Nguyễn Ngọc Tư (sinh năm 1976) là nhà văn nữ Việt Nam đương đại, người Cà Mau, nổi tiếng với tập truyện Cánh đồng bất tận và những trang viết đậm chất sông nước miền Tây Nam Bộ. Không học qua trường viết văn nào, bà được cả nước biết tên từ năm 24 tuổi và hiện hiện thuộc số tác giả có nhiều văn bản được chọn vào sách giáo khoa nhất. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách và tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư trong chương trình Ngữ văn.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là ai?
Nguyễn Ngọc Tư sáng tác ở nhiều thể loại – truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, cả thơ – và sống và làm việc tại quê nhà Cà Mau. Bà là gương mặt nữ tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI, từng nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2008 và giải LiBeraturpreis của Đức năm 2018.

| Tên | Nguyễn Ngọc Tư (dùng tên thật khi sáng tác) |
| Năm sinh | 1976 |
| Quê quán | Xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau |
| Thể loại | Truyện ngắn, truyện vừa, tản văn, tiểu thuyết, thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Ngọn đèn không tắt, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Sông, Biên sử nước; các tản văn Trở gió, Mùa phơi sân trước |
| Giải thưởng | Giải Nhất Văn học tuổi 20 lần II (2000); giải B Hội Nhà văn Việt Nam (2001); Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2006); Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (2008); LiBeraturpreis, Đức (2018) |
| Trong SGK hiện hành | Trở gió, Mùa phơi sân trước (Ngữ văn 7); Người mẹ vườn cau (Ngữ văn 8); Cải ơi! (Ngữ văn 11) |
Nhà văn sinh ra một năm sau ngày đất nước thống nhất, trong một gia đình nông dân nơi cực Nam đất nước. Hoàn cảnh khó khăn khiến bà phải thôi học khi đang học phổ thông; chính người cha là người phát hiện năng khiếu viết của con gái và khuyến khích bà ghi lại những điều mình trải qua.
Cuộc đời Nguyễn Ngọc Tư qua các mốc chính
Đời Nguyễn Ngọc Tư không có nhiều biến cố lớn; các mốc quan trọng chủ yếu gắn với những cuốn sách. Thông tin dưới đây được đối chiếu giữa Wikipedia tiếng Việt, báo Nhân Dân, Tuổi Trẻ và Cổng thông tin Chính phủ.
- 1976: sinh tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, trong một gia đình nông dân.
- Những năm 1990: thôi học sau chín năm phổ thông để phụ giúp gia đình; bắt đầu viết, ba truyện ngắn đầu tay do cha gửi đến tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau và đều được đăng.
- Cuối thập niên 1990: làm văn thư, rồi học việc và trở thành phóng viên của tạp chí này.
- 2000: ở tuổi 24, bà giành giải Nhất cuộc vận động Văn học tuổi 20 (lần II, Nhà xuất bản Trẻ tổ chức) với Ngọn đèn không tắt.
- 2001: Ngọn đèn không tắt nhận giải B của Hội Nhà văn Việt Nam.
- 2005: truyện vừa Cánh đồng bất tận đăng trên tuần báo Văn nghệ, cuối năm in thành tập truyện cùng tên.
- 2006: truyện bị phê bình ở địa phương, gây một cuộc tranh luận rộng; cùng năm, Cánh đồng bất tận được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
- 2008: nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (SEA Write) do Hoàng gia Thái Lan trao.
- 2010: phim điện ảnh Cánh đồng bất tận của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình ra mắt.
- 2012: in tiểu thuyết đầu tay Sông; năm 2020 in tiểu thuyết thứ hai Biên sử nước.
- 2018: nhận giải LiBeraturpreis tại Hội chợ sách Frankfurt cho bản tiếng Đức Endlose Felder.

Cuộc đời gắn chặt với một vùng đất là nét nổi bật nhất trong tiểu sử Nguyễn Ngọc Tư. Không qua trường lớp viết văn, bà học viết từ việc đọc và từ chính đời sống quanh mình: kênh rạch, ruộng đồng, những người làm thuê, người hát rong, người chăn vịt. Vốn sống ấy làm nên chất liệu cho gần như toàn bộ sáng tác của bà.
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Giai đoạn đầu (2000 – 2005). Sau thành công của Ngọn đèn không tắt, các tập truyện Ông ngoại, Giao thừa, Biển người mênh mông, Nước chảy mây trôi lần lượt ra đời. Truyện thời kỳ này thường có cốt truyện rõ, nhân vật là người lao động nghèo, lời kể đậm phương ngữ Nam Bộ.
Cột mốc Cánh đồng bất tận (2005). Truyện vừa dài hơn mười bảy nghìn chữ được đăng ba kỳ trên báo Văn nghệ rồi in ở cuối tập sách cùng tên. Tác phẩm vừa gây tranh cãi, vừa được Hội Nhà văn tặng giải, được tái bản nhiều chục lần và chuyển ngữ ra nước ngoài, khẳng định vị trí của tác giả trên văn đàn.
Mở rộng thể loại (từ 2006). Bà viết nhiều tản văn (Ngày mai của những ngày mai, Yêu người ngóng núi, Hành lý hư vô…), thử sức với tiểu thuyết (Sông, Biên sử nước) và thơ (Chấm, Gọi xa xôi). Truyện ngắn giai đoạn sau như Đảo, Không ai qua sông, Cố định một đám mây giàu tính biểu tượng và thể nghiệm hơn.
Tính trung bình, mỗi năm bà ra mắt một đến hai cuốn sách. Danh mục đầy đủ các tập truyện, tản văn, tiểu thuyết cùng phần giới thiệu từng tác phẩm có trong bài những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư tiêu biểu nhất.
Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư
Ngọn đèn không tắt (2000)
Tập truyện đầu tay giúp tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư vượt khỏi một tạp chí địa phương. Cuốn sách đã có đủ những nét về sau thành thương hiệu: giọng văn mộc mạc, giàu lòng thương người và không khí sông nước rất riêng của bà. Năm 2008, cùng với Cánh đồng bất tận, tập sách được Hội Nhà văn giới thiệu như một tác phẩm tiêu biểu của tác giả.
Cánh đồng bất tận (2005)
Câu chuyện về một gia đình chăn vịt chạy đồng, người cha mang nỗi hận bị vợ bỏ, hai đứa con lớn lên thiếu tình thương trên những cánh đồng khô nứt. Qua những con người trôi dạt ấy, nhà văn nói về nỗi cô độc và niềm khao khát hơi ấm gia đình. Đến năm 2025, theo Wikipedia, tập sách đã được in lại hơn năm mươi lần.
Cải ơi!
Truyện thuộc tập Cánh đồng bất tận, kể về người cha mải miết đi tìm đứa con gái đã rời nhà khi còn nhỏ. Văn bản được chọn vào phần thực hành đọc của Ngữ văn 11, gắn với bài học về điểm nhìn trong truyện kể.
Trở gió
Tạp văn ghi lại những xao động trong lòng người khi gió chướng về – tín hiệu của mùa khô và Tết ở miền Tây. Đây là văn bản đọc chính trong Ngữ văn 7 Kết nối tri thức. Tham khảo: Trở gió – tác giả, tác phẩm, tóm tắt Trở gió, cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió.
Mùa phơi sân trước
Tản văn hồi tưởng tuổi thơ bên khoảng sân nhà, nơi các mùa phơi nối nhau theo nhịp sống gia đình. Văn bản thuộc phần đọc mở rộng của Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo. Xem thêm: Mùa phơi sân trước – tác giả, tác phẩm.
Sông (2012)
Tiểu thuyết đầu tay viết theo lối du ký: nhân vật Ân và vài người bạn đi dọc dòng sông Di hư cấu, gặp ở mỗi khúc sông những số phận khác nhau. Cuốn sách cho thấy nỗ lực đổi mới của tác giả và mối quan tâm đến con người trước sự biến đổi của môi trường sống.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư
- Chất Nam Bộ trong từng câu chữ: phương ngữ miền Tây được dùng tự nhiên, không phô diễn; cảnh sông nước, ruộng đồng vừa là bối cảnh vừa là một phần số phận nhân vật.
- Thương mà không phán xét: nhân vật của bà thường là người nghèo, cô đơn, lỡ dở; nhà văn đứng gần họ bằng sự thấu hiểu thay vì lên án hay ban ơn.
- Xung đột nằm trong nội tâm: tình huống truyện bắt đầu từ những việc rất đời thường, còn kịch tính diễn ra trong tâm lý, tình cảm nhân vật; lời độc thoại và hồi ức được dùng nhiều.
- Đổi mới liên tục: từ cốt truyện tuyến tính ở giai đoạn đầu, bà chuyển dần sang kết cấu phân mảnh, nhiều người kể, giàu biểu tượng ở Sông, Biên sử nước.
Nhà văn ít khi phát biểu về nghề, nhưng những lần lên tiếng đều rõ ràng. Trả lời bạn đọc trên trang của Nhà xuất bản Trẻ (báo Nhân Dân dẫn lại), bà cho rằng văn chương không cần sự kiện lớn, bởi đề tài lớn của nó là con người: “bao nhiêu nhà văn viết cả ngàn năm đã hết chuyện đâu”. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2025 (Wikipedia dẫn lại), bà cũng cho biết mình không muốn bị xếp vào khuôn nhà văn của riêng một vùng miền.
Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Trở gió | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 2 – Khúc nhạc tâm hồn | Soạn bài Trở gió |
| Mùa phơi sân trước | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 4 – Quà tặng của thiên nhiên (đọc mở rộng) | Soạn bài Mùa phơi sân trước |
| Người mẹ vườn cau | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 | Bài 1 – Truyện ngắn (thực hành đọc hiểu) | Đang cập nhật |
| Cải ơi! | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 1 – Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể (thực hành đọc) | Đang cập nhật |
Khi ôn văn bản của bà, các em cần để ý ngôi kể, điểm nhìn và những từ ngữ địa phương Nam Bộ – các chi tiết thường được khai thác trong câu hỏi đọc hiểu.
Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Ngọc Tư ngắn gọn
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, trong gia đình nông dân. Vì hoàn cảnh khó khăn, bà nghỉ học sau chín năm phổ thông, tự học và viết văn, từng làm phóng viên tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau. Năm 2000, Ngọn đèn không tắt mang về cho bà giải Nhất cuộc vận động Văn học tuổi 20. Truyện vừa Cánh đồng bất tận (2005) được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006; bà nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2008 và giải LiBeraturpreis của Đức năm 2018. Bà viết truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, thơ về con người miền Tây sông nước.
Câu hỏi thường gặp về Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư quê ở đâu?
Bà quê ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, và đến nay vẫn sống, viết văn tại Cà Mau.
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm bao nhiêu?
Nhà văn sinh năm 1976. Năm 2000, khi 24 tuổi, bà được bạn đọc cả nước biết đến qua tập truyện Ngọn đèn không tắt.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Ngọc Tư là gì?
Đó là Cánh đồng bất tận – truyện vừa và cũng là tên tập truyện in năm 2005, được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, dịch ra nhiều thứ tiếng và chuyển thể thành phim năm 2010.
Nguyễn Ngọc Tư có những bài nào trong sách giáo khoa?
Bốn văn bản đang được học là Trở gió (Ngữ văn 7 Kết nối tri thức), Mùa phơi sân trước (Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo), Người mẹ vườn cau (Ngữ văn 8 Cánh diều) và Cải ơi! (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức).
Nguyễn Ngọc Tư đã nhận những giải thưởng quốc tế nào?
Bà nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (SEA Write) năm 2008 và giải LiBeraturpreis của Đức năm 2018 cho tuyển tập tiếng Đức Endlose Felder.
Lời kết
Từ cô gái nghỉ học giữa chừng ở Đầm Dơi đến nhà văn được trao giải ở Thái Lan và Đức, tác giả Nguyễn Ngọc Tư chưa bao giờ rời xa đất và người miền Tây. Hiểu cuộc đời bà sẽ giúp bạn đọc Trở gió hay Cải ơi! sâu hơn. Đọc tiếp tuyển tập tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư trên Văn VN.
Xem thêm: Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường · Giới thiệu tác giả Nguyễn Nhật Ánh · Nhà văn Tô Hoài