Nghị luận về một vấn đề trong đời sống là kiểu bài viết trọng tâm của học kì II Ngữ văn 7 ở cả ba bộ sách: Bài 6 (trình bày ý kiến tán thành) và Bài 8 (phản đối một quan niệm, một cách hiểu khác) của Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Bài 6 và Bài 7 của Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, Bài 8 của Ngữ văn 7 Cánh diều. Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài theo từng bộ, dàn ý chung cho ba dạng đề hay gặp (tán thành một ý kiến, phản đối một quan niệm, bàn về một hiện tượng) và 12 bài văn mẫu, mỗi bài bàn một vấn đề khác nhau, gần với chuyện học, chuyện nhà, chuyện trường của học sinh.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề trong đời sống
Bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống là bài người viết nêu rõ ý kiến của mình (đồng tình hay không đồng tình) về một thói quen, một lối sống, một quan niệm hoặc một hiện tượng có thật, rồi đưa ra lí lẽ, bằng chứng khiến người đọc tin theo. Dùng bảng dưới đây để tự kiểm tra bài sau khi viết.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Vấn đề | Cụ thể, có thật, có nhiều cách nhìn khác nhau (ví dụ: học sinh có nên tự làm việc nhà, con trai có được khóc không). Vấn đề được nêu ngay ở mở bài. |
| Ý kiến của người viết | Rõ ràng là tán thành hay phản đối, giữ nhất quán từ đầu đến cuối, không nước đôi. |
| Giải thích | Làm rõ từ ngữ, quan niệm hoặc biểu hiện của hiện tượng trước khi bàn, để người đọc hiểu đúng điều đang tranh luận. |
| Lí lẽ | Mỗi lí lẽ một đoạn, có câu chủ đề trả lời câu hỏi vì sao; các lí lẽ không lặp nhau. |
| Bằng chứng | Đa dạng và xác thực: chuyện của bản thân, của bạn bè, gia đình, sự việc em chứng kiến; số liệu chỉ dùng khi biết rõ nguồn. Không bịa khảo sát hay câu nói của người nổi tiếng. |
| Ý kiến khác | Nêu được ý kiến trái chiều, thừa nhận phần có lí của nó rồi chỉ ra chỗ chưa đúng. |
| Đề xuất | Có việc làm, giải pháp cụ thể mà học sinh làm được. |
| Bố cục, diễn đạt | Đủ ba phần; có từ ngữ nối các lí lẽ (trước hết, thứ hai, mặt khác, tuy vậy, vì thế…); câu rõ ràng, giọng điềm tĩnh, không nặng lời với người có ý kiến khác. |
Mỗi bộ sách đặt trọng tâm hơi khác nhau:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn của đề |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 6 (Viết, trang 16) và Bài 8 (Viết, trang 67) | Bài 6: trình bày ý kiến tán thành; bài tham khảo trong sách đồng tình với ý kiến coi gia đình là một trường học. Bài 8: thể hiện ý kiến phản đối một quan niệm, một cách hiểu khác; bài tham khảo bác quan niệm chỉ thích làm việc lớn, coi việc nhỏ là vô nghĩa, bằng cách phản bác từng khía cạnh rồi chỉ ra tác hại. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 2, Bài 6 (Viết, trang 17–20); luyện tiếp ở Bài 7 | Văn bản tham khảo bàn về sự tha thứ và giá trị của nó, có đoạn giải thích, đoạn nhìn vấn đề từ nhiều phía và một đề xuất giải pháp. Em được tự chọn vấn đề mình quan tâm, tán thành hoặc phản đối. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 8 (Viết, trang 46) | Định hướng: xác định vấn đề, tìm tư liệu, giải thích vấn đề rồi làm sáng tỏ ý kiến bằng lí lẽ và bằng chứng; phần thực hành gợi ý bàn về lối sống giản dị, học cùng văn bản về đức tính giản dị của Bác Hồ. |
Dàn ý bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống
1. Mở bài
– Dẫn dắt từ một chuyện, một hình ảnh gần gũi em từng chứng kiến.
– Nêu vấn đề cần bàn và ý kiến của em: tán thành hay phản đối.
2. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
+ Từ ngữ, quan niệm được hiểu như thế nào; với một hiện tượng thì nêu biểu hiện.
+ Nếu là quan niệm em phản đối: những người tin vào nó nghĩ gì, vì sao.
b. Các lí lẽ và bằng chứng (thường 2–3 lí lẽ)
+ Dạng tán thành: vì sao ý kiến đúng; làm theo thì có lợi gì; nếu làm ngược lại thì ra sao.
+ Dạng phản đối: quan niệm sai ở chỗ nào (bác từng khía cạnh); tin theo nó thì có hại gì; cách hiểu đúng là gì.
+ Dạng hiện tượng: thực trạng, nguyên nhân, tác hại hoặc ý nghĩa.
⇒ Mỗi lí lẽ đi kèm ít nhất một bằng chứng cụ thể.
c. Xem xét ý kiến khác
+ Nêu ý kiến trái chiều, thừa nhận phần hợp lí (nếu có).
+ Chỉ ra chỗ chưa đúng và khẳng định lại ý kiến của em.
d. Đề xuất
+ Những việc làm cụ thể cho bản thân, bạn bè, gia đình, nhà trường.
3. Kết bài
– Khẳng định lại ý kiến bằng cách nói khác mở bài.
– Liên hệ bản thân hoặc gửi một lời nhắn ngắn.
Mẹo tìm ý: với mỗi lí lẽ, hãy tự hỏi ba câu: vì sao như vậy, ví dụ ở đâu, nếu ngược lại thì sao. Câu nào chưa trả lời được thì lí lẽ ấy còn yếu, nên thay hoặc tìm thêm bằng chứng.
Bài văn trình bày ý kiến tán thành
Mẫu 1: Học sinh lớp 7 nên tự làm việc nhà
Sáng thứ hai tuần trước, tôi đến lớp với chiếc áo đồng phục nhàu nhĩ, vì mẹ đi công tác ba ngày, còn tôi thì chưa từng cầm bàn là. Chuyện nhỏ ấy làm tôi nhớ lại một ý kiến cô chủ nhiệm từng nêu trong giờ sinh hoạt: học sinh lớp 7 đã đủ lớn để tự làm những việc nhà vừa sức. Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến đó.
Việc nhà vừa sức không phải là những việc nặng nhọc của người lớn. Đó là gấp quần áo của mình, rửa bát sau bữa ăn, quét nhà, phơi đồ, nấu một nồi cơm, cho con mèo ăn đúng giờ. Ở tuổi mười hai, mười ba, chúng ta làm được hết những việc này nếu chịu học.
Lí do đầu tiên khiến tôi đồng tình là việc nhà dạy ta tự lập. Một người không biết tự lo bữa ăn, quần áo cho mình thì lúc vắng bố mẹ sẽ lúng túng như tôi sáng hôm ấy. Sau lần đó, tôi nhờ bà nội chỉ cách là áo: trải áo phẳng trên khăn, là từ cổ xuống vạt, xịt chút nước cho vải mềm. Chỉ mất hai buổi tối, giờ tôi là được cả áo cho em gái.
Lí do thứ hai, làm việc nhà giúp ta hiểu và thương người trong gia đình hơn. Trước kia tôi nghĩ rửa bát chỉ mất năm phút. Đến khi tự rửa sau bữa giỗ ông, với hơn ba chục cái bát và mấy chiếc nồi bám mỡ, tôi mới biết mẹ đã đứng bên bồn rửa bao lâu sau mỗi bữa cơm. Từ hôm đó, bữa nào tôi cũng thu dọn bát đĩa cho mẹ mà không cần ai nhắc.
Không chỉ vậy, việc nhà còn rèn tính cẩn thận và cách sắp xếp thời gian. Muốn vừa học xong bài vừa phơi hết chậu quần áo trước khi trời tối, tôi phải tính việc nào làm trước, việc nào làm sau. Cách tính toán ấy về sau dùng được cả khi lập kế hoạch ôn thi.
Có bạn cho rằng học sinh chỉ cần lo học, việc nhà để người lớn làm. Tôi hiểu bố mẹ nào cũng muốn con có nhiều thời gian cho bài vở. Nhưng một việc nhà nhỏ chỉ chiếm mười lăm, hai mươi phút mỗi ngày, ít hơn nhiều so với thời gian chúng ta lướt điện thoại. Học giỏi mà không biết tự chăm sóc mình thì vẫn là chưa lớn.
Mỗi bạn có thể bắt đầu bằng một tờ giấy dán trên cửa tủ lạnh, ghi hai việc nhà mình nhận làm mỗi ngày. Tờ giấy nhà tôi đã dán được một tháng, và chiếc áo đồng phục của tôi không còn nhàu nữa.
Mẫu 2: Hỏi khi chưa hiểu không có gì đáng xấu hổ
Bạn đã bao giờ ngồi trong giờ Toán, nhìn lên bảng thấy một bước biến đổi lạ hoắc, định giơ tay rồi lại thôi vì sợ cả lớp cười chưa? Tôi đã như thế suốt học kì I. Vì vậy, khi cô giáo dạy Văn nói rằng hỏi lúc chưa hiểu là dấu hiệu của người biết học chứ không phải của người kém, tôi tán thành ngay, và càng nghĩ càng thấy ý kiến ấy đúng.
Hỏi ở đây là chủ động nêu ra điều mình chưa rõ để được giải thích: hỏi thầy cô một bước giải, hỏi bạn cách nhớ một công thức, hỏi bố mẹ một từ đọc thấy trên báo. Ông cha ta đã gói điều này vào câu tục ngữ Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học. Biết bắt đầu từ chỗ dám thừa nhận mình chưa biết.
Trước hết, câu hỏi giúp lấp chỗ hổng kiến thức khi nó còn nhỏ. Kiến thức Toán nối tiếp nhau như những bậc thang. Đầu năm, tôi không hiểu vì sao hai số âm nhân với nhau lại ra số dương, nhưng ngại hỏi. Sang bài lũy thừa, rồi bài biểu thức, chỗ hổng ấy cứ rộng dần, bài kiểm tra mười lăm phút nào tôi cũng sai đúng một kiểu. Mãi đến khi tôi nán lại sau giờ học để hỏi, thầy chỉ mất năm phút vẽ trục số là tôi hiểu. Năm phút ấy lẽ ra tôi đã có từ ba tháng trước.
Thứ hai, câu hỏi của một người thường giúp được cả lớp. Lớp tôi có Khánh, cậu bạn hỏi nhiều nhất. Lúc đầu có người chê Khánh làm mất thời gian. Nhưng để ý mới thấy, mỗi lần Khánh hỏi, cô lại giảng theo một cách khác, và không ít bạn gật gù như vừa vỡ lẽ. Chỉ là họ không dám làm người giơ tay trước.
Thứ ba, biết hỏi là kĩ năng mà người lớn cũng cần. Bố tôi làm thợ điện đã hai mươi năm, nhưng mỗi khi gặp loại thiết bị mới, bố vẫn gọi điện hỏi một đồng nghiệp trẻ hơn. Bố bảo, đoán mò với điện thì nguy hiểm hơn nhiều so với một lần bị cười. Nghề nào cũng có lúc gặp điều mới, và người chịu hỏi sẽ ít mắc sai lầm hơn.
Tất nhiên, sẽ có người lo rằng hỏi nhiều sẽ làm mình lười suy nghĩ, gặp gì cũng chờ người khác giảng. Nỗi lo ấy có phần đúng nếu ta hỏi khi còn chưa chịu đọc lại đề. Nhưng hỏi thông minh khác với hỏi ỷ lại. Người hỏi thông minh đã tự thử, biết mình vướng ở đâu và hỏi đúng chỗ ấy, kiểu như: thưa cô, em làm đến bước này thì không hiểu vì sao lại đổi dấu. Một câu hỏi như vậy cho thấy người hỏi đã nghĩ rất nhiều.
Cũng có bạn sợ bị chê là dốt. Nhưng thử nghĩ xem, cái dốt thật sự là giả vờ hiểu rồi mang chỗ hổng ấy vào phòng thi. Cái ngượng khi đặt câu hỏi chỉ kéo dài vài giây, còn cái lợi thì theo mình suốt năm học.
Để việc hỏi trở nên dễ dàng hơn, mỗi người có thể bắt đầu từ những thói quen nhỏ: ghi câu hỏi ra lề vở ngay khi thấy chưa hiểu, hỏi bạn cùng bàn trước rồi mới hỏi thầy cô, và quan trọng nhất là không cười khi bạn khác đặt câu hỏi. Lớp học nào không ai sợ hỏi, lớp ấy sẽ tiến bộ nhanh hơn.
Từ học kì II, tôi tự đặt cho mình một mục tiêu: mỗi tuần ít nhất một câu hỏi trong giờ Toán. Tuần đầu, tay tôi giơ lên còn run. Đến giờ thì tôi đã hiểu, người đáng ngại không phải là người đặt câu hỏi, mà là người đã thôi không muốn biết thêm điều gì.
Mẫu 3: Bàn về câu tục ngữ Lời chào cao hơn mâm cỗ
Ông bà ta có câu Lời chào cao hơn mâm cỗ. Mâm cỗ là thứ quý, phải tốn công, tốn của mới có, còn lời chào thì ai cũng có sẵn trên môi. Ấy vậy mà người xưa lại đặt lời chào cao hơn. Em rất đồng tình với cách nghĩ ấy.
Một lời chào cho thấy sự tôn trọng và quan tâm của mình đối với người khác. Khi em lễ phép chào bác hàng xóm mỗi sáng đi học, bác hiểu rằng em để ý đến bác, coi bác là người thân quen. Ngược lại, một vị khách được mời ăn cỗ thịnh soạn mà chủ nhà mặt lạnh tanh, chẳng hỏi han câu nào, chắc chắn sẽ thấy bữa cỗ nhạt nhẽo.
Lời chào còn là cánh cửa mở ra một tình bạn. Đầu năm lớp 7, lớp em có bạn Ngọc mới chuyển đến. Bạn ít nói, giờ ra chơi chỉ ngồi một chỗ. Đến khi Tú ngồi bàn trên quay xuống chào và hỏi tên, Ngọc mới mỉm cười. Bây giờ hai bạn đã thành đôi bạn thân của lớp.
Thế nhưng quanh em vẫn có những bạn gặp thầy cô ở hành lang thì lảng đi, khách đến nhà thì chạy vào phòng đóng cửa. Có thể các bạn chỉ ngại, nhưng người khác dễ nghĩ các bạn thiếu lễ độ.
Lời chào chẳng tốn tiền, chỉ cần một chút để ý. Sáng nay đi qua cổng trường, em chào bác bảo vệ. Bác ngẩng lên khỏi tờ báo, giơ tay chào lại, nụ cười làm nheo cả khóe mắt.
Mẫu 4: Mỗi học sinh nên theo một môn thể thao
Bài kiểm tra chạy 800 mét môn Thể dục đầu năm, tôi về gần cuối, vừa chạy vừa thở dốc, hai chân nặng như đeo chì. Thầy không trách, chỉ nói rằng mỗi học sinh nên chọn cho mình một môn thể thao và tập đều đặn như một môn học. Lúc ấy tôi gật đầu cho xong. Nửa năm sau, tôi tán thành lời thầy bằng chính trải nghiệm của mình.
Theo một môn thể thao không có nghĩa là phải trở thành vận động viên. Đó có thể là bơi, cầu lông, đá cầu, bóng rổ hay chỉ là chạy bộ, miễn là mình tập đều mỗi tuần vài buổi và muốn tiến bộ ở môn đó.
Lợi ích dễ thấy nhất là sức khỏe. Học sinh lớp 7 ngồi rất nhiều: năm tiết ở trường, buổi tối lại ngồi vào bàn học. Cơ thể ít vận động sẽ mỏi lưng, mỏi mắt, dễ tăng cân. Từ khi theo bố chơi cầu lông ba buổi sáng mỗi tuần, tôi ít ốm vặt hẳn, lần kiểm tra cuối kì chạy hết 800 mét mà vẫn còn sức tăng tốc ở vòng cuối.
Thể thao còn rèn tính kiên trì. Không ai đánh cầu giỏi sau một buổi. Những tuần đầu tôi phát cầu hỏng liên tục, có hôm muốn bỏ. Nhưng chính việc tập đi tập lại một động tác dạy tôi rằng cái gì khó cũng cần thời gian. Giờ gặp một bài hình học khó, tôi cũng bình tĩnh hơn, chịu thử cách này rồi cách khác.
Ngoài ra, thể thao giúp ta có thêm bạn và học được cách thắng thua. Đội bóng rổ lớp bên thua trận chung kết hội khỏe Phù Đổng của trường, các bạn vẫn sang bắt tay đội thắng rồi ngồi lại với nhau rút kinh nghiệm. Nhìn cảnh ấy, tôi nghĩ sân tập cũng dạy ta cách cư xử chẳng kém gì lớp học.
Có người lo chơi thể thao làm mất thời gian học. Thật ra, một tiếng vận động giúp đầu óc tỉnh táo, buổi học tối sau đó lại hiệu quả hơn. Chỉ cần sắp xếp hợp lí, thể thao và học tập không hề tranh giành nhau.
Nếu chưa biết chọn môn nào, bạn hãy thử một môn bạn bè đang chơi, hoặc rủ bố mẹ đi bộ sau bữa tối. Sân trường chiều thứ bảy lúc nào cũng còn chỗ cho một người mới.
Bài văn phản đối một quan niệm, một cách hiểu khác
Dạng đề này ứng với Bài 8 Kết nối tri thức và cũng dùng được cho Chân trời sáng tạo, Cánh diều khi em chọn hướng không đồng tình.
Mẫu 5: Con trai thì không được khóc?
Trận chung kết bóng đá khối 7 năm ngoái, lớp tôi thua ở loạt sút luân lưu. Quân, thủ môn của lớp, ngồi bệt xuống vạch vôi, hai vai run lên. Một bạn đứng cạnh vỗ vai cậu, nói to: Con trai ai lại khóc, mất mặt lắm. Quân vội lấy tay áo quệt mắt, đứng dậy cười gượng. Hình ảnh ấy khiến tôi nghĩ mãi về một quan niệm rất quen: con trai thì không được khóc. Tôi cho rằng quan niệm này sai.
Người giữ quan niệm ấy cho rằng nước mắt là dấu hiệu của sự yếu đuối, mà con trai lớn lên phải mạnh mẽ, phải gánh vác, nên cần tập giấu cảm xúc từ nhỏ. Nhiều bé trai ba, bốn tuổi ngã đau đã nghe người lớn dặn nín ngay, con trai phải cứng rắn. Mong con trai mạnh mẽ là chính đáng. Cái sai nằm ở chỗ đánh đồng mạnh mẽ với không được khóc.
Trước hết, khóc là cảm xúc tự nhiên của mọi con người, không phân biệt trai hay gái. Ai cũng có lúc buồn, đau, tiếc nuối hay xúc động. Nước mắt giúp nỗi buồn được bày tỏ thay vì bị dồn nén. Ông nội tôi là người đàn ông cứng cỏi nhất tôi biết, từng đi bộ đội, mưa bão vẫn ra đồng. Vậy mà hôm tiễn chú út đi làm xa, ông đứng ở cổng rất lâu, mắt đỏ hoe. Không ai trong nhà thấy ông yếu đuối, chúng tôi chỉ thấy ông thương con nhiều đến thế nào.
Thứ hai, ép mình không được khóc không làm nỗi buồn mất đi mà chỉ cất nó vào trong. Người quen nuốt nước mắt dễ trở nên khép kín, gặp chuyện cũng không biết chia sẻ với ai. Có những bạn nam trong lớp bị điểm kém, bị bố mẹ mắng, nhưng không dám kể với bạn bè vì sợ bị trêu là mít ướt. Nỗi buồn dồn lâu ngày, có khi biến thành cáu gắt, có khi thành sự im lặng kéo dài. Quan niệm tưởng giúp con trai mạnh mẽ hóa ra lại khiến các bạn cô đơn hơn.
Thứ ba, quan niệm ấy còn ngấm ngầm dạy con trai coi thường nỗi buồn của người khác. Khi đã tin khóc là đáng xấu hổ, người ta dễ chế giễu người khóc, như cậu bạn đã nói với Quân. Trong khi đó, biết đồng cảm, biết nhận ra người bên cạnh đang buồn lại là điều ai cũng cần để làm một người bạn tốt, một người con tốt, sau này là một người cha tốt.
Có người sẽ hỏi: vậy cứ gặp chuyện là khóc sao? Tất nhiên là không. Mạnh mẽ thật sự là dám đối diện với cảm xúc, khóc khi cần, rồi đứng dậy làm tiếp việc của mình. Khóc khi mất đi người thân khác hẳn với khóc lóc ăn vạ để được mua đồ chơi. Điều nên dạy cho trẻ em, cả trai lẫn gái, là thể hiện cảm xúc cho đúng lúc và cách vượt qua nó, chứ không phải một lệnh cấm khóc.
Nhìn lại trận đấu hôm ấy, tôi nghĩ Quân khóc vì cậu đã cố hết sức cho lớp. Những giọt nước mắt đó đáng được tôn trọng hơn là bị chê cười. Mà chính Quân, sau buổi chiều ấy, là người đầu tiên đề nghị cả đội ở lại tập thêm sút phạt đền cho mùa giải sau.
Mỗi chúng ta có thể bắt đầu thay đổi từ việc nhỏ: thôi nói câu con trai không được khóc với em trai mình, thôi trêu bạn nam nào lỡ rơi nước mắt, thay vào đó là hỏi một câu: cậu có ổn không? Nếu một ngày chính em muốn khóc, em có muốn được nghe câu hỏi ấy không?
Mẫu 6: Học thêm càng nhiều càng giỏi?
Hải, bạn ngồi cạnh tôi, có một thời khóa biểu kín đặc: tối thứ hai học thêm Toán, thứ ba Tiếng Anh, thứ tư Văn, thứ năm lại Toán, thứ sáu Khoa học tự nhiên, cuối tuần thêm hai buổi luyện đề. Mẹ Hải tin rằng học thêm càng nhiều thì con càng giỏi. Tôi hiểu tấm lòng của cô, nhưng tôi không nghĩ như vậy.
Học thêm vốn không xấu. Khi bị hổng kiến thức một môn, hoặc muốn ôn thi học sinh giỏi, một lớp học thêm phù hợp có thể giúp ta rất nhiều. Cái sai của quan niệm nằm ở hai chữ càng nhiều, như thể kiến thức là thứ có thể đổ đầy bằng số buổi ngồi trong lớp.
Trước hết, học không chỉ là nghe giảng mà còn là tự làm, tự nghĩ. Một bài toán được giảng xong chỉ thật sự thành của mình khi ta tự giải lại được. Lịch học thêm kín đặc thì thời gian tự học bị cắt sạch. Hải kể tối nào về đến nhà cũng chín giờ, ăn vội rồi làm bài của lớp học thêm, còn bài tập trên lớp thì sáng hôm sau mới chép vội. Kiến thức được nạp vào rất nhiều nhưng không có lúc nào để nghĩ lại, nên chóng quên.
Thứ hai, học quá sức làm cả cơ thể lẫn tinh thần mệt mỏi. Ở tuổi chúng tôi cần ngủ đủ giấc, cần vận động, cần một chút thời gian để chơi. Có tuần Hải ngủ gục ngay trong tiết Lịch sử buổi sáng. Thầy hỏi, cậu chỉ cười trừ. Một học sinh thiếu ngủ thì học thêm bao nhiêu cũng khó tiếp thu.
Thứ ba, quan niệm ấy dễ khiến ta học vì số buổi chứ không vì sự hiểu. Có bạn đi học thêm cho yên tâm, vì bạn bè ai cũng đi, chứ không biết mình yếu ở đâu. Trong khi đó, Mai lớp tôi chỉ học thêm Tiếng Anh, các môn còn lại tự học theo kế hoạch riêng, học kì I vẫn đứng đầu lớp. Điều làm nên khác biệt là cách học, không phải số lớp học thêm.
Theo tôi, mỗi bạn nên tự hỏi: mình yếu môn nào, cần học thêm phần nào, mỗi tuần còn bao nhiêu thời gian để tự ôn. Bố mẹ cũng nên trò chuyện với con trước khi đăng kí lớp, thay vì chọn theo số đông. Một lịch học có chỗ cho tự học, cho thể thao, cho giấc ngủ đủ dài mới là lịch học giúp ta giỏi lên.
Cuối học kì, mẹ Hải đã đồng ý cho cậu bớt hai buổi. Tối thứ tư giờ là lúc Hải ngồi làm lại các bài sai trong tuần. Cậu bảo, lần đầu tiên sau nhiều tháng, cậu thấy mình hiểu bài chứ không chỉ chép bài.
Mẫu 7: Bạn thân thì không cần cảm ơn, xin lỗi?
Mượn bút của Linh, tôi buột miệng cảm ơn. Linh nhăn mặt: Bạn thân mà cảm ơn làm gì, khách sáo quá! Nhiều người cũng nghĩ như vậy: đã là bạn thân thì không cần nói cảm ơn hay xin lỗi. Em không đồng tình với cách nghĩ này.
Đúng là giữa bạn thân, ta không cần những lời lẽ trịnh trọng như với người lạ. Nhưng hai lời ấy đâu phải phép lịch sự để giữ khoảng cách. Đó là cách cho người kia biết mình trân trọng điều họ làm, và hiểu rằng mình đã khiến họ buồn.
Chính vì thân nên ta dễ coi sự giúp đỡ của bạn là chuyện đương nhiên. Linh chép bài hộ em suốt tuần em ốm, tối nào cũng chụp ảnh vở gửi lúc mười giờ đêm. Nếu em chỉ nhận mà không nói gì, lâu dần Linh sẽ nghĩ em coi đó là bổn phận của bạn ấy.
Lời xin lỗi lại càng cần hơn. Có lần em lỡ kể bí mật của Linh cho cả nhóm nghe. Em nghĩ bạn thân thì Linh sẽ tự bỏ qua. Linh không giận to, chỉ im lặng suốt ba ngày. Đến khi em viết mấy dòng xin lỗi kẹp vào hộp bút của bạn, Linh mới nói chuyện lại. Hóa ra không nói ra thì vết xước nhỏ vẫn nằm nguyên đó.
Tình bạn càng thân càng cần được giữ bằng những lời chân thành. Bây giờ, mỗi lần Linh giúp, em vẫn nói cảm ơn, có khi kèm một chiếc kẹo dẻo hình con gấu. Linh vẫn nhăn mặt, nhưng lần nào cũng bóc kẹo ăn ngay.
Mẫu 8: Thấy bạn bị bắt nạt thì im lặng cho khỏi liên lụy?
Giờ ra chơi, ở cuối hành lang tầng ba, ba bạn nam lớp bên vây quanh một cậu bé nhỏ thó, giật cặp kính rồi chuyền tay nhau. Khoảng mười học sinh đứng gần đó. Không ai lên tiếng. Có người quay đi, có người còn giơ điện thoại lên quay. Sau đó, khi tôi hỏi một bạn vì sao không báo thầy cô, bạn ấy đáp gọn: Việc của người ta, dây vào làm gì cho mệt. Câu trả lời ấy nói thay cho một cách nghĩ không hiếm: thấy bạn bị bắt nạt thì cứ im lặng cho khỏi liên lụy. Tôi phản đối cách nghĩ ấy.
Những người chọn im lặng thường có lí do. Họ sợ bị trả thù, sợ bị gọi là kẻ mách lẻo, hoặc nghĩ trêu chọc là chuyện thường ở tuổi học trò, rồi sẽ qua. Nỗi sợ ấy là thật, và tôi không cho rằng ai im lặng cũng là người xấu. Nhưng nỗi sợ không biến sự im lặng thành điều đúng.
Trước hết, im lặng không có nghĩa là đứng ngoài. Kẻ bắt nạt thường cần người xem. Khi không ai phản đối, họ hiểu rằng việc mình làm được chấp nhận, thậm chí được cổ vũ. Mười người đứng ở hành lang hôm ấy không ai động tay, nhưng chính sự có mặt lặng thinh của họ làm ba bạn kia càng hăng. Còn cậu bé bị giật kính thì nhìn quanh và thấy không có ai đứng về phía mình. Cảm giác bị bỏ rơi ấy đôi khi còn đau hơn cả bị trêu.
Thứ hai, im lặng hôm nay không giữ cho mình an toàn mãi. Một nơi mà ai cũng làm ngơ trước chuyện bắt nạt là nơi bất kì ai cũng có thể thành nạn nhân tiếp theo. Hôm nay là cậu bạn đeo kính, ngày mai có thể là bạn nói giọng khác, bạn mập hơn, hoặc chính mình. Sự an toàn thật chỉ có ở nơi mọi người cùng không chấp nhận việc bắt nạt.
Thứ ba, quan niệm này nhầm lẫn giữa can thiệp và liều lĩnh. Không ai bảo một học sinh lớp 7 phải xông vào đánh nhau với ba người lớn hơn. Có nhiều cách giúp bạn mà vẫn an toàn: báo ngay cho thầy cô trực ban hoặc bác bảo vệ; rủ thêm vài bạn cùng đến đứng cạnh người bị bắt nạt; nói một câu dứt khoát như thôi đi, thầy đang lên kìa; sau đó đến hỏi han, an ủi người bị bắt nạt; kể với cô chủ nhiệm hoặc bố mẹ nếu chuyện lặp lại nhiều lần. Báo cho người lớn khi có người bị làm hại cũng không phải mách lẻo. Mách lẻo là kể chuyện để người khác bị phạt cho vui; còn ở đây, ta lên tiếng để bảo vệ một người đang gặp nguy.
Hôm ấy, chỉ có một bạn nữ chạy xuống phòng giám thị. Ba phút sau thầy lên, mọi người tản ra. Cậu bé nhặt lại cặp kính đã cong gọng. Tôi đứng trong số mười người kia, và tôi đã không làm gì. Tôi viết bài này một phần vì xấu hổ. Tôi nhận ra bạn nữ kia không mạnh hơn ai trong chúng tôi, bạn ấy chỉ không để nỗi sợ quyết định thay mình.
Có người sẽ nói: một mình mình lên tiếng thì thay đổi được gì? Câu trả lời nằm ngay trong chuyện trên: chỉ cần một người hành động, cuộc bắt nạt đã dừng lại. Và khi đã có một người dám làm, người thứ hai, thứ ba sẽ dễ dám hơn.
Vì vậy, thay vì tự nhủ đừng dây vào, mỗi học sinh hãy nhớ phòng trực của thầy cô ở đâu, hãy hẹn với nhóm bạn thân rằng nếu thấy chuyện bắt nạt thì cùng nhau báo người lớn. Im lặng thì dễ. Nhưng lần sau đứng ở hành lang ấy, tôi muốn mình là người chạy đi tìm thầy, chứ không phải người đứng xem.
Bài văn bàn về một hiện tượng trong đời sống học sinh
Dạng này hợp với đề mở của Chân trời sáng tạo và Cánh diều: em tự chọn một hiện tượng quanh mình, nêu thực trạng, nguyên nhân, tác hại rồi bày tỏ ý kiến và đề xuất.
Mẫu 9: Lãng phí đồ ăn ở bếp ăn bán trú
Sau mỗi bữa trưa ở trường, cô cấp dưỡng lại kéo ra cổng sau hai thùng nhựa lớn đựng cơm canh thừa. Có lần tôi đứng xem cô đổ thùng và giật mình: có những suất gần như còn nguyên, miếng thịt kho chưa ai động đũa. Lãng phí đồ ăn ở bếp ăn bán trú là chuyện đang diễn ra hằng ngày ngay trong trường tôi, và nó đáng để chúng ta nghĩ lại.
Biểu hiện của hiện tượng này không khó nhận ra. Có bạn chỉ ăn vài thìa cơm rồi đổ đi, để dành bụng ra căng tin mua xúc xích rán. Có bạn gạt hết rau ra mép khay vì không thích ăn rau. Có bạn ăn vội để còn kịp xuống sân chơi, phần còn lại cứ thế trút vào thùng.
Vì sao lại như vậy? Một phần do món ăn chưa hợp khẩu vị, có hôm canh nhạt, rau hơi già. Nhưng phần lớn là do thói quen của chính chúng ta. Ở nhà, nhiều bạn được chiều, không thích món gì thì được nấu món khác, nên không quen ăn hết phần của mình. Nhiều bạn cũng chưa từng nghĩ xem một bữa cơm cần bao nhiêu công sức.
Thói quen ấy gây ra nhiều điều đáng tiếc. Trước hết là phí tiền của bố mẹ, vì tiền ăn bán trú là khoản phải đóng hằng tháng. Kế đến là phí công của các cô cấp dưỡng dậy từ năm giờ sáng để nấu cho hàng trăm học sinh, phí công của những người nông dân làm ra hạt gạo, mớ rau. Thức ăn thừa dồn lại còn làm khu vực sau bếp bốc mùi. Với chính người bỏ bữa, cơ thể đang lớn bị thiếu chất, chiều vào học dễ đói và mất tập trung.
Muốn thay đổi, hãy bắt đầu từ khay cơm của chính mình: ăn không được nhiều thì xin cô bớt cơm ngay từ đầu, cố ăn hết phần rau, không mang đồ ăn vặt vào giờ trưa. Nhà trường có thể hỏi ý kiến học sinh về thực đơn, còn các lớp có thể thi đua khay sạch mỗi tuần.
Lớp tôi đã thi đua khay sạch được ba tuần. Thứ sáu vừa rồi, kéo thùng ra cổng sau, cô cấp dưỡng cười bảo hôm nay nhẹ hẳn. Hai thùng thừa ấy nhẹ đi chỉ nhờ ba mươi bạn chịu ăn thêm vài thìa cơm.
Mẫu 10: Chép lời giải trên mạng thay vì tự làm bài
Chỉ cần mười giây: mở điện thoại, chụp ảnh đề bài, và một trang web hay ứng dụng nào đó sẽ hiện ra lời giải đầy đủ, có cả các bước trình bày. Nhiều bạn lớp 7, trong đó từng có tôi, làm bài tập về nhà theo cách ấy. Chép lời giải trên mạng thay vì tự làm bài là chuyện khá quen ở lớp tôi, và theo tôi, đó là một thói quen có hại cần sửa.
Cần nói rõ: tra cứu trên mạng không có gì sai. Xem lại cách giải sau khi đã tự làm, tìm thêm tài liệu, tra nghĩa một từ khó đều là cách dùng mạng thông minh. Điều đáng bàn ở đây là chép nguyên lời giải để nộp mà chưa hề tự nghĩ.
Tôi bắt đầu chép từ những bài Toán khó hồi học kì I. Lúc đầu chỉ một bài, sau thành cả trang. Vở bài tập của tôi sạch đẹp, cô còn khen. Đến bài kiểm tra giữa kì, đề có một bài giống hệt dạng tôi đã chép ba lần, vậy mà tôi ngồi nhìn tờ giấy, không biết bắt đầu từ đâu. Tôi được bốn điểm. Lúc đó tôi mới hiểu: thứ mình đã chép là chữ, không phải kiến thức.
Tác hại đầu tiên của thói quen này là ta tự bỏ mất cơ hội học. Bài tập về nhà được giao để mỗi người luyện lại điều vừa học, để vấp, để sai rồi tự sửa. Bỏ qua bước ấy cũng giống như nhờ người khác tập thể dục hộ rồi mong mình khỏe lên.
Thứ hai, chép bài khiến ta quen đi đường tắt và ngại suy nghĩ. Một bài toán khó bắt ta phải ngồi yên mười lăm, hai mươi phút, thử cách này, gạch đi, thử cách khác. Sức chịu đựng cái khó ấy chỉ lớn lên khi được rèn. Người quen bấm máy lấy đáp án sẽ dễ bỏ cuộc mỗi khi không có điện thoại bên cạnh, mà trong phòng thi thì không ai có điện thoại.
Thứ ba, đây là một kiểu thiếu trung thực. Bài nộp lên mang tên mình, nhưng cách giải không phải của mình. Thầy cô nhìn vở sạch sẽ, tưởng ta đã hiểu nên không giảng lại, thế là chỗ hổng càng khó được phát hiện.
Có bạn bảo bài nhiều quá, không chép thì không kịp. Tôi hiểu cảm giác đó, có tối tôi phải làm bài của bốn môn. Nhưng nộp một bài tự làm sai vài câu vẫn tốt hơn nộp một bài đúng hết mà không hiểu gì, vì thầy cô cần biết ta sai ở đâu để giúp. Nếu bài quá sức, hãy làm những câu mình làm được, đánh dấu câu khó để hỏi trên lớp.
Sau bài kiểm tra giữa kì, tôi đặt cho mình một luật: chỉ được mở lời giải khi đã tự làm ít nhất hai mươi phút, và xem xong thì úp điện thoại xuống, tự viết lại lời giải theo cách hiểu của mình. Làm như vậy chậm hơn nhiều. Nhưng bài kiểm tra cuối kì tôi được tám điểm, và quan trọng hơn, tôi biết vì sao mình được tám điểm.
Mạng internet giống như một thư viện khổng lồ mở cửa suốt ngày đêm. Vào thư viện để đọc và hiểu thì ta giỏi lên, còn vào thư viện chỉ để chép thì ta mãi đứng yên một chỗ.
Mẫu 11: Đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm
Giờ tan học, cổng trường em chật kín xe đạp điện. Nhìn kĩ sẽ thấy nhiều chiếc mũ bảo hiểm treo lủng lẳng ở tay lái hoặc nằm trong giỏ xe, còn chủ nhân của chúng thì để đầu trần, tóc bay phấp phới. Cảnh ấy khá quen ở lứa học sinh lớp 7, lớp 8, và theo em, nó cần chấm dứt.
Các bạn không đội mũ vì đủ thứ lí do: sợ nóng, sợ hỏng kiểu tóc, nghĩ đường từ nhà đến trường chỉ hơn một cây số thì chẳng sao, hoặc thấy bạn bè không đội nên mình cũng thôi. Có bạn đội nhưng không cài quai, gió thổi là mũ lệch sang một bên.
Những lí do ấy quá nhỏ so với cái giá có thể phải trả. Xe đạp điện chạy nhanh hơn xe đạp thường nhiều, lại đi chung đường với ô tô, xe máy. Khi ngã, đầu rất dễ va xuống mặt đường, mà chấn thương ở đầu có thể để lại hậu quả suốt đời. Chiếc mũ được làm ra chính để che cho bộ phận dễ tổn thương ấy. Đội mũ khi đi xe đạp điện cũng là việc luật giao thông yêu cầu, không phải muốn thì đội.
Anh họ em năm ngoái ngã xe ở một khúc cua có cát, đầu đập xuống mép vỉa hè. Chiếc mũ vỡ một mảng, còn anh chỉ xước tay. Bác sĩ bảo nếu không có mũ thì chưa biết chuyện gì đã xảy ra.
Vì vậy, mỗi bạn hãy coi chiếc mũ như một phần của chiếc xe: chưa cài quai thì chưa vặn ga. Bố mẹ cũng nên chọn cho con chiếc mũ vừa đầu, nhẹ, thoáng để con không ngại đội. Sáng nào trước khi dắt xe ra cổng, em cũng nghe một tiếng tách nhỏ dưới cằm, rồi yên tâm lên đường.
Mẫu 12: Thói quen trì hoãn của học sinh
Để mai làm. Đó có lẽ là câu tôi nói nhiều nhất năm lớp 6. Bài thuyết trình môn Lịch sử được giao trước hai tuần, tôi để mai. Đến tối chủ nhật trước hôm nộp, tôi vẫn còn để mai, cho đến khi cái mai ấy chỉ còn đúng mười tiếng. Trì hoãn, tức là biết việc cần làm mà cứ lùi lại, là thói quen nhiều học sinh mắc phải, và nó gây hại nhiều hơn ta tưởng.
Người trì hoãn không hẳn là người lười. Những ngày ấy tôi rất bận: bận dọn bàn học, bận xem nốt một video, bận nghĩ xem nên làm trang trình chiếu màu gì. Chỉ có việc chính là chưa làm. Đó là đặc điểm dễ nhận ra của sự trì hoãn: ta tìm đủ việc nhỏ dễ chịu để né một việc lớn khó chịu.
Nguyên nhân đầu tiên là ta sợ việc khó. Một bài thuyết trình nghe to tát quá, chưa biết bắt đầu từ đâu, nên ta chọn không bắt đầu. Nguyên nhân thứ hai là những thứ hấp dẫn luôn ở sẵn trong tầm tay: điện thoại, trò chơi, tin nhắn nhóm lớp. Nguyên nhân thứ ba là ta tin vào một phiên bản ngày mai chăm chỉ hơn hôm nay: hôm nay mệt rồi, mai mình sẽ làm gấp đôi.
Nhưng cái mình của ngày mai thường chẳng chăm hơn chút nào. Tác hại đầu tiên của trì hoãn là chất lượng công việc giảm sút. Đêm chủ nhật ấy, tôi thức gần đến một giờ sáng, chép vội tư liệu, trang nào cũng chi chít chữ. Hôm sau lên thuyết trình, tôi vấp liên tục vì chưa kịp đọc kĩ những gì mình viết. Điểm không tệ, nhưng tôi biết nếu bắt đầu sớm một tuần, bài có thể tốt hơn nhiều.
Tác hại thứ hai là căng thẳng. Một việc chưa làm giống như hòn sỏi trong giày, đi đâu cũng cấn. Cả tuần trước hôm nộp, lúc chơi tôi cũng không vui trọn vẹn, vì trong đầu luôn có một giọng nhắc: còn bài Sử đấy. Trì hoãn không cho ta nghỉ ngơi thật sự, chỉ cho ta cảm giác nghỉ ngơi trong lo lắng.
Tác hại thứ ba khó thấy hơn: người hay trì hoãn dần mất lòng tin của người khác. Trong nhóm thuyết trình, nếu một bạn luôn nộp phần của mình vào phút chót, cả nhóm phải chờ, phải sửa vội. Lần sau, chẳng ai muốn giao việc quan trọng cho bạn ấy nữa.
Có người nói họ làm tốt nhất khi bị dồn đến sát hạn. Điều đó có thể đúng với vài việc nhỏ. Nhưng làm dưới áp lực thường chỉ đủ để xong, khó để hay, và chẳng ai dám chắc đúng lúc sát hạn mình sẽ không bị ốm hay mất điện.
Sau lần ấy, tôi thử vài cách và thấy có hiệu quả. Thứ nhất, chia việc lớn thành những phần thật nhỏ: hôm nay chỉ cần tìm ba tư liệu, mai làm dàn ý. Việc nhỏ thì không đáng sợ. Thứ hai, đặt đồng hồ hẹn giờ hai mươi lăm phút, trong lúc đó úp điện thoại xuống bàn, hết giờ mới được nghỉ năm phút. Thứ ba, kể kế hoạch của mình với một người bạn để có người nhắc.
Chiếc đồng hồ hẹn giờ hình quả cà chua mẹ mua cho tôi giờ nằm ngay góc bàn học. Mỗi lần nghe nó tích tắc, tôi lại nhớ rằng ngày mai không phải lúc nào cũng tốt hơn hôm nay, và việc gì bắt đầu được thì cứ bắt đầu luôn.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chọn vấn đề quá rộng (bàn về tuổi trẻ, về cuộc sống) nên bài thành chung chung. | Thu hẹp lại thành một thói quen, một quan niệm, một hiện tượng cụ thể mà em thấy hằng ngày. |
| Ý kiến nước đôi: vừa đúng vừa sai, tùy người. | Nói rõ tán thành hay phản đối ngay ở mở bài. Có thể thừa nhận phần hợp lí của ý kiến khác, nhưng lập trường của em không đổi. |
| Các đoạn thân bài lặp ý, đoạn sau nói lại đoạn trước bằng từ khác. | Mỗi đoạn một lí lẽ, câu đầu đoạn nêu lí lẽ ấy. Viết xong, thử đặt tên cho từng đoạn: hai đoạn trùng tên thì gộp lại. |
| Bằng chứng bịa: khảo sát không rõ ai làm, con số đoán, câu nói gán cho người nổi tiếng. | Dùng chuyện có thật quanh em, sự việc em chứng kiến; con số và câu trích chỉ dùng khi biết chắc nguồn. |
| Dạng phản đối chỉ chê bai quan niệm mà không nói cách hiểu đúng. | Sau khi bác, nêu rõ nên hiểu thế nào cho đúng (xem Mẫu 5, Mẫu 6). |
| Kể chuyện quá dài, bài thành văn tự sự. | Câu chuyện chỉ là bằng chứng: kể gọn ba bốn câu rồi rút ra ý phục vụ lí lẽ. |
| Kết bài kêu gọi chung chung, ai cũng nói được. | Đề xuất một việc cụ thể, làm được ngay, như bảng việc nhà, thi đua khay sạch, luật hai mươi phút tự làm. |
Mẹo nhỏ: trước khi viết, ghi ra nháp ý kiến của người không đồng tình với em và trả lời nó bằng một câu. Đoạn bàn về ý kiến khác thường là đoạn giúp bài văn nghị luận lớp 7 được điểm cao, vì nó cho thấy em đã nhìn vấn đề từ nhiều phía.
Gợi ý bài nói: trình bày ý kiến về một vấn đề trong đời sống
Phần Nói và nghe đi cùng bài viết ở cả ba bộ: Chân trời sáng tạo Bài 6 (Trình bày ý kiến về một vấn đề trong đời sống), Kết nối tri thức Bài 8 (Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống), Cánh diều Bài 8 (Thảo luận nhóm về một vấn đề trong đời sống). Em có thể dùng chính bài viết làm bài nói:
- Mở đầu bằng lời chào và một câu hỏi hoặc một chuyện ngắn để người nghe chú ý, rồi nêu ngay ý kiến của mình.
- Rút bài viết thành phiếu ghi 3 lí lẽ, mỗi lí lẽ kèm một bằng chứng; nói theo phiếu, không đọc thuộc.
- Câu nói ngắn hơn câu viết; nhấn giọng ở lí lẽ chính, dừng một nhịp trước khi đưa bằng chứng.
- Khi thảo luận nhóm (Cánh diều): nghe hết ý bạn rồi mới đáp, mở đầu bằng điều mình đồng ý trước khi nói điều mình không đồng ý, ghi lại ý kiến khác để phản hồi.
- Kết thúc bằng một đề xuất cụ thể và lời cảm ơn; mời các bạn đặt câu hỏi.
Ví dụ đoạn mở đầu bài nói: Em chào cô và các bạn. Tuần trước có bạn nào để ý hai thùng cơm thừa sau giờ ăn trưa không ạ? Em đã đứng xem cô cấp dưỡng đổ thùng, và em nghĩ chuyện đó không nên tiếp diễn. Hôm nay em xin trình bày ý kiến của mình về việc lãng phí đồ ăn ở bếp ăn bán trú.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Đề của Kết nối tri thức Bài 6 yêu cầu tán thành một ý kiến: đọc Mẫu 1 đến Mẫu 4 (Mẫu 3 ngắn, hợp khi luyện viết trong một tiết). Đề phản đối của Bài 8 thì xem Mẫu 5 đến Mẫu 8; Mẫu 5 và Mẫu 8 dài, có nêu và bác ý kiến trái chiều, hợp với học sinh muốn viết bài điểm cao. Đề mở của Chân trời sáng tạo và Cánh diều có thể chọn bất kì hướng nào, trong đó Mẫu 9 đến Mẫu 12 là cách bàn về một hiện tượng học sinh thường gặp. Hãy dùng các mẫu để học cách sắp xếp lí lẽ, còn bằng chứng thì nên lấy từ chính chuyện quanh em.
Xem thêm:
- Soạn bài Ếch ngồi đáy giếng, Soạn bài Con hổ có nghĩa, Soạn bài Một số câu tục ngữ Việt Nam (Bài 6, Kết nối tri thức 7)
- Soạn bài Hãy cầm lấy và đọc và Soạn bài Bản đồ dẫn đường (Bài 8, Kết nối tri thức 7, học cùng đề viết phản đối một quan niệm)
- Soạn bài Tự học – một thú vui bổ ích và Soạn bài Đừng từ bỏ cố gắng (Bài 6, Chân trời sáng tạo 7)
- Soạn bài Đức tính giản dị của Bác Hồ (Bài 8, Cánh diều 7)
- Văn mẫu lớp trên cùng kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề của đời sống lớp 8, Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết lớp 9