Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – đoạn trích khúc ngâm của Đặng Trần Côn ( bản diễn Nôm thường được ghi là của Đoàn Thị Điểm) – gồm hai phần: hướng dẫn trả lời câu hỏi đọc hiểu trong sách Ngữ văn 9 Cánh diều (Bài 1, tập một, trang 22 – 23) và lời giải 5 câu hỏi cùng phần Luyện tập trong SGK Ngữ văn 10 tập hai chương trình cũ (trang 88). Lưu ý: hai bộ sách trích hai đoạn không hoàn toàn trùng nhau.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Nắm chắc tác giả, tác phẩm và phạm vi đoạn trích ở từng bộ sách trước khi trả lời câu hỏi.

Tác giả và dịch giả
- Đặng Trần Côn sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII; năm sinh, năm mất của ông đến nay vẫn chưa xác định. Ông là người làng Nhân Mục (người địa phương quen gọi là làng Mọc), thuộc Thanh Trì xưa, nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú (câu dài ngắn xen nhau). Xem thêm bài nhà thơ Đặng Trần Côn.
- Bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát được lưu hành rộng rãi nhất thường được ghi là của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1746 hoặc 1748); một số nhà nghiên cứu lại nghiêng về Phan Huy Ích. Sách giáo khoa dùng bản này.
Hoàn cảnh ra đời Chinh phụ ngâm
Dưới thời vua Lê Hiển Tông, nông dân nổi dậy ở nhiều nơi, triều đình liên tục cất quân đánh dẹp, trai tráng phải ra trận. Xúc động trước cảnh chia lìa, nhất là nỗi khổ của người vợ có chồng đi lính, Đặng Trần Côn đã viết khúc ngâm này. Tác phẩm là lời độc thoại của người chinh phụ, vừa oán ghét chiến tranh phi nghĩa vừa khát khao hạnh phúc lứa đôi.
Phạm vi đoạn trích ở hai bộ sách
- SGK Ngữ văn 10 cũ: 24 câu (từ câu 193 đến câu 216 của bản diễn Nôm), bắt đầu bằng cảnh người chinh phụ dạo hiên vắng và dừng lại ở hình ảnh cành cây đẫm sương, côn trùng rả rích. Bố cục 2 phần: 16 câu đầu (lẻ bóng, cô đơn) và 8 câu cuối (nhớ thương chồng).
- Sách Cánh diều 9: 20 câu, bắt đầu từ câu “Lòng này gửi gió đông có tiện?” và kết thúc bằng câu “Trước hoa dưới nguyệt, trong lòng xiết đâu!”. Tám câu đầu của đoạn này chính là tám câu cuối của đoạn trích trong sách cũ.
Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Ngữ văn 9 Cánh diều
Sách Cánh diều có 3 câu hỏi trong khi đọc (trang 22 – 23) và 6 câu hỏi sau khi đọc (trang 23).
Câu 1 (trong khi đọc): Cách diễn tả nỗi nhớ của người chinh phụ (trang 22)
Chú ý cách diễn tả nỗi nhớ của người chinh phụ.
Trả lời: Nỗi nhớ được đo bằng khoảng cách không gian: người chinh phụ muốn gửi lòng mình theo gió đông đến “non Yên” – nơi chồng đóng quân. Điệp ngữ vòng (“non Yên – Non Yên”, “bằng trời – Trời”) nối các câu thơ như những đợt sóng nối nhau, còn những từ láy như “thăm thẳm”, “đau đáu” vừa gợi đường xa vô tận vừa gợi nỗi nhớ khắc khoải, không bao giờ nguôi.
Câu 2 (trong khi đọc): Nỗi lòng biểu hiện qua việc tả cảnh (trang 22)
Nỗi lòng người chinh phụ đã được biểu hiện thế nào qua việc tả cảnh?
Trả lời: Cảnh vật được nhìn bằng con mắt buồn: sương “như búa”, tuyết “dường cưa” bổ mòn gốc liễu, xẻ héo cành ngô; tiếng côn trùng, tiếng chuông chùa vọng xa, gió thốc ngoài hiên. Thiên nhiên lạnh lẽo, tàn tạ và đầy âm thanh rời rạc chính là hình ảnh của tâm hồn đang bị nỗi cô đơn bào mòn. Đây là bút pháp tả cảnh ngụ tình: “Cảnh buồn người thiết tha lòng”.
Câu 3 (trong khi đọc): Ý nghĩa hình ảnh “hoa” và “nguyệt” (trang 23)
Hình ảnh gắn bó giữa “hoa” và “nguyệt” thể hiện điều gì?
Trả lời: Hoa và nguyệt quấn quýt, lồng vào nhau (“Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông”) là biểu tượng của lứa đôi sum vầy. Cảnh càng hòa hợp, người chinh phụ càng thấy mình lẻ bóng; sự gắn bó của thiên nhiên làm nổi bật nỗi khát khao được đoàn tụ, được yêu thương của nàng.
Câu 1: Bố cục đoạn trích (trang 23)
Xác định bố cục của đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, cho biết nội dung chính của từng phần.
Trả lời:
- Phần 1 (8 câu đầu, đến “tiếng trùng mưa phun”): nỗi nhớ thương người chồng nơi xa.
- Phần 2 (6 câu tiếp theo, đến “gió thốc ngoài hiên”): cảnh vật thê lương phản chiếu nỗi cô đơn, lẻ loi.
- Phần 3 (6 câu còn lại): hình ảnh hoa – nguyệt và niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi.
Câu 2: Sự phù hợp của thể thơ với đề tài (trang 23)
Chỉ ra sự phù hợp của thể thơ với việc thể hiện đề tài ở văn bản này.
Trả lời: Đoạn trích viết theo thể song thất lục bát: mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ và một cặp lục bát, vần lưng xen vần chân, nhịp 3/4 ở câu bảy chữ tạo âm điệu trầm, thiết tha. Kiểu nhịp lên xuống, lặp lại ấy rất hợp để diễn tả dòng tâm trạng triền miên, day dứt của người vợ chờ chồng; thể thơ như một khúc ngâm than, dễ ngân nga, thấm vào lòng người.
Câu 3: Nỗi lòng người chinh phụ và nguyên nhân (trang 23)
Nỗi lòng người chinh phụ được thể hiện như thế nào? Đâu là nguyên nhân dẫn đến tâm trạng ấy?
Trả lời:
- Biểu hiện: nỗi nhớ chồng da diết, không gian ngăn cách mịt mù; nỗi cô đơn giữa đêm khuya lạnh lẽo; khao khát sum họp khi nhìn hoa và trăng quấn quýt; cuối cùng là tiếng than “trong lòng xiết đâu” – nỗi buồn không kể xiết.
- Nguyên nhân: người chồng phải đi chinh chiến nơi xa, biền biệt không tin tức; sâu xa hơn là cuộc chiến tranh phong kiến đã chia lìa bao gia đình, cướp đi hạnh phúc của những người vợ trẻ.
Câu 4: Quan hệ giữa cảnh vật và tâm trạng (dòng 9 – 20) (trang 23)
Hãy phân tích mối quan hệ giữa cảnh vật và tâm trạng của người chinh phụ từ dòng 9 đến dòng 20.
Trả lời: Cảnh và tình có quan hệ hai chiều. Tâm trạng buồn khiến cảnh nhuốm màu buồn: sương tuyết hóa thành búa, cưa hủy hoại cây cối; tiếng dế, tiếng chuông, tiếng gió đều lạnh và xa. Ngược lại, cảnh thê lương lại khoét sâu thêm sự trống trải trong lòng nàng. Đến sáu câu cuối, cảnh hoa – nguyệt đẹp và hòa quyện nhưng càng đẹp lại càng đối lập với thân phận lẻ loi của nàng, khiến nỗi buồn dâng lên thành lời than “trong lòng xiết đâu!”. Cảnh không còn là cảnh khách quan mà là tấm gương soi tâm trạng.
Câu 5: Tác dụng của biện pháp tu từ và nhịp điệu (trang 23)
Phân tích tác dụng các biện pháp tu từ, nhịp điệu của thể song thất lục bát trong văn bản.
