tướng sĩ không phải một văn bản hành chính lạnh lùng, cũng không đơn thuần là bài giảng về đạo làm tướng; đó là cõi lòng của một con người được phơi trải trước những người cùng chung vận mệnh. Lí lẽ trong bài sắc như mũi giáo, nhưng sức thuyết phục sâu xa nhất lại đến từ sự chân thành: người nghe tin vào lời kêu gọi vì nhìn thấy ở đó một trái tim đang rỉ máu vì đất nước. Bởi vậy, đã hơn bảy thế kỉ trôi qua, áng văn của Hưng Đạo Vương vẫn đứng vững trong văn học dân tộc như một bằng chứng về sức mạnh của chữ nghĩa khi gắn với tình yêu Tổ quốc.
Nên chọn mẫu mở bài Hịch tướng sĩ nào?
Mười ba mẫu mở bài Hịch tướng sĩ trên đây đi vào áng hịch của Trần Quốc Tuấn từ nhiều lối: giới thiệu thẳng, từ hào khí Đông A, từ thể hịch, từ hoàn cảnh lịch sử hay so sánh với những áng văn yêu nước khác. Đề phân tích cả bài nên dùng mẫu trực tiếp hoặc gián tiếp; đề hỏi lòng yêu nước, nghệ thuật lập luận hay đoạn trách cứ tướng sĩ thì chọn mẫu riêng theo đề. Khi dùng, em nên viết lại bằng giọng văn của mình và giữ câu chốt khớp với yêu cầu đề.
Xem thêm:
- Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Soạn bài Hịch tướng sĩ – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Hịch tướng sĩ – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Phân tích Hịch tướng sĩ – dàn ý và 6 bài văn mẫu
- Tóm tắt Hịch tướng sĩ ngắn gọn, đầy đủ
- Kết bài Hịch tướng sĩ hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề