Văn học trung đại là bộ phận văn học viết của Việt Nam ra đời và phát triển trong khoảng thế kỉ X – XIX, gồm hai thành phần chính là sáng tác bằng chữ Hán và sáng tác bằng chữ Nôm. Đây là thời của Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên.
| Khái niệm | Văn học viết Việt Nam thời phong kiến độc lập, từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX |
| Thành phần | Văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm (cuối thế kỉ XIX có thêm chữ quốc ngữ) |
| Bốn giai đoạn | X – hết XIV · XV – hết XVII · XVIII – nửa đầu XIX · nửa cuối XIX |
| Dấu hiệu nhận biết | Viết bằng chữ Hán hoặc Nôm, theo thể loại có quy định chặt, dùng nhiều điển cố, ước lệ |
| Nội dung lớn | Yêu nước, nhân đạo, thế sự |

Văn học trung đại tính từ đâu đến đâu?
Hai mốc của thời kì này gắn với lịch sử. Mốc mở đầu là thế kỉ X, khi chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền khép lại thời Bắc thuộc và mở ra nhà nước phong kiến độc lập. Từ đây, người Việt bắt đầu có một nền văn học viết của riêng mình, do người Việt sáng tác, phục vụ đời sống của quốc gia Đại Việt. Mốc kết thúc là hết thế kỉ XIX; sang đầu thế kỉ XX, văn học chuyển dần sang thời hiện đại, chữ quốc ngữ thay chỗ chữ Hán, chữ Nôm.
Chữ “trung đại” có nghĩa là thời giữa, nằm giữa thời cổ đại và thời hiện đại, cách chia giai đoạn mượn từ sử học. Vì thế có tài liệu gọi đây là văn học cổ, có tài liệu gọi theo văn tự là văn học Hán Nôm, còn sách Ngữ văn cũ đặt tên bài khái quát theo mốc thời gian: văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Các tên ấy đều chỉ cùng một khối tác phẩm.
Song song với dòng văn học viết ấy, kho tàng ca dao, truyện cổ tích vẫn tiếp tục được truyền miệng. Hai dòng chảy có ảnh hưởng qua lại; phần truyền miệng có bài riêng là đặc trưng và các thể loại văn học dân gian. Còn sơ đồ chung các bộ phận của văn học Việt Nam nằm ở bài văn học và các bộ phận hợp thành.
Hai thành phần chữ và bốn chặng phát triển
Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
Văn học chữ Hán có từ thế kỉ X, gồm cả thơ lẫn văn xuôi, phần lớn thể loại vay mượn từ văn học Trung Hoa như chiếu, hịch, cáo, phú, truyện truyền kì, kí, tiểu thuyết chương hồi, thơ Đường luật. Viết bằng chữ của người Hán, nhưng nội dung là chuyện nước Việt, tâm sự người Việt.
Văn học chữ Nôm, viết bằng thứ chữ người Việt tự tạo để ghi tiếng nói của mình, xuất hiện muộn hơn (sách giáo khoa ghi khoảng cuối thế kỉ XIII) và chủ yếu là thơ. Đây là nơi sinh ra những thể loại thuần Việt: truyện thơ lục bát, ngâm khúc song thất lục bát, hát nói. Cách người xưa ghép chữ Nôm được kể trong bài cách tạo chữ Nôm và tác phẩm tiêu biểu.
Bảng bốn giai đoạn
| Giai đoạn | Nét nổi bật | Tác phẩm tiêu biểu |
|---|---|---|
| Thế kỉ X – hết XIV | Văn học chữ Hán là chính; cảm hứng yêu nước, hào khí chống ngoại xâm; thơ thiền | Chiếu dời đô, Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Phú sông Bạch Đằng |
| Thế kỉ XV – hết XVII | Chữ Hán và chữ Nôm cùng phát triển; thêm cảm hứng thế sự, phê phán | Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập, Truyền kì mạn lục |
| Thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX | Đỉnh cao của cả thời kì; trào lưu nhân đạo, đề cao con người cá nhân | Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Hoàng Lê nhất thống chí |
| Nửa cuối thế kỉ XIX | Thực dân Pháp xâm lược; thơ văn yêu nước chống Pháp, thơ trào phúng; chữ quốc ngữ xuất hiện | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Lục Vân Tiên, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương |
Giai đoạn thứ ba thường được coi là đỉnh cao, vì cùng lúc xuất hiện nhiều tác giả lớn và những kiệt tác như Truyện Kiều.
Ba nội dung lớn và ba đặc điểm nghệ thuật
Đọc qua nhiều tác phẩm, có thể gom lại ba dòng cảm hứng chính:
- Yêu nước: ý thức độc lập, tự cường, căm thù giặc, ca ngợi chiến thắng. Đậm nhất ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối.
- Nhân đạo: thương cảm số phận con người, nhất là người phụ nữ; đòi quyền sống, quyền hạnh phúc. Nở rộ ở thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX.
- Thế sự: nhìn thẳng vào xã hội, phê phán thói đời, chốn quan trường; mạnh lên từ thế kỉ XV và rõ nhất ở thơ trào phúng cuối thế kỉ XIX.
Về nghệ thuật, các sách khái quát thường nêu ba cặp đặc điểm. Thứ nhất là tính quy phạm, song song với những lúc tác giả vượt khỏi khuôn phép: thể loại có luật chặt, hình ảnh ước lệ (tùng, cúc, trúc, mai), hay dùng điển cố; nhưng tác giả lớn như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương biết vượt khuôn để nói tiếng nói riêng. Thứ hai là sự trang nhã đi cạnh nét bình dị: đề tài cao cả, lời lẽ tao nhã, song càng về sau càng gần đời thường. Thứ ba là học hỏi rồi Việt hóa (sách gọi là tiếp thu và dân tộc hóa): học thể loại Trung Quốc rồi Việt hóa, như thơ Nôm Đường luật, hay sáng tạo hẳn thể loại mới.
Gặp một bài thơ lạ, ba dấu hiệu sau giúp nhận ra nó thuộc thời trung đại: văn bản gốc là chữ Hán hoặc chữ Nôm (sách thường in kèm phiên âm, dịch nghĩa); thể loại là Đường luật, phú, hịch, cáo, truyện thơ, ngâm khúc; và cách nói nhiều ước lệ, ít tả chi tiết đời thực. Nền tư tưởng phía sau phần lớn là đạo Nho; bài tư tưởng cốt lõi của Nho giáo giúp hiểu vì sao nhân vật nói nhiều về trung, hiếu, tiết, nghĩa.
Tác giả, tác phẩm trung đại trong sách Ngữ văn
Thế kỉ X – XIV: tiếng nói của một quốc gia mới
Năm 1010, Lý Công Uẩn viết bài chiếu dời kinh đô ra thành Đại La, xem soạn Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Bài thơ thần Nam quốc sơn hà, tương truyền gắn với Lý Thường Kiệt, được coi là lời tuyên bố chủ quyền đầu tiên bằng thơ; có thể đọc bài soạn Nam quốc sơn hà lớp 8. Thời Trần để lại soạn Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, phân tích Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão và soạn Phú sông Bạch Đằng. Đặc điểm của thể hịch được giải thích ở bài thể hịch và cách phân biệt với chiếu, cáo.
Thế kỉ XV – XVII: Nguyễn Trãi và truyện truyền kì
Nguyễn Trãi đứng ở đầu giai đoạn với áng văn chữ Hán Đại cáo bình Ngô trong sách Cánh diều lớp 10 và tập thơ Nôm Quốc âm thi tập. Bài thơ chữ Hán Côn Sơn ca của ông được học qua bản dịch, xem soạn Bài ca Côn Sơn lớp 8. Thế kỉ XVI có Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, tiêu biểu là đọc hiểu Chuyện người con gái Nam Xương sách Cánh diều.
Thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX: thời của những kiệt tác
Ngâm khúc nở rộ với Chinh phụ ngâm, bản gốc chữ Hán của Đặng Trần Côn; đoạn hay được học là soạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Nguyễn Du viết Truyện Kiều, trong đó đoạn soạn Trao duyên của Nguyễn Du là trích đoạn quen của lớp 11. Hồ Xuân Hương mang tiếng nói táo bạo của người phụ nữ vào thơ Nôm, như soạn Tự tình bài 2 của Hồ Xuân Hương. Văn xuôi chữ Hán có tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí (soạn hồi Quang Trung đại phá quân Thanh), kí của Lê Hữu Trác (soạn Vào phủ chúa Trịnh) và tùy bút của Phạm Đình Hổ (soạn Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh). Hát nói có soạn Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.
Nửa cuối thế kỉ XIX: tiếng khóc và tiếng cười
Nguyễn Đình Chiểu viết truyện thơ Lục Vân Tiên (xem soạn đoạn Lục Vân Tiên gặp nạn) và bài văn tế được coi là tượng đài người nông dân đánh Pháp, xem soạn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11. Nguyễn Khuyến để lại chùm thơ thu và bài soạn Bạn đến chơi nhà sách Chân trời. Tú Xương vừa cười đời vừa thương người, như bài bài thơ Thương vợ của Tú Xương; giọng cười ấy có bài riêng là giọng trào phúng và khác châm biếm.
Văn học trung đại khác dân gian và hiện đại ra sao?
| Tiêu chí | Văn học dân gian | Văn học trung đại | Văn học hiện đại |
|---|---|---|---|
| Hình thức lưu truyền | Truyền miệng | Văn bản viết (chữ Hán, chữ Nôm) | Văn bản viết, in ấn (chữ quốc ngữ) |
| Tác giả | Tập thể, không rõ tên | Phần lớn là nhà nho, có tên tuổi | Nhà văn chuyên nghiệp, có tên tuổi |
| Thể loại | Ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích… | Thơ Đường luật, phú, hịch, cáo, truyện thơ, ngâm khúc | Thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói… |
| Cách nói | Mộc mạc, gần lời ăn tiếng nói | Ước lệ, điển cố, trang nhã | Tả thực, đề cao cá tính sáng tạo |
Một điểm hay bị hỏi: thơ trung đại không phải là “thơ cổ Trung Quốc”. Dù mượn chữ và thể loại, đó là văn học của người Việt; điều này thể hiện rõ ở chữ văn hiến trong Bình Ngô đại cáo, nơi Nguyễn Trãi khẳng định nước Đại Việt có nền văn hiến riêng.
Ôn tập văn học trung đại có đáp án
Câu 1: Văn học trung đại Việt Nam kéo dài trong khoảng thời gian nào, gồm mấy thành phần?
Đáp án: Khoảng mười thế kỉ, từ thế kỉ X tới lúc thế kỉ XIX khép lại. Có hai thành phần chính: sáng tác viết bằng chữ Hán và sáng tác viết bằng chữ Nôm.
Câu 2: Xếp các tác phẩm sau vào đúng giai đoạn: Truyện Kiều, Hịch tướng sĩ, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bình Ngô đại cáo.
Đáp án: Hịch tướng sĩ: thế kỉ X – hết XIV. Bình Ngô đại cáo: thế kỉ XV – hết XVII. Truyện Kiều: thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: nửa cuối thế kỉ XIX.
Câu 3: Kể tên ba thể loại do văn học chữ Nôm sáng tạo hoặc Việt hóa.
Đáp án: Truyện thơ lục bát (Truyện Kiều, Lục Vân Tiên), ngâm khúc song thất lục bát (bản dịch Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc), hát nói (Bài ca ngất ngưởng). Thơ Nôm Đường luật như thơ Hồ Xuân Hương là thể tiếp thu nhưng đã được Việt hóa.
Câu 4: Vì sao giai đoạn thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX được coi là đỉnh cao?
Đáp án: Vì trào lưu nhân đạo phát triển mạnh, con người cá nhân được quan tâm; cùng lúc xuất hiện nhiều tác giả lớn (Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều) và cả thơ lẫn văn xuôi, chữ Hán lẫn chữ Nôm đều có thành tựu.
Câu 5: Chỉ ra một biểu hiện của tính quy phạm trong câu “Đã mấy năm sương gió, làm người trượng phu” nếu em gặp trong một bài thơ trung đại.
Đáp án tham khảo: Câu tự đặt này mang lối nói ước lệ: sương gió chỉ cuộc đời gian truân, trượng phu là hình mẫu người đàn ông theo quan niệm Nho giáo. Dùng hình ảnh có sẵn ý nghĩa quy ước, thay vì tả cụ thể, là một biểu hiện của tính quy phạm.
Mẹo học thuộc nhanh nhất là nhớ bốn tác phẩm “mốc” cho bốn giai đoạn: Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nhớ được bốn tác phẩm này là nhớ được cả trục thời gian, các tác phẩm khác chỉ việc xếp vào quanh chúng.
Bốn câu học sinh lớp 10, 11 cần nắm
Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ nào?
Từ thế kỉ X, khi nước ta giành lại độc lập sau thời Bắc thuộc. Trước đó văn học viết chưa phát triển thành một nền văn học dân tộc, phần chính của sáng tác là văn học dân gian truyền miệng.
Đặc điểm văn học trung đại gồm những gì?
Về nội dung có ba cảm hứng lớn: yêu nước, nhân đạo, thế sự. Về nghệ thuật, nhớ ba cặp: theo khuôn phép nhưng có lúc vượt khuôn; chuộng tao nhã nhưng dần gần đời thường; học văn học Trung Hoa nhưng biến thành cái của người Việt.
Văn học trung đại có phải chỉ gồm văn học chữ Hán?
Không. Bên cạnh chữ Hán còn có văn học chữ Nôm với nhiều kiệt tác như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương. Cuối thế kỉ XIX còn có một số sáng tác bằng chữ quốc ngữ, nhưng chữ Hán và chữ Nôm vẫn giữ vai trò chính.
Văn học trung đại kết thúc khi nào, và sau đó là gì?
Thời kì này khép lại cùng thế kỉ XIX. Bước sang thế kỉ XX, văn học Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa, với chữ quốc ngữ, báo chí và những thể loại mới như tiểu thuyết hiện đại, Thơ mới. Ranh giới giữa văn học hiện đại và văn học đương đại được bàn ở bài văn học đương đại khác hiện đại thế nào.