Trả lời:
- Điệp ngữ vòng (các cặp non Yên, trời, hoa, nguyệt): tạo cảm giác nỗi nhớ nối dài không dứt.
- So sánh (“Sương như búa”, “Tuyết dường cưa”): biến cái mềm mại thành sắc nhọn, gợi sự tàn phá của thời gian và nỗi buồn lên con người.
- Từ láy (như thăm thẳm, đau đáu, trùng trùng): tăng sức gợi về không gian và chiều sâu cảm xúc.
- Câu hỏi tu từ (“Lòng này gửi gió đông có tiện?”): thể hiện ước muốn tha thiết mà vô vọng.
- Nhịp điệu song thất lục bát trầm bổng, nhịp 3/4 và 2/2/2 xen nhau, tạo giọng ngâm buồn thương, phù hợp với lời tâm sự.
Câu 6: Suy nghĩ về số phận phụ nữ trong chiến tranh phi nghĩa (trang 23)
Từ những hiểu biết về tác phẩm Chinh phụ ngâm và đoạn trích, em suy nghĩ như thế nào về số phận những người phụ nữ trong cuộc chiến tranh phi nghĩa?
Trả lời: (đoạn văn tham khảo)
Đọc Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, em hiểu rằng chiến tranh không chỉ diễn ra ở chiến trường. Nơi hậu phương, những người vợ trẻ cũng đang chịu một cuộc “chiến tranh” khác: cuộc chiến với cô đơn, chờ đợi và nỗi lo người thân không trở về. Tuổi xuân của họ trôi đi trong những đêm thức trắng, nhan sắc phai tàn mà hạnh phúc vẫn xa vời. Với một cuộc chiến phi nghĩa, sự hi sinh ấy càng vô lí, bởi họ không biết mình chịu khổ vì điều gì. Vì vậy, khúc ngâm của Đặng Trần Côn không chỉ là lời than của một người, mà là tiếng nói cảm thông với muôn vàn người phụ nữ, đồng thời là lời tố cáo những cuộc chiến tranh đã chia lìa bao mái ấm. Hôm nay sống trong hòa bình, em càng thấm thía giá trị của hạnh phúc gia đình.
Soạn bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ theo SGK Ngữ văn 10 cũ
Sách Ngữ văn 10 tập hai chương trình cũ có văn bản từ trang 86, phần Đọc – hiểu gồm 5 câu và một bài Luyện tập ở trang 88.
Câu 1: Yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng (trang 88)
Hãy chỉ ra các yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của những yếu tố ấy.
Trả lời:
| Yếu tố ngoại cảnh | Ý nghĩa diễn tả nội tâm |
|---|---|
| Hiên vắng, rèm thưa | Không gian quạnh quẽ; người chinh phụ đi đi lại lại, rèm hết buông lại cuốn vì ngóng đợi |
| Chim thước “chẳng mách tin” | Mong tin vui mà không có, niềm hi vọng hụt hẫng |
| Ngọn đèn, hoa đèn | Bạn duy nhất trong đêm nhưng vô tri, không thể chia sẻ; hoa đèn tàn dần báo đêm đã khuya |
| Tiếng gà “eo óc gáy sương năm trống” | Âm thanh lúc canh năm cho thấy nàng thức trắng đêm |
| Cây hòe “phất phơ rủ bóng bốn bên” | Bóng cây đổ dài ngắn theo giờ, gợi thời gian trôi chậm chạp và sự hoang vắng |
⇒ Mọi yếu tố ngoại cảnh đều nhuốm màu cô đơn, làm nổi bật tâm trạng lẻ loi, mong ngóng của người chinh phụ.
Câu 2: Những dấu hiệu của nỗi cô đơn (trang 88)
Theo anh (chị), những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ?
Trả lời:
- Những cử chỉ quẩn quanh, vô định: dạo hiên “thầm gieo từng bước”, ngồi rèm “rủ thác đòi phen”.
- Đối thoại với ngọn đèn: hỏi đèn có biết lòng mình không rồi tự trả lời rằng đèn biết cũng như không, chỉ một mình nàng mang nỗi bi thiết.
- Thời gian như kéo dài vô tận: mỗi khắc, mỗi giờ dài “đằng đẵng” như cả năm, mối sầu “dằng dặc” như biển rộng.
- Những việc làm gượng ép: đốt hương thì “hồn đà mê mải”, soi gương thì “lệ lại châu chan”, gảy đàn thì sợ “dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”. Chữ “gượng” lặp ba lần cho thấy nàng chẳng còn thiết gì, mọi niềm vui đều vô nghĩa khi vắng chồng.
Câu 3: Vì sao người chinh phụ đau khổ? (trang 88)
Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ.
Trả lời: Nàng khổ trước hết vì chồng đi chinh chiến xa, không tin tức, không biết sống chết ra sao; vì phải sống cô đơn, tuổi xuân trôi qua vô ích; vì khao khát hạnh phúc lứa đôi mà không được đáp ứng. Gốc rễ của nỗi khổ là cuộc chiến tranh phong kiến đã chia cắt vợ chồng.
Câu 4: Lời nói của người chinh phụ và giá trị biểu hiện (trang 88)
Xác định những câu thơ là lời nói của người chinh phụ và cho biết giá trị biểu hiện của nó.
Trả lời: Toàn đoạn là lời độc thoại nội tâm của người chinh phụ (nhân vật trữ tình xưng “thiếp”), rõ nhất ở những câu hỏi han ngọn đèn (“Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”) và những câu tự giãi bày nỗi lòng (“Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”, “Lòng này gửi gió đông có tiện?”). Lời độc thoại giúp nhân vật tự bộc lộ trực tiếp những cung bậc tâm trạng: cô đơn, mong đợi, thất vọng, nhớ thương, khiến nỗi buồn chân thực và lay động người đọc.
Câu 5: Nhạc điệu của thể song thất lục bát (trang 88)
Đọc diễn cảm đoạn trích. Hãy nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát (có so sánh với các thể thơ mà anh (chị) biết).
Trả lời: Song thất lục bát là thể thơ dân tộc, kết hợp cặp câu bảy chữ (thường ngắt nhịp 3/4) với cặp lục bát (nhịp chẵn), có vần lưng và vần chân đan xen. Nhờ vậy nhạc điệu lúc trầm lúc bổng, khi dồn nén khi ngân dài, rất hợp với lối ngâm và với việc diễn tả tâm trạng triền miên. So với lục bát đều đặn, êm ả thích hợp kể chuyện (như Truyện Kiều), song thất lục bát biến hóa hơn, giàu sắc thái than thở; so với thơ Đường luật chặt chẽ, nó tự do và gần với lời ru, lời ngâm dân gian hơn.
Câu 6 (Luyện tập): Viết đoạn văn tả tâm trạng (trang 88)
Hãy vận dụng những biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích để viết một đoạn văn (hoặc thơ) ngắn miêu tả một nỗi nhớ hay niềm vui của bản thân anh (chị).
Trả lời: (đoạn văn tham khảo)
Tối hôm bà về quê, căn phòng bỗng rộng ra một cách lạ lùng. Em đi qua đi lại giữa gian bếp, mở cánh tủ rồi lại đóng, như thể bà vẫn còn ngồi đâu đó nhặt rau. Chiếc quạt nan treo trên tường đứng im, chẳng còn ai phe phẩy kể chuyện ngày xưa. Ngoài cửa sổ, tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tôn nghe sao mà dài. Em hỏi chú mèo nằm cuộn tròn bên chân có nhớ bà không, rồi tự cười vì biết nó chẳng thể trả lời. Một tuần chưa trôi hết mà em thấy như đã một tháng. Em lấy cuốn sổ ra viết, lại gạch đi; bật ti vi, lại tắt. Hóa ra nỗi nhớ không nói thành lời được, nó cứ âm thầm nằm trong từng đồ vật quen thuộc bà để lại.
Kết luận
Soạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, em cần nắm phạm vi đoạn trích ở từng bộ sách, bút pháp tả cảnh ngụ tình, lời độc thoại nội tâm, phép điệp, so sánh, từ láy và nhạc điệu song thất lục bát. Qua đó hiểu giá trị nhân đạo của tác phẩm: cảm thông với người phụ nữ, lên án chiến tranh phi nghĩa.
Xem thêm: