Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) theo SGK Ngữ văn 9 Cánh diều, tập hai, Bài 6 (Truyện truyền kì và truyện trinh thám), văn bản đọc hiểu 1, trang 5–10. Bài soạn đi qua phần Chuẩn bị, bảy câu hỏi gợi ý bên lề văn bản và sáu câu hỏi Đọc hiểu cuối bài; văn bản trong sách Cánh diều theo bản dịch Trúc Khê Ngô Văn Triện, chia làm ba phần đánh số.
Câu hỏi ở sách Cánh diều khác với hai bộ sách còn lại. Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức hoặc Chân trời sáng tạo, hãy xem Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương – Kết nối tri thức & Chân trời sáng tạo.
Chuẩn bị – soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương Cánh diều (trang 5)
Sách yêu cầu xem lại Kiến thức ngữ văn về truyện truyền kì; khi đọc, ngoài những yêu cầu chung với truyện, cần phát hiện ý nghĩa của các yếu tố kì ảo và suy ngẫm về bài học cuộc đời mà câu chuyện gợi ra; tìm hiểu trước về Nguyễn Dữ và tập Truyền kì mạn lục.

Tác giả Nguyễn Dữ
- Không rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào; ông sống ở thế kỉ XVI, quê Hải Dương (huyện Trường Tân cũ). Nhà ông có truyền thống đỗ đạt, bản thân ông học rộng, từng làm quan một thời gian rồi lui về ở ẩn.
- Ông sống vào thời Lê – Mạc tranh giành quyền lực, xã hội loạn lạc; điều này in dấu đậm trong sáng tác của ông.
Tập truyện Truyền kì mạn lục
- Nhan đề sách có nghĩa là chép tản mạn các chuyện lạ lưu truyền trong dân gian; sách có 20 truyện, dùng chữ Hán, văn xuôi xen biền văn và thơ, cuối nhiều truyện có lời bình.
- Tác phẩm được người đương thời khen là thiên cổ kì bút (áng văn hay nghìn đời); nhiều truyện lấy cốt từ truyện dân gian, như Chuyện người con gái Nam Xương bắt nguồn từ truyện cổ tích Vợ chàng Trương.
- Tên chữ Hán của truyện là Nam Xương nữ tử truyện; Nam Xương nay thuộc tỉnh Hà Nam.
Bố cục văn bản (ba phần như đánh số trong sách)
- Phần (1) – từ đầu đến khi mẹ chồng mất: Vũ Nương lấy Trương Sinh, tiễn chồng đi lính, một mình nuôi con, chăm mẹ chồng.
- Phần (2) – tiếp đến khi Trương Sinh tỉnh ngộ: nỗi oan bởi lời con trẻ, cái chết trên bến Hoàng Giang.
- Phần (3) – còn lại: Vũ Nương sống ở thủy cung, gặp Phan Lang, hiện về trên bến Hoàng Giang rồi biến mất.
Câu hỏi bên lề khi đọc Chuyện người con gái Nam Xương (trang 5–10)
Bảy ô gợi ý đặt cạnh văn bản trong sách Cánh diều:
Câu 1 (trang 5): Nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh được giới thiệu như thế nào?
Trả lời:
- Vũ Thị Thiết: cô gái làng Nam Xương, tính tình hiền dịu, nết na, dung mạo đẹp; biết chồng ghen nên luôn giữ gìn để gia đình êm ấm.
- Trương Sinh: con nhà giàu nhưng ít học, tính đa nghi, phòng ngừa vợ quá mức. Ngay từ đầu, cách giới thiệu này đã ngầm báo trước mâu thuẫn và bi kịch sẽ xảy ra.
Câu 2 (trang 6): Người vợ muốn nhắn gửi điều gì với chồng qua lời tiễn đưa này?
Trả lời: Vũ Nương không mong chồng lập công danh, được phong quan tước, chỉ mong chàng trở về bình yên. Nàng cũng bày tỏ nỗi lo trước chiến trận hiểm nguy, nỗi nhớ thương sẽ kéo dài và mong chồng thấu hiểu tấm lòng người ở nhà. Lời tiễn cho thấy một người vợ giàu tình thương, coi trọng hạnh phúc gia đình hơn vinh hoa.
Câu 3 (trang 7): Tình huống bất ngờ nào xuất hiện?
Trả lời: Trương Sinh đi lính về, bế con ra thăm mộ mẹ; đứa trẻ không chịu nhận cha và nói rằng cha nó trước kia chỉ “nín thin thít”, đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi. Lời ngây thơ của bé Đản là tình huống bất ngờ làm bùng lên mối ghen của Trương Sinh và đẩy câu chuyện tới bi kịch.
Câu 4 (trang 7): Người vợ đã nói gì khi bị chồng nghi ngờ?
Trả lời: Vũ Nương nói ba lần:
- Lần 1: phân trần với chồng – mình xuất thân nghèo, ba năm xa cách vẫn một lòng giữ tiết, không hề son phấn hay lui tới chốn trăng hoa; xin chồng đừng nghi oan.
- Lần 2: khi bị đánh đuổi, nàng nói lời đau đớn rằng hạnh phúc gia đình đã tan vỡ, không thể làm người vợ chờ chồng như nàng Vọng Phu được nữa.
- Lần 3: ra bến Hoàng Giang, nàng ngửa mặt lên trời thề nguyền: nếu trong sạch thì xin làm ngọc Mỵ Nương, cỏ Ngu mĩ; nếu dối chồng thì xin làm mồi cho cá tôm, cơm cho diều quạ.
Ba lời nói đi từ mong được hiểu đến tuyệt vọng rồi quyết lấy cái chết để giữ danh tiết.
Câu 5 (trang 8): Chú ý các chi tiết kì ảo trong phần (3)
Trả lời: Phan Lang nằm mộng thấy cô gái áo xanh xin tha mạng, rồi thả con rùa mai xanh; khi chạy giặc bị đắm thuyền, Phan Lang dạt vào động rùa, được Linh Phi – vợ vua biển Nam Hải – cứu sống bằng thuốc thần; Phan gặp lại Vũ Nương đang sống dưới thủy cung; Linh Phi sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan về; Vũ Nương hiện lên giữa dòng sông trên kiệu hoa với cả đoàn xe cờ tán rực rỡ rồi biến mất.
Câu 6 (trang 9): Vũ Nương là ai? Chi tiết nào không có thật?
Trả lời: Người đàn bà Phan Lang gặp ở thủy cung chính là Vũ Thị Thiết, người làng Nam Xương đã gieo mình xuống sông. Chi tiết không có thật là việc nàng được tiên nữ dưới thủy cung rẽ nước cứu sống rồi sống ở cung nước – một chi tiết kì ảo.
Câu 7 (trang 10): Truyện kết thúc như thế nào?
Trả lời: Trương Sinh nhận chiếc hoa vàng Vũ Nương gửi, tin lời Phan Lang và lập đàn tràng giải oan ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện về giữa dòng, nói vọng vào cảm tạ chồng nhưng không thể trở lại nhân gian, rồi bóng nàng mờ dần và biến mất. Kết thúc vừa có hậu (nỗi oan được giải) vừa đầy xót xa (hạnh phúc không thể làm lại). Kể lại chuyện bằng lời bé Đản là một hướng làm truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc, đề Viết cùng Bài 6.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau Chuyện người con gái Nam Xương (trang 10)
Sáu câu hỏi Đọc hiểu cuối văn bản trong sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập hai:
Câu 1 (trang 10): Tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương
Trả lời: Ở làng Nam Xương có Vũ Nương, một cô gái xinh đẹp, nết na. Nàng lấy Trương Sinh – người giàu nhưng ít học và hay ghen. Lấy nhau chưa lâu, Trương phải đi lính. Ở nhà, nàng sinh con, một mình nuôi con và hết lòng chăm sóc, lo ma chay cho mẹ chồng. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình trên vách bảo là cha Đản. Trương Sinh trở về, nghe con nói về “người cha” đêm nào cũng đến, liền nghi vợ thất tiết, mắng nhiếc và đánh đuổi nàng đi. Không thể minh oan, Vũ Nương tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang thề nguyền rồi gieo mình xuống sông. Một đêm, bé Đản chỉ bóng Trương trên vách và gọi là cha, chàng mới hiểu nỗi oan của vợ thì đã muộn. Vũ Nương được các tiên nữ cứu, sống trong động của Linh Phi. Phan Lang, người cùng làng, vì cứu Linh Phi trước kia nên được cứu khi chết đuối và gặp Vũ Nương ở đó. Nàng gửi chiếc hoa vàng nhờ nhắn Trương lập đàn giải oan. Trương làm theo; Vũ Nương hiện về giữa dòng, nói lời tạ từ rồi biến mất.
Câu 2 (trang 10): Chi tiết khắc họa nhân vật Vũ Nương; nhận xét về số phận, phẩm chất
Tìm và phân tích các chi tiết mà tác giả đã sáng tạo để khắc hoạ nhân vật Vũ Nương, qua đó, nêu nhận xét, đánh giá của em về số phận, phẩm chất của nhân vật này.
Trả lời:
| Phương diện | Chi tiết tiêu biểu | Phẩm chất bộc lộ |
| Với chồng | Giữ khuôn phép để vợ chồng không bất hòa; lời tiễn chỉ mong chồng về bình yên; ba năm xa cách vẫn chung thủy. | Hiền thục, thấu đáo, thủy chung. |
| Với mẹ chồng | Thuốc thang, lễ bái, khuyên lơn khi mẹ ốm; lo tang lễ như với cha mẹ đẻ; được mẹ chồng chúc phúc trước lúc mất. | Hiếu thảo, tận tình. |
| Với con | Một mình nuôi con; chỉ bóng mình trên vách bảo là cha Đản để con đỡ thiếu vắng cha. | Thương con, mong giữ hình bóng người chồng trong lòng con. |
| Khi bị nghi oan | Ba lần phân trần, rồi thề nguyền và gieo mình xuống sông. | Coi trọng danh dự, tiết hạnh hơn mạng sống. |
| Ở thủy cung | Nghe nhắc quê nhà thì ứa nước mắt, quyết sẽ trở về; hiện lên tạ từ chồng nhưng không trở lại. | Luôn hướng về gia đình, nặng tình mà vẫn giữ lòng tự trọng. |
Nhận xét, đánh giá: Ở Vũ Nương có đủ những đức tính truyền thống đáng quý: nết na, hiếu thảo, thủy chung, giàu đức hi sinh. Thế nhưng số phận nàng thật oan nghiệt: hạnh phúc ngắn ngủi, chịu nỗi oan chỉ vì lời trẻ thơ và sự ghen tuông hồ đồ của chồng, phải tìm đến cái chết, và dù được giải oan cũng không thể trở về. Qua nhân vật, tác giả vừa ngợi ca người phụ nữ vừa bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận của họ trong xã hội phong kiến.
Câu 3 (trang 10): Biểu hiện và tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản
Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản Chuyện người con gái Nam Xương.
Trả lời:
- Biểu hiện: phần lớn nằm trong phần (3) của văn bản: giấc mộng báo trước của Phan Lang, con rùa xanh là Linh Phi hóa thân, động rùa và cung nước lộng lẫy, thuốc thần cứu người chết đuối, Vũ Nương được tiên nữ rẽ nước cứu sống, sứ giả Xích Hỗn đưa người về trần, chiếc hoa vàng làm tin, cảnh Vũ Nương hiện lên giữa dòng với kiệu hoa, cờ tán rồi biến mất.
- Tác dụng:
- Làm cho câu chuyện kì lạ, hấp dẫn, tạo nên đặc trưng của truyện truyền kì.
- Hoàn chỉnh vẻ đẹp nhân vật: dù ở cõi khác, Vũ Nương vẫn nặng lòng với chồng con, quê hương và khao khát được minh oan.
- Thể hiện ước mơ của nhân dân về lẽ công bằng: người tốt dù chịu oan khuất cuối cùng cũng được giải oan.
- Tăng tính bi kịch: chi tiết nàng chỉ hiện về trong chốc lát rồi biến mất cho thấy hạnh phúc đã mất thì không thể tìm lại, như một lời cảnh tỉnh về sự hồ đồ, ghen tuông.

Câu 4 (trang 10): Kết hợp chi tiết kì ảo và chi tiết đời thường ở một đoạn văn
Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa các chi tiết kì ảo và chi tiết đời thường ở một đoạn văn cụ thể trong văn bản.
Trả lời: Có thể chọn đoạn Phan Lang gặp Vũ Nương ở cung nước (cuối phần 3, trang 8–9).
- Chi tiết đời thường: hai người cùng làng nhận ra nhau, hỏi han chuyện cũ; Phan Lang nhắc nhà cửa của nàng đã thành rừng, mồ mả tổ tiên cỏ gai rậm rạp; Vũ Nương nghe vậy thì khóc, nhớ quê.
- Chi tiết kì ảo: cuộc gặp diễn ra ở động rùa của Linh Phi; Vũ Nương đã chết mà vẫn sống dưới cung nước; nàng gửi chiếc hoa vàng và lời hẹn trở về nếu được lập đàn giải oan.
- Tác dụng: những chi tiết đời thường làm cho cõi tiên trở nên gần gũi, đáng tin; nhờ đó tâm trạng nhân vật – nỗi nhớ nhà, khát khao được minh oan – hiện lên chân thật. Ngược lại, khung cảnh kì ảo giúp tác giả nói được điều mà hiện thực không làm được: cho người chết oan một cơ hội cất lời. Sự kết hợp ấy vừa tăng sức hấp dẫn vừa làm sâu thêm tính nhân đạo của truyện.
Câu 5 (trang 10): Chủ đề của văn bản là gì?
Trả lời: Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc với số phận oan nghiệt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp phẩm hạnh của họ (hiền thục, hiếu thảo, chung thủy). Qua đó, tác giả phê phán thói ghen tuông, gia trưởng của người đàn ông và chiến tranh phi nghĩa đã làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
Câu 6 (trang 10): Suy nghĩ về một vấn đề nhân sinh truyện đặt ra, liên hệ cuộc sống ngày nay
Trả lời: Em có thể chọn vấn đề niềm tin trong gia đình.
- Bi kịch của Vũ Nương bắt đầu từ chỗ Trương Sinh không tin vợ: chỉ nghe một câu nói của đứa trẻ mới học nói, chàng đã kết tội, không cho vợ giải thích, cũng không hỏi lại cho rõ ràng.
- Ngày nay, sự thiếu tin tưởng, nghi ngờ vô căn cứ vẫn làm rạn nứt nhiều gia đình, tình bạn; tin đồn trên mạng xã hội có thể khiến một người bị kết tội oan trong chốc lát.
- Mỗi người cần biết lắng nghe, bình tĩnh tìm hiểu sự thật trước khi phán xét; cần tôn trọng và tin vào người thân. Một quyết định nóng vội có thể để lại hậu quả không bao giờ sửa được, như Trương Sinh tỉnh ngộ khi mọi việc đã muộn.
Kết luận
Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương theo sách Ngữ văn 9 Cánh diều, em cần nắm vẻ đẹp và số phận của Vũ Nương, tình huống bất ngờ từ lời con trẻ, vai trò của các yếu tố kì ảo ở phần (3) và bài học nhân sinh từ câu chuyện – những điểm cốt lõi của truyện truyền kì trong Bài 6.
Đến tuần ôn tập, em có thể mở đề cương ôn tập học kì II văn 9 Cánh diều để làm lại các câu hỏi cuối kì trong sách.
Muốn tập kể lại câu chuyện bằng lời một nhân vật, em có thể đọc bài hóa thân Phan Lang kể lại Chuyện người con gái Nam Xương.
Xem thêm: