Ấu trĩ là non nớt, nghĩ sự việc quá giản đơn vì thiếu hiểu biết và kinh nghiệm. Từ này thường dùng để chê một suy nghĩ, một quan điểm hay cách hành xử của người đã lớn mà vẫn như trẻ con: “suy nghĩ ấu trĩ”, “quan niệm ấu trĩ”. Người ấu trĩ chưa hẳn là người xấu; họ chỉ nhìn đời còn một chiều, chưa thấy hết các mặt của vấn đề.
| Nghĩa ngắn | Non nớt, suy nghĩ giản đơn, thiếu kinh nghiệm |
| Gốc từ | Hán Việt 幼稚: ấu (nhỏ, non) + trĩ (trẻ thơ, non nớt) |
| Loại từ | Tính từ |
| Sắc thái | Chê, thường dùng cho người lớn hoặc cho quan điểm, cách làm |

Ấu trĩ được giảng ra sao?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) xếp ấu trĩ là tính từ, giảng là non nớt, có những suy nghĩ giản đơn, thiếu kinh nghiệm. Ví dụ đi kèm rất ngắn: suy nghĩ hết sức ấu trĩ. Người ta cũng hay nói ấu trĩ “về” một lĩnh vực nào đó cần hiểu biết, như ấu trĩ về kinh tế, về khoa học.
Có hai điều nên để ý. Một là ấu trĩ hiếm khi dùng để tả trẻ con thật: không ai chê đứa bé ba tuổi là ấu trĩ, vì non nớt ở tuổi ấy là chuyện đương nhiên. Từ này chỉ có sức nặng khi đặt vào người đáng lẽ đã phải chín chắn. Hai là nó thường đi với những thứ trừu tượng: suy nghĩ, quan niệm, lập luận, cách nhìn, cách làm.
- Nghĩ rằng cứ học giỏi là tự khắc có việc tốt thì hơi ấu trĩ.
- Ông thừa nhận hồi trẻ mình có cái nhìn khá ấu trĩ về chuyện làm ăn.
- Cãi nhau chỉ để giành phần thắng trong nhóm chat là một kiểu hành xử ấu trĩ.
幼稚: hai chữ cùng chỉ cái non
Chữ ấu (幼) là nhỏ bé, non nớt; ta có ấu thơ, thơ ấu, ấu trùng, lão ấu (già và trẻ). Chữ trĩ (稚) theo Thiều Chửu là thơ bé, trẻ bé; cái gì còn non nớt, bé nhỏ đều gọi là trĩ.
Hai chữ gần nghĩa ghép lại để nhấn mạnh, nên ấu trĩ là kiểu từ ghép đẳng lập. Thiều Chửu còn ghi một chi tiết đáng nhớ: trẻ bé gọi là ấu trĩ, mà học thức còn ít cũng gọi là ấu trĩ, nghĩa là trình độ còn non như trẻ con. Từ nghĩa “trẻ bé” chuyển sang nghĩa “hiểu biết non như trẻ bé” chính là con đường đi của từ này trong tiếng Việt. Chữ Hán xưa còn có ấu trĩ viên (幼稚園) để chỉ vườn trẻ.
Chữ trĩ này không liên quan gì đến chữ “trĩ” trong tên bệnh hay tên loài chim trĩ. Chỉ là đồng âm.
Ấu trĩ, ngây thơ hay non nớt?
| Từ | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ngây thơ | Trong sáng, chưa biết gian dối; có thể là lời khen | Nụ cười ngây thơ của em bé |
| Non nớt | Chưa đủ độ chín, trung tính hơn | Tay nghề còn non nớt |
| Ấu trĩ | Chê suy nghĩ giản đơn, thiếu hiểu biết | Quan niệm ấu trĩ về tiền bạc |
| Trẻ con (tính từ) | Chê thái độ, cách cư xử như trẻ nhỏ; khẩu ngữ | Giận dỗi trẻ con |
| Chín chắn, trưởng thành | Trái nghĩa: nghĩ kĩ, nhìn nhiều mặt | Một quyết định chín chắn |
Ngây thơ và ấu trĩ dễ lẫn nhất. Ngây thơ nói về sự trong trẻo của tâm hồn; ấu trĩ nói về sự thiếu hụt của hiểu biết. Một người có thể ngây thơ đáng yêu, nhưng khi bị gọi là ấu trĩ thì gần như luôn là bị chê. Chiều ngược lại của nó được giải thích kĩ trong bài thế nào là một người chín chắn.
Cũng đừng lẫn ấu trĩ với chữ vô tri theo nghĩa lóng của Gen Z. Vô tri là không biết gì, ngớ ngẩn đến buồn cười; ấu trĩ là có biết, nhưng biết nông và nghĩ một chiều.
Những nhân vật từng ấu trĩ trong sách Ngữ văn
Dế Mèn trong Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài) là ví dụ quen thuộc nhất với học sinh lớp 6. Mèn tự hào về sức vóc, coi thường người yếu, rồi bày trò trêu chị Cốc chỉ để ra oai. Cái giá phải trả là cái chết của Dế Choắt. Đó là sự ấu trĩ của tuổi trẻ: thấy mình mạnh mà không thấy hậu quả. Bài phân tích nhân vật Dế Mèn đi sâu vào quá trình nhân vật nhận ra lỗi của mình.
Ở bậc lớp 11, người kể chuyện xưng “tôi” trong Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) lại cho thấy một kiểu ấu trĩ khác. Ông tự nhận những quan niệm cực đoan của chính mình một thời, như coi nhẹ lễ nghi trong ăn uống. Sự thẳng thắn ấy được nhiều bài phân tích truyện Một người Hà Nội coi là một điểm sáng của tác phẩm.
Hai nhân vật giống nhau ở một chỗ: ai cũng có lúc ấu trĩ, điều quan trọng là có nhận ra và vượt qua được hay không.
Ấu trĩ: hỏi gì, đáp nấy
Suy nghĩ ấu trĩ là gì?
Là cách nghĩ giản đơn, một chiều, chưa tính đến các mặt khác hay hệ quả lâu dài của vấn đề. Ví dụ, tin rằng chỉ cần nổi tiếng trên mạng là sẽ giàu, hay cho rằng ai khác ý mình đều là người xấu.
Ấu trĩ có phải là bệnh trĩ không?
Không. Ấu trĩ là tính từ chỉ sự non nớt trong suy nghĩ, hoàn toàn không phải tên bệnh. Hai chữ chỉ trùng âm “trĩ” nên nhiều người tìm kiếm bị lẫn.
Ấu trĩ tiếng Anh là gì?
Tùy câu mà dịch là naive (ngây ngô, cả tin), immature (chưa trưởng thành) hoặc simplistic (giản đơn quá mức, dùng cho lập luận, quan điểm).
Người ấu trĩ thường có biểu hiện gì?
Họ hay vội kết luận, khó chấp nhận ý kiến trái chiều, dễ bị kích động bởi chuyện nhỏ và ít khi nghĩ đến chuyện về sau. Những biểu hiện này có thể thay đổi khi người ta chịu đọc, chịu nghe và tự nhìn lại mình.