Viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện là bài tập nghị luận về văn học ở học kì II lớp 8: sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức đặt ở Bài 6 (Chân dung cuộc sống) và cho luyện lại ở Bài 8 (Nhà văn và trang viết), sách Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo đặt ở Bài 7 (Yêu thương và hi vọng), sách Ngữ văn 8 Cánh diều đặt ở Bài 6 (Truyện). Trang này gom yêu cầu của kiểu bài theo cả ba bộ, một dàn ý dùng chung, 12 bài văn mẫu viết về 12 truyện khác nhau, từ Lão Hạc, Lặng lẽ Sa Pa đến Mắt sói, Xe đêm, kèm bảng lỗi hay mắc khi làm bài.

Yêu cầu của kiểu bài phân tích một tác phẩm truyện
Phân tích một truyện là đưa ra lí lẽ, kèm bằng chứng lấy từ chính văn bản, để làm rõ hai điều: truyện muốn nói gì (chủ đề) và truyện nói điều ấy bằng cách nào (những điểm đặc sắc trong cách viết). Ba bộ sách diễn đạt khác nhau, nhưng một bài đạt yêu cầu cần có đủ các tiêu chí sau.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Giới thiệu tác phẩm | Nêu tên truyện, tác giả (có thể thêm xuất xứ, năm sáng tác nếu chắc chắn) và một nhận xét khái quát về truyện. |
| Nội dung chính | Tóm lại trong vài câu, chỉ giữ những sự việc phục vụ cho phần phân tích; không kể lại cả truyện. |
| Chủ đề | Phát biểu được chủ đề thành một câu rõ ràng, có thể kèm thái độ của nhà văn. |
| Nét đặc sắc nghệ thuật | Chọn hai đến ba nét tiêu biểu (cốt truyện, tình huống, nhân vật, ngôi kể và điểm nhìn, chi tiết, ngôn ngữ); với mỗi nét: chỉ ra, dẫn chứng, nói rõ tác dụng đối với chủ đề. |
| Bằng chứng | Trích dẫn đúng nguyên văn hoặc dẫn ý chính xác; câu nào không nhớ chắc thì dẫn ý, không đặt trong ngoặc kép. |
| Đánh giá | Nói rõ truyện có giá trị ở đâu và để lại gì cho người viết. |
| Lập luận và diễn đạt | Luận điểm sắp xếp hợp lí, mỗi đoạn một ý; có từ ngữ chuyển ý giữa các đoạn; lời văn mạch lạc. |
Điểm nhấn của từng bộ sách: Kết nối tri thức đòi hỏi xác định chủ đề, rồi chỉ ra một vài nét hình thức nổi bật cùng tác dụng của chúng, có bài viết tham khảo để học sinh nhận ra từng phần của bài; Chân trời sáng tạo gọi tên kiểu bài rộng hơn là phân tích một tác phẩm văn học, liệt kê rõ những yếu tố cần chú ý ở truyện như nhân vật, ngôi kể, tình huống và các chi tiết đáng nhớ, đòi hỏi lập luận chặt và cho phép kết bài nêu trải nghiệm, bài học riêng; Cánh diều gắn kiểu bài với truyện vừa đọc trong Bài 6 (Lão Hạc là một văn bản đọc của bài) và nhấn mạnh việc kết hợp phân tích với nhận xét, cảm nghĩ của người viết.
Nên chọn nét nghệ thuật nào để phân tích? Không phải truyện nào cũng nổi bật ở mọi yếu tố. Bảng dưới đây gợi ý câu hỏi để tìm ra nét đáng phân tích nhất.
| Yếu tố | Câu hỏi tự đặt ra | Truyện tiêu biểu trong trang |
|---|---|---|
| Tình huống truyện | Nhân vật bị đặt vào hoàn cảnh nào? Hoàn cảnh ấy làm lộ ra điều gì ở họ? | Lặng lẽ Sa Pa, Bố của Xi-mông |
| Cốt truyện, kết thúc | Truyện có đảo ngược, bất ngờ, lặp lại không? Vì sao nhà văn kết thúc như vậy? | Chiếc lá cuối cùng, Cô bé bán diêm |
| Ngôi kể, điểm nhìn | Ai kể? Người kể biết những gì và không biết những gì? | Lão Hạc, Những ngôi sao xa xôi, Mắt sói |
| Nhân vật | Nhân vật hiện lên qua hành động, lời nói hay qua cái nhìn của người khác? Nhân vật có thay đổi không? | Tức nước vỡ bờ, Cây sồi mùa đông |
| Chi tiết, nhan đề | Chi tiết nào lặp lại hoặc khó quên? Nhan đề gợi ra điều gì? | Bồng chanh đỏ, Xe đêm |
| Ngôn ngữ, giọng điệu | Lời văn trữ tình, hài hước hay lạnh lùng? Câu dài hay ngắn? | Tôi đi học |
Dàn ý bài văn phân tích một tác phẩm truyện
1. Mở bài
- Giới thiệu tên truyện, tác giả; nếu cần, nêu thêm xuất xứ hoặc hoàn cảnh ra đời trong một câu.
- Nêu nhận xét khái quát: truyện gây ấn tượng ở chủ đề nào, nhờ nét nghệ thuật nào.
- Có thể vào thẳng vấn đề, hoặc khởi đầu bằng nhan đề, bằng một câu văn hay một hình ảnh trong truyện, cũng có thể từ trải nghiệm đọc của chính em.
2. Thân bài
- Tóm tắt ngắn nội dung chính (ba đến năm câu).
- Luận điểm về chủ đề: truyện đề cập vấn đề gì, thể hiện tình cảm, thái độ gì của nhà văn.
- Các luận điểm về nghệ thuật (hai đến ba đoạn): mỗi đoạn một nét đặc sắc theo trình tự chỉ ra, dẫn chứng từ văn bản, phân tích tác dụng, liên hệ trở lại chủ đề.
- Có thể có một đoạn so sánh (hai nhân vật, hai cảnh, trước và sau một biến cố) để làm rõ hơn.
3. Kết bài
- Nhắc lại chủ đề cùng ý nghĩa của những nét nghệ thuật vừa phân tích.
- Nêu điều truyện để lại trong em: một suy nghĩ, một thay đổi trong cách nhìn, một hình ảnh còn nhớ mãi.
Dàn ý cụ thể với đề: Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
- Mở bài: Lão Hạc (1943) là truyện ngắn của Nam Cao về người nông dân nghèo; truyện day dứt nhờ cách kể qua nhân vật ông giáo và một kết thúc dồn nén.
- Chủ đề: người nông dân nghèo những năm trước Cách mạng bị cái đói đẩy tới chỗ không còn lối thoát, song vẫn giữ nguyên lòng thương con, sự tự trọng.
- Tình huống bán cậu Vàng: hành động nhỏ nhưng là bước ngoặt, cho thấy lão bị dồn đến đâu và lão day dứt thế nào.
- Nhân vật lão Hạc qua chi tiết: gửi vườn, gửi tiền làm ma, khước từ mọi bàn tay chìa ra giúp, xin bả chó.
- Người kể xưng tôi là ông giáo: tạo hiểu lầm rồi bất ngờ; xen những đoạn suy ngẫm về cách nhìn người.
- Kết thúc: cái chết dữ dội, tố cáo hiện thực và khẳng định nhân cách.
- Kết bài: truyện vừa phơi bày hiện thực, vừa chan chứa lòng thương người; bài học về sự cảm thông.
Phân tích truyện ngắn Việt Nam
Mẫu 1: Lão Hạc – vì sao Nam Cao để ông giáo kể chuyện?
Vì sao Nam Cao không để lão Hạc tự kể chuyện của mình? Câu hỏi ấy chỉ đến với em ở lần đọc thứ hai. Lần đầu, em chỉ thấy một ông lão nghèo bán con chó rồi chết. Lần sau, em mới để ý rằng suốt truyện, ta không bao giờ được bước hẳn vào đầu lão Hạc; mọi điều ta biết về lão đều đi qua mắt, tai và những suy nghĩ của một người hàng xóm. Truyện ngắn Nam Cao viết năm 1943 này cảm động vì số phận nhân vật, nhưng sức ám ảnh lâu dài của nó nằm ở chính cách kể ấy.
Chủ đề của truyện không khó nhận ra. Cái nghèo, cái đói ở làng quê trước Cách mạng dồn một con người lương thiện tới đường cùng, nhưng không lấy đi được lòng tự trọng và tình thương của họ. Lão Hạc nhất quyết để nguyên mảnh vườn lại cho đứa con đi phu đồn điền, thương cả con chó con trai để lại, và thà chết một cách đau đớn còn hơn tiêu vào đồng tiền của con hay làm phiền hàng xóm. Điều đáng bàn là Nam Cao đưa chủ đề ấy tới người đọc bằng con đường nào.
Trước hết, người kể chuyện xưng tôi là một nhân vật đứng rất gần lão Hạc nhưng không biết hết về lão. Ông giáo nghe lão kể chuyện bán cậu Vàng, nhận giữ hộ ba sào vườn và món tiền lão dành dụm để lo ma chay, thấy lão khước từ mọi sự giúp đỡ. Ông chỉ biết đến thế. Thế nên, lúc Binh Tư kể rằng lão Hạc vừa đến hỏi hắn xin ít bả, ông giáo cùng người đọc rơi vào một sự hiểu lầm: tưởng ông lão hiền lành kia rốt cuộc cũng xoay ra làm liều. Nếu truyện được kể bởi một người biết trước mọi chuyện, sự hiểu lầm ấy không thể có, và cái chết cuối truyện sẽ nhẹ đi rất nhiều. Chính giới hạn của điểm nhìn đã tạo ra cú lật: thứ bả chó ấy lão dành cho chính mình.
Thứ hai, người kể là một trí thức nghèo nên lời kể hay dừng lại để ngẫm nghĩ. Khi vợ mình lạnh nhạt với lão Hạc, ông giáo tự nhủ rằng nếu không chịu khó tìm hiểu những người sống quanh mình, ta sẽ chỉ thấy ở họ toàn điều đáng chê, mà nhiều khi cái xấu ấy chỉ là vỏ ngoài do khổ quá mà thành. Những đoạn suy ngẫm như vậy kéo truyện ra khỏi khuôn khổ một chuyện làng, biến nó thành bài học về cách nhìn người. Đó cũng là một vế của chủ đề: con người cần được nhìn bằng sự cảm thông.
Thứ ba, đứng ở vị trí người chứng kiến, ông giáo cho ta thấy lão Hạc bằng những chi tiết nhìn được, nghe được. Lời đầu tiên lão nói với ông giáo khi vừa bán cậu Vàng, “Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!”, nhẹ như một lời báo tin, nhưng ngay sau đó là gương mặt méo xệch của một ông già sắp khóc: “Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra.” Cảnh cuối, lão nằm vật vã, tóc rối bù, hai mắt long lên, đau đớn suốt hai tiếng đồng hồ mới tắt thở. Người đọc chứng kiến tận mắt mà không cần ai giải thích, nên nỗi đau đến thẳng hơn bất cứ lời than nào.
Cuối cùng, người kể là nhân vật có tâm trạng biến đổi. Từ thương, đến ngờ vực, đến bàng hoàng, ông giáo đi hết một vòng nhận thức và kéo người đọc đi cùng. Sau khi hiểu ra sự thật, ông nghĩ rằng “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”. Đáng buồn vì người tốt bị dồn tới chết; không đáng buồn vì nhân cách con người vẫn còn nguyên vẹn.
Lão Hạc không dài, cũng chẳng có tình tiết li kì. Sức nặng của truyện đến từ việc Nam Cao chọn đúng người kể: một người đủ gần để thương, đủ xa để hiểu lầm và đủ tỉnh táo để tự sửa lại cách nhìn của mình. Gấp sách lại, em nhớ lão Hạc, nhưng cũng nhớ ông giáo đứng lặng trước cái chết của người bạn già, ngẫm lại những gì mình từng nghĩ.
Mẫu 2: Lặng lẽ Sa Pa – nửa tiếng trên đỉnh Yên Sơn
Nửa tiếng. Đó là khoảng thời gian chiếc xe khách dừng lại trên đỉnh Yên Sơn để lấy nước, cũng là toàn bộ thời gian để ba người khách làm quen với một chàng trai họ chưa gặp bao giờ. Nguyễn Thành Long viết Lặng lẽ Sa Pa năm 1970, khi vừa trở về từ một chuyến đi Lào Cai, rồi in truyện trong tập Giữa trong xanh. Truyện có rất ít sự kiện, nhưng nhờ một tình huống được chọn khéo, nó để lại cảm giác như ta vừa gặp một con người thật.
Truyện tôn vinh những con người lặng thầm với công việc, cống hiến cho đất nước ở những miền núi cao xa vắng mà không cần ai biết tên, đồng thời cho thấy làm việc có ích đem lại niềm vui đến thế nào. Nhan đề đã hé lộ điều ấy. Sa Pa vốn được nhắc tới như chốn nghỉ ngơi, nhưng cái lặng lẽ ở đây thuộc về những con người cặm cụi với công việc của mình.
Nét đặc sắc đầu tiên là tình huống: một cuộc gặp tình cờ và ngắn ngủi. Cái ngắn ngủi ấy có tác dụng kép. Nó khiến anh thanh niên vội vã, cởi mở, kể về mình tự nhiên như người lâu ngày mới có khách. Nó cũng buộc nhà văn phải chọn lọc, chỉ giữ lại những chi tiết đắt giá: gói tam thất anh nhờ bác lái xe mang về cho bác gái vừa ốm dậy, bó hoa tặng cô kĩ sư, làn trứng biếu khách lót dạ buổi trưa, những lần đo đạc lúc một giờ sáng giữa gió rét. Không có thời gian để khoe, nên mọi việc tốt hiện ra như một thói quen hằng ngày.
Nét thứ hai là anh thanh niên hiện lên qua nhiều cái nhìn. Bác lái xe giới thiệu anh là người “cô độc nhất thế gian”, ông họa sĩ lặng lẽ quan sát và suy ngẫm, cô kĩ sư lúc đầu bối rối rồi dần xúc động. Bản thân anh lại kể về mình rất ít, thậm chí từ chối khi ông họa sĩ định vẽ chân dung, rồi kể về những người mà theo anh mới xứng đáng được vẽ: ông kĩ sư ở vườn rau, một cán bộ chuyên nghiên cứu sét. Xây dựng nhân vật qua con mắt người khác giúp vẻ đẹp của anh không bị tô vẽ, mà được nhiều nhân chứng cùng xác nhận.
Nét thứ ba dễ bị bỏ qua: không nhân vật nào có tên. Anh thanh niên, ông họa sĩ, cô kĩ sư, bác lái xe, ông kĩ sư vườn rau… Chi tiết ấy gắn chặt với chủ đề. Họ là những người bình thường, có thể là bất kì ai trong rất nhiều người đang làm việc khắp đất nước. Câu anh nói về công việc, “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”, vì thế không còn là lời của riêng một người.
Bao bọc những con người ấy là thiên nhiên Sa Pa được tả bằng con mắt của người vẽ: nắng như đốt cháy rừng cây, mây lăn trên vòm lá, những đỉnh núi xa mờ. Cảnh đẹp mà tĩnh, làm nền cho vẻ đẹp con người và khiến cả truyện thấm chất thơ.
Khi chiếc xe chuyển bánh, cuộc gặp khép lại nhưng câu chuyện như vẫn tiếp diễn. Ông họa sĩ hứa sẽ quay lại, cô gái giữ chặt bó hoa trong tay, còn người đọc mang theo hình ảnh một con người không biết tên. Lặng lẽ Sa Pa giúp em hiểu rằng biết bao điều tốt đẹp đang diễn ra ở những nơi ta không nhìn thấy, như nắng vẫn rọi lên các đỉnh núi xa khi chiếc xe đã khuất sau khúc quanh.
Mẫu 3: Những ngôi sao xa xôi – từ hố bom đến cơn mưa đá
Có hai cảnh trong Những ngôi sao xa xôi mà em đọc đi đọc lại: Phương Định một mình đứng trước quả bom, lặng lẽ moi đất bên dưới nó, và cũng Phương Định ấy reo lên như đứa trẻ khi mưa đá bất ngờ rơi xuống cao điểm. Đặt hai cảnh cạnh nhau, em hiểu vì sao tác phẩm ra đời năm 1971 này của Lê Minh Khuê, khi bà đã khoác áo thanh niên xung phong nhiều năm trên tuyến đường Trường Sơn, vẫn giữ nguyên sức hút với người đọc hôm nay.
Chị Thao, Nho và Phương Định, người kể chuyện, làm thành một tổ trinh sát mặt đường trên tuyến Trường Sơn. Nhà của họ là cái hang khoét vào chân cao điểm. Mỗi trận bom dứt, họ phải lên ngay mặt đường, ước lượng số đất cần san lấp, đánh dấu những quả bom còn nằm im và tìm cách cho chúng nổ. Qua những ngày ấy, nhà văn dựng nên chân dung tuổi trẻ thời chống Mĩ: gan góc trước cái chết nhưng tâm hồn vẫn trong trẻo, mơ mộng, gắn bó với đồng đội. Đó là chủ đề của truyện.
Cảnh phá bom được kể từ bên trong cảm giác của người trong cuộc, nhờ ngôi kể thứ nhất. Cao điểm vắng đến rợn người, quả bom nằm im lìm, còn Phương Định nhất định không đi lom khom, vì cô biết các anh pháo thủ đang dõi theo và các anh ấy không ưa kiểu bước rụt rè ấy. Rồi từng cảm giác hiện lên rất rõ: lưỡi xẻng thỉnh thoảng chạm vỏ bom, một âm thanh sắc lạnh khiến cô rùng mình; ý nghĩ về cái chết thoáng qua, mờ nhạt, rồi nhường chỗ cho việc phải làm. Câu văn ở đoạn này ngắn, dồn dập, nhiều động từ. Ta hồi hộp theo từng nhịp thở của nhân vật, và lòng dũng cảm hiện ra không qua lời ngợi ca mà qua sự bình tĩnh trong từng động tác.
Cảnh mưa đá thì ngược lại. Sau trận bom làm Nho bị thương, trời bỗng đổ mưa đá. Phương Định mừng rỡ như một đứa trẻ, và cơn mưa ở cao điểm bỗng mở ra cả một miền kí ức: mẹ, căn nhà nhỏ, những ngôi sao trên bầu trời thành phố. Nhịp văn chậm lại, câu dài hơn, giọng kể mềm hẳn đi. Cô gái vừa đối mặt với cái chết giờ hiện ra đúng tuổi của mình, một cô gái thành phố hay hát, hay mơ.
So sánh hai cảnh, ta thấy dụng ý của nhà văn. Nếu chỉ có cảnh phá bom, nhân vật sẽ là một tấm gương anh hùng đẹp mà xa. Nếu chỉ có cơn mưa đá, nhân vật lại chỉ là một cô gái mộng mơ. Đặt hai trạng thái ấy trong cùng một con người, Lê Minh Khuê cho thấy chính tâm hồn trẻ trung ấy giữ cho họ không gục ngã giữa tuyến lửa. Ngôi kể thứ nhất làm cho sự chuyển đổi ấy tự nhiên: người kể chuyện tự nói về mình, khi thì hơi kiêu kì, lúc lại tự giễu, như một lời tâm sự. Ngay từ đầu, Phương Định đã tự giới thiệu mình là con gái thủ đô, với chút tự hào rất thật, rất trẻ.
Ba cô gái cũng được khắc họa trong thế đối chiếu: chị Thao bình tĩnh trước bom đạn mà lại sợ máu, Nho hồn nhiên, mê thêu thùa, Phương Định nhạy cảm, hay ngắm mình trong gương. Mỗi người một vẻ, nhưng khi Nho bị sập hầm, chị Thao và Định cuống cả lên. Tình đồng đội không cần nói ra, chỉ thấy qua hành động.
Những ngôi sao trong nhan đề là kỉ niệm về thành phố, nhưng cũng là chính những cô gái ấy: nhỏ bé, ở thật xa, vẫn lấp lánh giữa nền trời khói lửa. Đọc xong truyện, em không còn nghĩ về chiến tranh như một trang sử khô khan nữa. Em nghĩ về những người con gái chỉ hơn em vài tuổi, vừa phá bom xong đã có thể reo lên vì một trận mưa đá.
Mẫu 4: Tức nước vỡ bờ – khi chị Dậu đổi cách xưng hô
Trong mấy trang của đoạn trích, chị Dậu thay đổi cách gọi mình và gọi tên cai lệ ba lần: từ cháu và ông, sang tôi và ông, rồi bà và mày. Chỉ cần theo dõi mấy đại từ ấy, người đọc đã thấy trọn con đường từ nhẫn nhục đến vùng dậy. Đó là một trong những chỗ tài tình nhất của Ngô Tất Tố trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ, rút từ tiểu thuyết Tắt đèn.
Đoạn trích diễn ra sau khi anh Dậu bị đánh trói vì thiếu sưu, được khiêng về nhà trong tình trạng ngất lịm. Chị Dậu vừa nấu được nồi cháo, đang dỗ chồng ăn cho lại sức thì cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đòi bắt anh đi tiếp. Từ cảnh ấy, nhà văn vạch rõ sự hung bạo của lũ tay sai thời sưu thuế; mặt khác, ông khẳng định sức sống tiềm tàng và tình thương chồng của một người vợ nghèo nơi thôn quê: bị dồn ép đến cùng, họ sẽ đứng lên.
Lúc đầu, chị Dậu nhún mình xuống hàng con cháu: “Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!” Chị nói run run, hạ giọng hết mức, vì biết phận mình thấp cổ bé họng và vì muốn giữ chồng bằng mọi giá. Nhưng lời van ấy không được đáp lại. Tên cai lệ bịch vào ngực chị, rồi sấn tới trói anh Dậu.
Đến lúc ấy, chị chuyển sang xưng tôi, gọi ông: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!” Chị không van xin nữa mà đứng ngang hàng, dùng lẽ phải để cự lại. Câu nói ngắn mà rắn, cho thấy sự nhẫn nhịn đã chạm tới giới hạn. Tên cai lệ vẫn tát chị và nhảy vào cạnh anh Dậu.
Lần cuối, chị nghiến răng: “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!” Cách xưng hô đảo ngược hẳn vị thế: người đàn bà nghèo đứng trên, tên tay sai bị gọi bằng mày. Lời nói đi liền với hành động: chị túm cổ hắn ấn dúi ra cửa khiến hắn ngã chỏng quèo, rồi túm tóc tên người nhà lí trưởng lẳng ngã nhào ra thềm. Nhịp văn lúc này nhanh, động từ mạnh nối tiếp nhau, giọng kể có chút hả hê. Tên cai lệ vừa hống hách là thế bỗng hóa ra yếu ớt, lẻo khoẻo, trước sức một người đàn bà quen việc đồng áng.
Nghệ thuật đối lập làm cảnh này thêm sắc nét. Cai lệ chỉ có tiếng quát, câu chửi và những cú đánh, gần như không có nội tâm, như một bộ phận của cỗ máy áp bức. Anh Dậu thì run rẩy khuyên vợ nhịn để khỏi bị tù. Câu đáp của chị, “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…”, cho thấy chị hiểu cái giá phải trả nhưng vẫn chọn đứng lên. Sự vùng lên ấy còn tự phát, đơn độc, nhưng là thật.
Nhan đề mượn một câu tục ngữ quen thuộc để gọi tên quy luật: nước bị dồn tới mức nào thì bờ sẽ vỡ tới mức ấy. Ngô Tất Tố không để chị Dậu thắng, vì những trang sau của Tắt đèn còn nhiều tai họa, nhưng chỉ một khoảnh khắc ấy đủ làm người đọc tin rằng những người tưởng như chỉ biết cúi đầu vẫn có sức mạnh của riêng họ.
Phân tích truyện nước ngoài
Mẫu 5: Bố của Xi-mông – một câu hỏi làm thay đổi ba con người
“Bác có muốn làm bố cháu không?” Câu hỏi bật ra từ miệng một cậu bé vừa định trầm mình xuống sông, dành cho một bác thợ rèn mới gặp chưa được bao lâu. Trong truyện ngắn Bố của Xi-mông của Guy đơ Mô-pa-xăng, nhà văn Pháp thế kỉ XIX, câu hỏi ngây thơ ấy là cái trục mà cả câu chuyện xoay quanh.
Truyện phê phán sự độc ác vô tâm của những người xung quanh đối với một người mẹ lỡ lầm và đứa con không cha, đồng thời khẳng định tình thương có thể chữa lành nỗi đau do định kiến gây ra. Chủ đề ấy được dẫn dắt qua một tình huống, một chi tiết lặp lại và những cử chỉ rất nhỏ của nhân vật.
Tình huống mở đầu dồn nỗi đau của Xi-mông tới tận cùng: bị bạn bè chế nhạo vì không có bố, bị đánh, em lao ra bờ sông, toan nhảy xuống. Mô-pa-xăng không bình luận gì. Ông chỉ thêm một chi tiết: giữa lúc tuyệt vọng, nắng ấm và một chú nhái xanh vẫn làm em nguôi đi trong giây lát. Em vẫn chỉ là một đứa trẻ. Chính vì thế, câu hỏi xin một người bố sau đó vừa ngây thơ vừa đau lòng.
Lời nhận làm bố xuất hiện hai lần, mỗi lần mang một nghĩa. Lần thứ nhất, bác Phi-líp cười và gật đầu như nói đùa, để dỗ một đứa trẻ đang dọa quay lại bờ sông. Xi-mông thì reo lên: “Thế nhé! Bác Phi-líp, bác là bố cháu.” Em chỉ cần một cái tên để đáp lại lũ bạn. Lần thứ hai, khi bọn trẻ bắt bẻ rằng bác chẳng phải là bố thật, bác Phi-líp chỉnh tề quần áo đến nhà chị Blăng-sốt, ấp úng ngỏ lời rồi bế Xi-mông lên, nhận em làm con trước mặt mẹ em. Sự lặp lại cho thấy một lời hứa thoáng qua đã trở thành trách nhiệm của một người đàn ông tử tế.
Mô-pa-xăng đứng ngoài câu chuyện, ít khi giải thích; tâm lí ba nhân vật lộ ra chủ yếu qua cử chỉ. Xi-mông ôm mẹ khóc, rồi hôm sau đứng nhìn lũ bạn đầy thách thức thay vì bỏ chạy. Chị Blăng-sốt đứng dựa vào tường, xấu hổ và đau đớn đến lặng người khi con hỏi bác thợ rèn câu ấy. Bác Phi-líp tới với chút tò mò, nhưng trước người mẹ mặt tái nhợt, vẻ nghiêm trang, bác tắt nụ cười, đứng bối rối. Không cần nhiều lời, người đọc thấy cả ba đều được thay đổi bởi câu hỏi kia.
Câu chuyện khép lại ở lớp học, đúng nơi nỗi đau bắt đầu. Xi-mông tuyên bố trước lớp: bố em là Phi-líp, người thợ rèn ai cũng biết, và lần này không đứa nào cười nữa. Người đọc khó quên hình ảnh bàn tay to bè của người thợ rèn đặt lên vai đứa trẻ bên bờ sông: một cử chỉ nhỏ, đủ để giữ lại một cuộc đời.
Mẫu 6: Mắt sói – kể chuyện bằng hai con mắt
Phần lớn các truyện dẫn dắt người đọc bằng lời kể, còn Mắt sói dẫn dắt bằng ánh nhìn. Một con sói độc nhãn và một chú bé đến từ châu Phi đứng hai bên song sắt trong sở thú, lặng lẽ nhìn nhau thật lâu; qua từng con mắt, một cuộc đời dần hiện ra. Đoạn trích trong sách ứng với hai chương giữa, chương 2 và 3, của tiểu thuyết ra đời năm 1984 của nhà văn Pháp Đa-ni-en Pen-nắc. Sức hấp dẫn của nó nằm nhiều ở cách kể hơn là ở sự kiện.
Chủ đề đoạn trích là tình bạn vượt qua ranh giới giống loài, tình thương gia đình, cùng lời cảnh báo về cách con người đối xử thô bạo với thiên nhiên. Sói Lam và Phi Châu đều là những kẻ bị bứt khỏi quê hương, và họ chỉ hiểu nhau khi chịu nhìn vào câu chuyện của nhau.
Nét đặc sắc trước hết là con mắt được dùng như cánh cửa dẫn truyện. Ở chương mang tên Mắt sói, Phi Châu chăm chú nhìn con mắt còn sót lại của chú sói xanh và thấy tuổi thơ của con sói ở xứ tuyết: đàn sói con, Ánh Vàng, cô em gái ham biết, muốn được nhìn con người tận mắt, cái lưới, đám thợ săn, cuộc giải cứu khiến Sói Lam bị bắt. Sang chương Mắt người, cánh cửa mở theo chiều ngược lại: Sói Lam nhìn vào mắt cậu bé và thấy châu Phi, con lạc đà Hàng Xén bị mất tích, những ngày chăn cừu cho Vua Dê, cuộc trò chuyện với Báo. Cách kể này đặt người và vật ngang hàng nhau; ai cũng có một quá khứ đáng được lắng nghe.
Thứ hai, truyện có cấu trúc truyện lồng truyện với nhiều tuyến. Câu chuyện ở hiện tại, cuộc gặp trong vườn bách thú, gần như đứng yên, còn hai câu chuyện quá khứ thì chạy song song. Người kể giấu mình, không xưng tôi, để điểm nhìn lần lượt nghiêng về từng nhân vật, nên người đọc được sống trong cả hai cuộc đời. Nhờ vậy, sự đồng cảm giữa con sói và cậu bé không bị nói ra, mà được người đọc tự cảm thấy.
Thứ ba, các con vật được nhân hóa có suy nghĩ, tình cảm riêng nhưng vẫn giữ bản năng loài. Ánh Vàng ham biết, liều lĩnh; Sói Lam là người anh lo lắng, sẵn sàng lao vào nguy hiểm để cứu em. Phi Châu thì hiểu muông thú như hiểu bạn, biết lắng nghe và thuyết phục cả một con báo. Chính những phẩm chất ấy chuẩn bị cho tình bạn ở hiện tại.
Khi cuộc nhìn nhau khép lại, giữa người và sói chẳng cần thêm lời nào. Đoạn trích khiến em nghĩ rằng muốn hiểu một ai đó, kể cả một con vật, có khi chỉ cần chịu đứng yên và nhìn đủ lâu. Hình ảnh cậu bé nhắm bớt một mắt khi đứng trước con sói độc nhãn là chi tiết em nhớ lâu nhất.
Mẫu 7: Chiếc lá cuối cùng – hai lần đảo ngược và một kiệt tác
Ở lần đọc thứ hai, khi đã biết trước kết thúc, em mới thấy O. Hen-ri sắp đặt Chiếc lá cuối cùng tinh vi đến mức nào. Nhà văn Mỹ sống trong khoảng 1862 – 1910 ấy giấu một bí mật suốt cả câu chuyện và chỉ hé lộ ở những dòng cuối cùng. Thủ pháp ấy, đảo ngược tình huống, là chìa khóa để hiểu truyện.
O. Hen-ri tôn vinh lòng thương người và sự hi sinh âm thầm giữa những người nghèo ở một khu phố họa sĩ, đồng thời gửi gắm quan niệm về nghệ thuật: tác phẩm chân chính là tác phẩm sinh ra từ lòng nhân ái và đem lại sự sống cho con người.
Lần đảo ngược thứ nhất xảy ra với Giôn-xi. Cô gái bị sưng phổi tin rằng chiếc lá thường xuân sau chót mà rụng thì mình cũng chết theo. Một đêm mưa gió dữ dội trôi qua, rồi một đêm nữa, chiếc lá vẫn bám trên cành. Từ chỗ chờ chết, Giôn-xi xin ăn, xin gương, và tự nhận rằng “muốn chết là một tội”. Người đọc thở phào, tưởng câu chuyện đã khép lại có hậu.
Ngay lúc ấy, lần đảo ngược thứ hai ập đến: cụ Bơ-men, người họa sĩ già vẫn khỏe mạnh, cáu kỉnh ở tầng dưới, đã qua đời vì sưng phổi. O. Hen-ri không kể cảnh cụ trèo lên vẽ chiếc lá. Ông để Xiu kể lại bằng vài câu, kèm những chi tiết người ta tìm thấy: đôi giày và bộ quần áo ướt sũng, chiếc đèn bão còn thắp, cái thang, mấy cây bút lông và bảng pha màu có màu xanh, màu vàng. Từ những đồ vật ấy, người đọc tự dựng lại cảnh một ông già đứng trong mưa rét suốt đêm. Sự hi sinh vì thế lặng lẽ hơn, và cũng làm người ta nghẹn hơn.
Giữ kín cảnh vẽ lá là lựa chọn có chủ ý. Người kể không xưng tôi, song phần lớn câu chuyện được nhìn qua đôi mắt Xiu, người cũng không biết điều gì đang xảy ra ngoài cửa sổ. Người đọc biết đúng bằng Xiu, nên bất ngờ cùng Xiu. Nếu nhà văn tả cảnh cụ Bơ-men vẽ ngay khi nó diễn ra, chiếc lá sẽ chỉ còn là một mẹo nhỏ, không phải một bí mật.
Lời Xiu gọi chiếc lá là kiệt tác của cụ Bơ-men khép lại một mạch ngầm chạy suốt truyện. Cả đời cụ mơ vẽ một kiệt tác mà chưa làm được. Đến cuối cùng, kiệt tác ấy là một chiếc lá vẽ trên bức tường gạch, giống thật tới mức đánh lừa được người bệnh, và giá trị của nó không nằm ở nét vẽ mà ở chỗ nó đã giữ một cô gái ở lại với cuộc đời. Cái giá của kiệt tác là mạng sống của người vẽ.
Đọc xong, em cứ hình dung mãi chiếc lá xanh thẫm trên bức tường gạch, không bao giờ vàng úa, không bao giờ rơi. Đó là hình ảnh đẹp nhất mà O. Hen-ri để lại: một tình thương lặng lẽ đến mức người được cứu chỉ biết đến khi người cứu mình đã không còn.
Mẫu 8: Cô bé bán diêm – năm lần quẹt diêm
Một que diêm chỉ cháy trong vài giây. Thế mà An-đéc-xen, nhà kể chuyện người Đan Mạch, đã dựng cả một truyện ngắn trên những khoảnh khắc ngắn ngủi ấy. Cô bé bán diêm cảm động không chỉ vì số phận em bé, mà còn vì cách nhà văn sắp xếp năm lần quẹt diêm thành một chuỗi lặp lại đầy dụng ý.
Truyện bày tỏ lòng thương xót em bé nghèo, nâng niu những mong ước nhỏ nhoi của em và lên án thái độ dửng dưng của người đời. Câu chuyện diễn ra vào đêm cuối năm rét buốt: em bé không mũ, đi chân trần, rao suốt buổi mà chẳng ai mua, sợ về nhà bị bố đánh, đành thu mình trong một xó tường.
Mỗi que diêm mở ra một cảnh mộng, cảnh sau cao hơn cảnh trước. Que thứ nhất mang tới một lò sưởi rực hồng; que thứ hai, một bàn ăn với con ngỗng quay; que tiếp theo, một cây thông Nô-en treo đầy nến; que thứ tư, người bà đã khuất; và cuối cùng, em đốt sạch những que còn lại để níu bà, rồi được bà đưa đi. Mong ước đi dần từ nhu cầu của thân thể, ấm và no, đến nhu cầu của tâm hồn, niềm vui và tình thương. Lối lặp lại ấy vốn quen trong truyện cổ tích, khiến câu chuyện mang dáng một truyện kể dân gian, dễ nhớ và có nhịp.
Nhưng mỗi lần lặp lại cũng là một lần đối lập. Que diêm tắt, lò sưởi biến mất, bàn ăn biến mất, chỉ còn bức tường lạnh và đường phố tối om. An-đéc-xen đặt sát cạnh nhau ánh sáng và bóng tối, hơi ấm và giá rét, ảo ảnh và thực tại. Sự tương phản lặp đi lặp lại khiến người đọc càng lúc càng thắt lòng, vì ta biết trước rằng que diêm nào rồi cũng tắt.
Kết thúc truyện là một sự tương phản cuối cùng. Sáng mồng một đầu năm, người qua đường thấy em ngồi chết rét giữa những bao diêm, “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”. Họ chỉ thấy một đứa trẻ muốn sưởi ấm bằng mấy que diêm; chẳng ai hay em đã được thấy những gì đẹp đẽ. Cái chết vừa là lời tố cáo, vừa được nhà văn bao bọc bằng niềm thương, như một cách cho em được tới một chốn ấm no.
Câu chuyện cũ gần hai thế kỉ, vậy mà mỗi lần đọc lại em vẫn thấy nao lòng ở buổi sáng đầu năm ấy, khi những bao diêm cháy dở nằm yên trên tuyết và không ai dừng lại lâu bên em bé.
Bài viết ngắn cho giờ kiểm tra trên lớp
Mẫu 9: Tôi đi học – đọc lại vào một buổi sáng tháng Chín
Sáng khai giảng năm lớp 8, đứng dưới sân trường nhìn các em lớp 6 rụt rè bám tay bố mẹ, em bỗng nhớ tới Tôi đi học. Truyện ngắn ấy được Thanh Tịnh đưa vào tập Quê mẹ từ năm 1941, vậy mà cảm giác ngày đầu đến trường trong truyện vẫn gần gũi như chuyện của em mới hôm qua.
Điều truyện muốn giữ lại là nỗi bỡ ngỡ, sự hồi hộp rất trong trẻo của một cậu bé trong ngày đầu tiên cắp sách tới trường. Chủ đề ấy được thể hiện chủ yếu bằng chất trữ tình, chứ không bằng sự kiện.
Truyện hầu như chẳng có biến cố nào. Người kể xưng tôi, nhớ lại một sáng cuối thu xa xưa theo đúng trình tự: con đường làng cùng mẹ đến trường, sân trường Mĩ Lí đông người, lúc ông đốc gọi tên, phút đầu tiên ngồi trong lớp. Mỗi chặng là một đợt sóng cảm xúc. Con đường làng đã đi bao lần mà sáng ấy bỗng lạ hẳn, bởi người thay đổi là cậu bé: được đi học, cậu thấy mình như đã lớn, muốn được tự tay cầm bút thước như các bạn.
Những hình ảnh so sánh làm cảm xúc ấy hiện ra cụ thể. Ngôi trường được ví với cái đình làng, vừa đẹp vừa khiến cậu bé thấy mình nhỏ bé. Đám trò nhỏ lần đầu đến lớp, khép nép bên cha mẹ, được ví với những chú chim non đứng chần chừ ở miệng tổ, thèm bay mà vẫn sợ. Hình ảnh ấy gói trọn tâm trạng của đứa trẻ lần đầu đi học: háo hức bước ra thế giới mà vẫn chưa nỡ rời vòng tay quen thuộc.
Cuối truyện, khi đã ngồi trong lớp, cậu bé nhìn theo con chim nhỏ vừa vụt khỏi bậu cửa, nhớ những trò chơi cũ, rồi quay về với dòng chữ thầy viết trên bảng. Chỉ một chi tiết như thế đủ cho thấy cậu đã bắt đầu thuộc về một thế giới mới.
Gấp truyện lại, em lại nhìn các em lớp 6 đang đứng xếp hàng dưới cờ. Biết đâu nhiều năm nữa, một em trong số ấy cũng sẽ nhớ về buổi sáng hôm nay như Thanh Tịnh nhớ con đường làng ngày thu năm ấy.
Mẫu 10: Bồng chanh đỏ – một nhan đề như đốm lửa
Bồng chanh đỏ là tên một loài chim nhỏ sống ở đầm sen làng quê, được Đỗ Chu tả là “toàn thân đều đỏ hồng như một đốm lửa”. Chọn tên loài chim làm nhan đề, nhà văn đã đặt ngay vào trung tâm câu chuyện điều quý giá nhất: một sự sống nhỏ bé, đẹp và dễ bị tổn thương.
Truyện ca ngợi tình yêu thiên nhiên, sự nâng niu những sinh linh nhỏ bé, và kể lại quá trình lớn lên trong suy nghĩ của một cậu bé. Truyện còn chứa tình anh em gắn bó, cùng nỗi đau đáu nhớ làng của người lính xa nhà.
Người kể chuyện là Hoài, cậu em vốn chỉ mong bắt được chim về nuôi. Vì truyện kể ở ngôi thứ nhất, ta theo sát từng cảm xúc của Hoài: háo hức đêm ra đầm, tiếc đứt ruột lúc anh Hiền trả con chim đã bắt được về tổ, giận anh, rồi lặng người khi bị anh hỏi lại rằng nếu có ai phá nhà mình thì sao. Người đọc lớn lên cùng Hoài.
Anh Hiền là người mê chim nhất, vậy mà cũng là người tha cho đôi chim vì biết chúng còn con nhỏ. Chi tiết lá thư ở đầu truyện càng làm nhân vật thêm đẹp: giữa rừng Trường Sơn có biết bao loài chim lạ, anh vẫn nhắc tới đôi bồng chanh ở đầm làng. Con chim nhỏ trở thành một phần của quê hương trong lòng người lính.
Đỗ Chu tả đêm ra đầm bằng những nét rất êm: đồng lúa đã gặt xong, những vì sao soi bóng xuống mặt ruộng, hai anh em lội bùn lần tới tổ chim. Cảnh đẹp và yên đến mức việc bắt chim bỗng giống như một sự xâm phạm. Vì thế, quyết định thả chim của anh Hiền không hề gượng ép, nó hợp với vẻ thanh bình của chính khung cảnh ấy. Thiên nhiên trong truyện không chỉ làm nền mà như một nhân vật lặng lẽ, khiến người đọc đứng về phía đôi chim.
Cuối truyện, Hoài thầm mong đôi chim yên tâm trở về đầm cũ. Đốm lửa đỏ ở đầm sen, vì thế, không chỉ là màu lông một loài chim. Có lẽ đó còn là đốm lửa tử tế mà người anh đã kịp nhóm lên trong lòng đứa em trước ngày ra trận?
Mẫu 11: Cây sồi mùa đông – khi cô giáo trở thành học trò
Giữa giờ học về danh từ, Xa-vu-skin đưa ra một ví dụ không giống ai: cây sồi mùa đông. Với cô An-na Va-xi-li-ép-na, đó chỉ là câu trả lời chưa đúng ý của một cậu học trò hay đi học muộn. Truyện ngắn Cây sồi mùa đông của nhà văn Nga Iu-ri Na-ghi-bin bắt đầu từ sự hiểu lầm nhỏ ấy để dẫn người đọc tới một phát hiện lớn.
Truyện trân trọng vẻ trong trẻo trong tâm hồn trẻ thơ, tình yêu thiên nhiên của các em, và nhắc nhở rằng người dạy cần lắng nghe, thấu hiểu học trò. Thiên nhiên hiện lên như một trường học đặc biệt mà sách vở chưa thay thế được.
Tình huống truyện là một chuyến đi: cô giáo theo cậu bé về nhà để gặp mẹ cậu. Con đường xuyên rừng mùa đông chính là con đường đến trường hằng ngày của Xa-vu-skin. Đến gốc cây sồi lớn, cậu giới thiệu với cô như với một người quen: “Nó đây này, cây sồi mùa đông”. Rồi cậu bới tuyết chỉ cho cô con nhím đang ngủ, những con vật bé xíu trú đông dưới gốc cây. Đến đây, cô hiểu vì sao cậu hay muộn học.
Nét đặc sắc nhất là sự đảo vai. Trong lớp, cô là người giảng; trong rừng, cậu bé dẫn đường và giải thích, còn cô lắng nghe. Cô nhận ra những bài giảng của mình khô khan biết bao so với vốn hiểu biết sống động của cậu học trò. Ở cuối truyện, cô gọi cậu là “chú bé công dân tuyệt diệu và bí ẩn của tương lai”.
Nhan đề cũng gắn chặt với chi tiết mở đầu. Trong giờ học, cụm từ cây sồi mùa đông bị coi là một ví dụ sai; đến cuối truyện, nó trở thành tên gọi của cả một thế giới sống động mà cô giáo chưa từng biết. Nhà văn khéo để một danh từ trong bài ngữ pháp mang tới một bài học về cách nhìn: điều ta cho là sai có khi chỉ là điều ta chưa hiểu. Lời văn tả rừng mùa đông trong veo, nhiều màu sắc, làm cho bài học ấy đến nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi.
Lúc chia tay, cậu bé còn đứng lại xa xa trông theo để cô đi qua rừng cho yên tâm. Hình ảnh ấy cho em tin rằng người học trò tưởng như kém cỏi nhất lớp có khi lại đang giữ cả một khu rừng trong lòng.
Mẫu 12: Xe đêm – An-đéc-xen kể chuyện cổ tích cho người thật
Trên một con đường nước Ý, cỗ xe ngựa lăn bánh trong đêm, chở một ông thầy tu, một thiếu phụ, rồi đón thêm ba cô gái quê không đủ tiền đi xe. Người trả nốt tiền cho họ là một chàng trai cao lêu nghêu tên An-đéc-xen. Xe đêm của Pau-tốp-xki, nhà văn người Nga, là một bức chân dung nhỏ về bậc thầy truyện cổ tích khi ông còn trẻ.
Qua chuyến đi ấy, Pau-tốp-xki cho thấy trí tưởng tượng, khi đi cùng lòng tốt, có thể làm đời người đẹp hơn: nhà văn chân chính dùng tài kể chuyện để đem lại niềm tin, hạnh phúc cho những người bình thường.
Pau-tốp-xki xây dựng nhân vật bằng sự tương phản giữa tưởng tượng và đời thực. Trong mơ mộng, An-đéc-xen luôn là chàng trai đẹp đẽ, hoạt bát. Ngoài đời, nhà văn nói thẳng rằng chàng xấu trai và chính chàng biết rõ điều ấy. Thế nhưng trong bóng tối của chuyến xe đêm, không ai nhìn rõ mặt ai; chỉ còn giọng nói. Bóng tối giải phóng chàng, cho chàng tự tin nhận mình là người biết đoán trước tương lai.
Những lời tiên đoán dành cho Ni-cô-li-na, Ma-ri-a và An-na giống như ba truyện cổ tích nhỏ lồng trong truyện chính. Điều thú vị là chúng có tác động thật: thiếu phụ đi cùng xe xúc động đến mức mời Ma-ri-a về ở nhà mình để cô có dịp tìm gặp người cô thầm thương. Trí tưởng tượng đã bước ra đời thực và làm thay đổi một số phận.
Những người đi cùng xe cũng được đặt vào thế đối lập có dụng ý. An-đéc-xen kể mình từng đem kẹo, hoa, dải lụa đặt dưới các cây nấm để cô con gái nhỏ nhà gác rừng nhặt được, rồi bảo đấy là quà của mấy chú lùn; nghe vậy, ông thầy tu chê đó là trò đánh lừa trẻ nhỏ. Hai cách nghĩ ấy giống hai kiểu người đọc truyện cổ tích: một bên chỉ thấy chuyện bịa, một bên nhận ra niềm vui có thật mà câu chuyện đem lại cho đứa trẻ. Pau-tốp-xki rõ ràng đứng về phía An-đéc-xen.
Dọc đường, chàng trai với tay bẻ vài chiếc lá du ướt mưa, cất đi làm kỉ niệm. Em nghĩ chuyến xe đêm ấy cũng giống những chiếc lá kia: nhỏ bé, dễ quên, nhưng được nhà văn gìn giữ lại thành một câu chuyện đẹp.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể lại gần hết truyện, phần phân tích chỉ còn vài câu. | Tóm tắt trong ba đến năm câu; mọi sự việc nhắc lại sau đó phải đi kèm nhận xét về tác dụng. |
| Chỉ phân tích nhân vật, quên các yếu tố nghệ thuật khác. | Mỗi đoạn thân bài gắn với một nét nghệ thuật cụ thể: tình huống, ngôi kể, chi tiết, kết thúc, ngôn ngữ. |
| Gọi tên biện pháp mà không nói tác dụng (truyện dùng ngôi thứ nhất, có so sánh…). | Luôn trả lời câu hỏi: nhờ cách viết ấy, người đọc thấy rõ hơn điều gì của chủ đề? |
| Trích dẫn nhớ mang máng nhưng vẫn đặt trong ngoặc kép. | Câu nào không chắc thì dẫn ý bằng lời của mình, bỏ ngoặc kép. |
| Mở bài dài dòng bằng tiểu sử tác giả. | Một câu thông tin tác giả là đủ; dành chỗ cho nhận xét khái quát về truyện. |
| Đồng nhất người kể chuyện với tác giả (ông giáo là Nam Cao, Phương Định là Lê Minh Khuê). | Phân biệt rõ: người kể là nhân vật do nhà văn tạo ra; tác giả đứng sau lựa chọn cách kể. |
| Kết bài lặp lại mở bài, hoặc khen chung chung. | Nêu một điều cụ thể truyện để lại: một hình ảnh, một suy nghĩ mới, một thay đổi trong cách nhìn. |
- Chọn truyện em nắm chắc: đề Chân trời sáng tạo cho chọn truyện yêu thích, nên chọn truyện em nhớ được nhiều chi tiết.
- Trước khi viết, kẻ nhanh một bảng ba cột: chi tiết – nét nghệ thuật – tác dụng; bảng ấy chính là khung thân bài.
- Bài kiểm tra 45 phút: một đoạn mở, ba đoạn thân, một đoạn kết là vừa; đừng cố phân tích mọi yếu tố.
- Muốn mở bài không bị khuôn, hãy bắt đầu bằng một chi tiết hoặc nhan đề, nhưng vẫn phải nêu tên truyện, tác giả ngay trong đoạn đầu.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu đang học sách Cánh diều, hãy bắt đầu với mẫu 1 về Lão Hạc rồi so với dàn ý chi tiết ở trên. Học sinh dùng sách Kết nối tri thức nên đọc mẫu 2 và mẫu 6 (Lặng lẽ Sa Pa, Mắt sói), và mẫu 12 cho phần luyện lại ở Bài 8. Sách Chân trời sáng tạo có mẫu 5, mẫu 10 và mẫu 11 viết về các truyện trong Bài 7. Muốn tập kiểu bài so sánh, đọc mẫu 3 và mẫu 4; muốn tập viết nhanh trong giờ kiểm tra, đọc nhóm bốn bài ngắn cuối trang.
Xem thêm:
- Soạn bài Lão Hạc (Nam Cao) – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
- Soạn bài Lặng lẽ Sa Pa – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Soạn bài Mắt sói – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Soạn bài Chiếc lá cuối cùng
- Phân tích Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê)
- Phân tích đoạn trích Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố)
- Soạn bài Bố của Xi-mông – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Bồng chanh đỏ – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Cây sồi mùa đông – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Tôi đi học (Thanh Tịnh) – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Soạn bài Xe đêm – Bài 8 Nhà văn và trang viết, Kết nối tri thức
- Soạn bài Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa (Bài 8, Kết nối tri thức)
- Phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học (văn mẫu lớp 7)
- Nghị luận về một vấn đề của đời sống lớp 8