Nhiều người thuộc câu “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên” mà không biết rằng đó là lời dịch, và người viết nguyên tác bằng chữ Hán lại là một ông quan nhỏ ít ai nhớ tên. Đặng Trần Côn (khoảng đầu thế kỷ XVIII – khoảng 1745) là nho sĩ thời Lê trung hưng, tác giả Chinh phụ ngâm, khúc ngâm chữ Hán về nỗi lòng người vợ có chồng ra trận. Cuộc đời ông còn lại rất ít dấu vết, còn tác phẩm của ông thì gắn với một câu hỏi văn học sử chưa có lời đáp dứt khoát: ai là người dịch bản Nôm mà ta vẫn đọc?
Người làng Mọc sống cùng thời Đoàn Thị Điểm

| Tên | Đặng Trần Côn (鄧陳琨), vốn họ Trần |
| Năm sinh – năm mất | Chưa rõ; thường ước đoán sinh khoảng 1705–1720, mất khoảng 1745 |
| Quê quán | Làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc Thanh Xuân, Hà Nội |
| Học vị, chức vụ | Đỗ Hương cống; làm Huấn đạo, Tri huyện Thanh Oai, cuối cùng là Ngự sử đài Chiếu khám |
| Thể loại | Ngâm khúc chữ Hán (thể trường đoản cú), thơ, phú chữ Hán |
| Tác phẩm tiêu biểu | Chinh phụ ngâm (khúc); Tiêu Tương bát cảnh; một số bài phú |
| Trong SGK hiện hành | Các đoạn trích Chinh phụ ngâm (bản diễn Nôm) trong Ngữ văn 9 của cả ba bộ sách |
Ngay năm sinh, năm mất của ông cũng chỉ là ước đoán. Wikipedia tiếng Việt ghi các nhà nghiên cứu cho rằng ông sinh khoảng 1710 – 1720; Wikipedia tiếng Anh nghiêng về khoảng 1705 – 1710; trang thông tin của phường Hạ Đình (Hà Nội) ghi khoảng 1705 – 1720, mất lúc chưa đến bốn mươi tuổi. Như vậy ông là người cùng thời với nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748).
Cái họ kép “Đặng Trần” có hai cách giải thích. Theo gia phả được trang phường Hạ Đình dẫn, ông vốn thuộc dòng họ Trần, tổ tiên đổi sang họ Đặng sau biến cố năm 1511. Wikipedia tiếng Anh, dẫn một sách ngữ pháp tiếng Việt của Laurence Thompson, thì cho rằng ông tên gốc là Trần Côn, làm con nuôi họ Đặng nên ghép thêm họ mới vào trước.
Đường quan của ông không mấy hanh thông. Ông đỗ Hương cống (trang phường Hạ Đình ghi đỗ Giải nguyên) nhưng thi Hội không đỗ, làm Huấn đạo, rồi đầu niên hiệu Cảnh Hưng (từ 1740) làm Tri huyện Thanh Oai, cuối cùng giữ chức Ngự sử đài Chiếu khám, một chức quan nhỏ. Về già ông nghỉ việc, dạy học ở làng Hạ Đình.
Ngọn đèn dưới hầm và lời chê của Hồng Hà nữ sĩ
Hai giai thoại về Đặng Trần Côn được kể lại nhiều nhất đều thuộc loại “tương truyền”, nên đọc như truyện kể chứ không phải sử liệu.
Chuyện thứ nhất: thời chúa Trịnh Giang cấm dân kinh thành đốt lửa, thắp đèn ban đêm, chàng học trò ham sách đã đào hầm dưới đất để thắp đèn mà học. Chuyện này có trong Wikipedia tiếng Việt, và Wikipedia tiếng Anh dẫn nó từ một tạp chí nghiên cứu châu Á xuất bản ở Thụy Sĩ năm 1956.
Chuyện thứ hai: khi mới làm thơ, ông đem thơ đến nhờ bà Đoàn Thị Điểm xem, bà cười bảo nên học thêm rồi hãy làm thơ. Ông về nhà càng gắng học. Có dị bản kể về sau chính bà phục tài và dịch tác phẩm của ông. Năm 2023, khi bộ phim Hồng Hà nữ sĩ dựng chuyện Đặng Trần Côn yêu đơn phương Đoàn Thị Điểm, báo Tuổi Trẻ nhắc rằng sử sách chưa có tài liệu nào cho thấy giữa hai người có tình cảm trai gái; đó là phần hư cấu của phim.
Chinh phụ ngâm: 476 câu chữ Hán theo lối trường đoản cú
Chinh phụ ngâm (征婦吟, còn gọi Chinh phụ ngâm khúc) thường được xác định ra đời khoảng năm 1741, những năm đầu niên hiệu Cảnh Hưng. Đó là lúc Đàng Ngoài liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân và triều đình Lê – Trịnh liên tục cất quân đi dẹp. Người trai bị gọi đi lính, người vợ ở nhà chờ đợi: tác phẩm nói về chiến tranh từ phía người ở lại.
Nguyên tác dài 476 câu theo bản trên Wikisource và Wikipedia (có tài liệu ghi 483 câu), viết theo thể trường đoản cú: câu dài câu ngắn xen nhau, có câu ba bốn chữ, có câu mười hai mười ba chữ. Đặng Trần Côn dùng nhiều lối “tập cổ”, tức chọn lọc những câu, những hình ảnh có sẵn trong thơ văn cổ Trung Hoa rồi sắp đặt lại theo ý mình. Theo Từ điển văn học (bộ mới), mục do GS Nguyễn Lộc viết, chính tài lựa chọn và sắp xếp ấy đã biến những chất liệu cũ thành một kết cấu mới, giàu nhạc tính.
Tác phẩm ra đời đã được giới nho sĩ đương thời truyền tay. Vì viết bằng chữ Hán, nó nhanh chóng được nhiều người dịch ra chữ Nôm để người không đọc chữ Hán cũng thưởng thức được.
Từ nguyên tác đến bản diễn Nôm song thất lục bát
Theo Wikipedia và báo Tuổi Trẻ, có tới bảy bản dịch, phỏng dịch Chinh phụ ngâm ra chữ Nôm, bốn bản theo thể song thất lục bát và ba bản lục bát, gắn với các tên Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn và hai bản khuyết danh. Bản phổ biến nhất là một bản song thất lục bát dài 408 hoặc 412 câu tùy bản in. Đặt nguyên tác và bản dịch cạnh nhau sẽ thấy người dịch vừa sát ý vừa làm câu thơ mềm hơn:
Lang khứ trình hề mông vũ ngoại,
Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Hai câu trên là phiên âm Hán Việt của nguyên tác, hai câu dưới là bản Nôm. Nhịp song thất lục bát (hai câu bảy chữ, một câu sáu, một câu tám) rất hợp để diễn tả nỗi buồn triền miên, nên bản dịch đã trở thành một mẫu mực của thể thơ này. Muốn tìm hiểu thêm về thể thơ, xem bài thơ song thất lục bát là gì.
Một đoạn nổi tiếng khác là cảnh người chinh phụ một mình với ngọn đèn: nguyên tác Đăng tri nhược vô tri / Thiếp bi chỉ tự bi, bản Nôm dịch thành “Đèn có biết dường bằng chẳng biết / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”.

Ai dịch Chinh phụ ngâm? Một câu hỏi gần trăm năm
Suốt thế kỷ XIX, bản diễn Nôm phổ biến được mặc nhiên coi là của Đoàn Thị Điểm. Theo nhà nghiên cứu Olga Dror (được Wikipedia dẫn), sự nhất trí ấy kéo dài đến năm 1926, khi con cháu Phan Huy Ích (1750 – 1822) lên tiếng cho rằng chính ông mới là người dịch. Phan Huy Ích có một bản dịch mang tên Chinh phụ ngâm diễn ca tân khúc, hoàn chỉnh vào những năm cuối đời, sau bản gắn với tên Đoàn Thị Điểm khoảng bảy mươi năm.
Đến nay có ba khả năng thường được nêu, như báo Tuổi Trẻ tóm lại: bản dịch là của Đoàn Thị Điểm; là của Phan Huy Ích; hoặc Phan Huy Ích đã nhuận sắc lại bản của Đoàn Thị Điểm. GS Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học ghi rằng các phát hiện gần đây có xu hướng nghiêng về Phan Huy Ích, nhưng cũng khẳng định bản của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm. Năm 1953, học giả Hoàng Xuân Hãn đã dành cả một cuốn sách, Chinh phụ ngâm bị khảo, để khảo cứu tác phẩm và các bản dịch.
Vì thế, cách ghi thận trọng nhất là: nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm phổ biến tương truyền của Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là của Phan Huy Ích. Đoàn Thị Điểm còn là tác giả Truyền kỳ tân phả; học sinh lớp 12 gặp bà qua truyện Hải khẩu linh từ.
Mỗi bộ sách giáo khoa ghi một kiểu
Điều thú vị là chính cuộc tranh luận ấy hiện ra ngay trong sách Ngữ văn 9 hiện hành:
| Đoạn trích | Sách – bài học | Ghi về người dịch | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Nỗi niềm chinh phụ | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 (Những cung bậc tâm trạng) | Bản dịch của Đoàn Thị Điểm, kèm dấu “(?)” tồn nghi | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Nỗi nhớ thương của người chinh phụ | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 (Những cung bậc tình cảm) | Giới thiệu Phan Huy Ích là người dịch; văn bản theo Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 13 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (thực hành đọc hiểu) | Tài liệu hướng dẫn giới thiệu cả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích | — |
Học sinh vì thế nên ghi đúng theo sách mình học, và khi viết bài nghị luận có thể nói rõ đây là vấn đề còn tranh luận. Trước đây, đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng từng có trong Ngữ văn 10 chương trình cũ.
Những trang khác của Đặng Trần Côn và dấu tích ở Hà Nội
Ngoài Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn còn làm thơ và phú chữ Hán. Wikipedia tiếng Việt và trang phường Hạ Đình cùng nhắc tới chùm thơ Tiêu Tương bát cảnh (đề tám cảnh sông Tiêu Tương); Wikipedia kể thêm ba bài phú, còn trang phường Hạ Đình liệt kê một số tập khác như Lãn Trai di thảo. Phần lớn những trang này ít được biết, và danh tiếng của ông gần như dựa trọn vào một khúc ngâm.
Theo trang thông tin phường Hạ Đình, mộ ông ở làng Nhân Mục cũ đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1989. Hà Nội có phố Đặng Trần Côn mang tên ông. Còn trong văn học, Chinh phụ ngâm ra đời trước Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều mấy chục năm, và câu hỏi về bản dịch của nó nhắc người đọc rằng một tác phẩm lớn đôi khi là công sức của hơn một người.
Ai cần thông tin nền về tác phẩm để viết mở bài có thể tham khảo bài tìm hiểu Sau phút chia li.
Xem thêm: