Soạn bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu dưới đây trả lời 6 câu hỏi Đọc – hiểu và 2 câu Luyện tập trong SGK Ngữ văn 10 tập hai chương trình cũ (văn bản mở đầu tập hai, câu hỏi ở trang 7). Bài phú không còn là văn bản đọc chính trong sách Ngữ văn 2018 nhưng vẫn là áng văn tiêu biểu nhất về dòng sông lịch sử; các bài khác của lớp 10 xem tại Ngữ văn lớp 10.
Tìm hiểu chung về bài Phú sông Bạch Đằng
Nắm tác giả, thể phú và bố cục sẽ giúp em trả lời các câu hỏi dễ dàng hơn.

Tác giả Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (? – 1354), tự Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Thuở trẻ ông là môn khách trong phủ Trần Hưng Đạo, về sau làm quan qua nhiều đời vua, đảm đương nhiều trọng trách. Người đương thời biết đến ông như một nhà nho thẳng tính, giỏi chữ nghĩa, được vua quý trọng; mất đi, ông được tặng hàm Thái bảo, có bài vị thờ trong Văn Miếu. Tác phẩm còn lại gồm một số bài thơ, bài văn bia và nổi tiếng nhất là Bạch Đằng giang phú.
Thể phú và hoàn cảnh ra đời
- Phú là thể văn vần (đôi khi xen câu văn xuôi) gốc Trung Hoa, thường dùng để miêu tả cảnh sắc, phong tục, thuật việc hoặc bàn bạc nhân tình thế thái. Bài này thuộc lối phú cổ thể, hình thành trước thời Đường, dựng cuộc trò chuyện giữa chủ và khách, khép lại bằng một bài thơ.
- Hoàn cảnh: tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời khoảng nửa thế kỉ sau chiến thắng quân Nguyên – Mông năm 1288, khi tác giả có dịp du ngoạn sông Bạch Đằng, một nhánh đổ ra biển của sông Kinh Thầy, nằm ở vùng giáp ranh Quảng Ninh – Hải Phòng.
- Dòng sông lịch sử: năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giết Hoằng Tháo; năm 1288, quân dân nhà Trần đại phá quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi trên chính dòng sông này.
Bố cục 3 đoạn
- Đoạn 1 (từ “Khách có kẻ” đến “luống còn lưu”): nhân vật khách dạo chơi, cảm xúc trước cảnh sông Bạch Đằng.
- Đoạn 2 (từ “Bên sông các bô lão” đến “chừ lệ chan”): các bô lão kể lại chiến công và bình luận nguyên nhân thắng lợi.
- Đoạn 3 (phần còn lại): bô lão hát, khách hát nối theo, cùng khẳng định chân lí lịch sử.
Hướng dẫn soạn bài Phú sông Bạch Đằng (SGK Ngữ văn 10 cũ)
Phần Đọc – hiểu có 6 câu, phần Luyện tập có 2 câu, đều ở trang 7.
Câu 1: Bố cục, vị trí chiến thắng Bạch Đằng và đề tài sông Bạch Đằng (trang 7)
Đọc tiểu dẫn để nắm được bố cục bài phú, vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử và đề tài sông Bạch Đằng trong văn học. Đọc kĩ các chú thích để hiểu được các từ khó, các điển tích, điển cố.
Trả lời:
- Bố cục: ba đoạn như đã trình bày ở trên (khách dạo chơi – bô lão kể và bình luận – lời ca kết).
- Vị trí lịch sử: Bạch Đằng là nơi diễn ra những trận thủy chiến lẫy lừng: Ngô Quyền phá quân Nam Hán năm 938, mở ra thời kì độc lập lâu dài; Trần Hưng Đạo đánh tan cánh quân thủy của nhà Nguyên năm 1288, góp phần kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ ba. Dòng sông vì thế trở thành biểu tượng cho ý chí giữ nước.
- Đề tài trong văn học: sông Bạch Đằng đã đi vào thơ văn nhiều thế hệ: thơ của Trần Minh Tông, Nguyễn Sưởng thời Trần; Bạch Đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi… Trong số đó, bài phú của Trương Hán Siêu được xem là áng văn tiêu biểu nhất.
- Chú thích, điển tích: em cần tra kĩ hai nhóm địa danh – nhóm thuộc đất Trung Hoa mà khách kể là từng đi qua, nhóm thuộc nước Việt trên đường tới Bạch Đằng – cùng điển cố về các trận Xích Bích, Hợp Phì để hiểu cách tác giả so sánh.
Câu 2: Hình tượng nhân vật “khách” (trang 7)
Mở đầu bài phú, nổi bật lên là hình tượng nhân vật “khách”. Anh (chị) hãy tìm hiểu: mục đích dạo chơi thiên nhiên, chiến địa của “khách”; “khách” là người có tráng chí (chí lớn), có tâm hồn như thế nào qua việc nhắc đến những địa danh lịch sử của Trung Quốc và miêu tả những địa danh lịch sử của đất Việt?
Trả lời:
- Mục đích dạo chơi: khách đi không phải để tiêu khiển mà để mở rộng tầm hiểu biết, nghiên cứu cảnh trí đất nước, học theo cách Tư Mã Thiên ngày xưa du ngoạn để làm sử. Hình ảnh “Giương buồm giong gió chơi vơi” gợi tư thế ung dung, phóng khoáng.
- Tâm hồn rộng mở, tráng chí bốn phương: khách đã đi khắp những vùng đất nổi tiếng của Trung Quốc (qua sách vở và trí tưởng tượng), từ sông Nguyên, sông Tương đến Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng. Liệt kê như vậy để thấy khí phách của một kẻ sĩ ham hiểu biết, muốn bao quát cả đất trời.
- Tình yêu với non sông đất Việt: khi thuyền tới các cửa sông, bến bãi quê nhà rồi đến Bạch Đằng, lời văn trở nên cụ thể, thân thiết hơn; khách vừa thưởng ngoạn vừa xúc động, chứng tỏ lòng gắn bó với lịch sử dân tộc.
Câu 3: Cảm xúc của “khách” trước cảnh sông Bạch Đằng (trang 7)
Cảm xúc của “khách” trước khung cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng: phấn khởi, tự hào? Buồn thương, nuối tiếc vì những giá trị đang lùi vào quá khứ? Lí giải cách lựa chọn của anh (chị).
Trả lời: Cảm xúc của khách là sự đan xen giữa tự hào và buồn thương.
- Tự hào, phấn khởi trước cảnh sông nước hùng vĩ, thơ mộng: sóng nước bát ngát muôn dặm, trời nước một màu, bờ lau bãi lách.
- Buồn thương, nuối tiếc khi nhìn bờ sông với giáo gươm gãy chất như núi, xương người chết trận trắng phơi: những anh hùng đã đi vào quá khứ, chỉ còn dấu vết chiến trường “luống còn lưu”. Đó là nỗi buồn của người hoài cổ, cũng là sự trăn trở của kẻ sĩ trước thời thế nhà Trần đang dần suy.
Lựa chọn hợp lí nhất là cả hai: niềm tự hào về quá khứ vẻ vang và nỗi nuối tiếc vì thời oanh liệt đã lùi xa, hai cảm xúc này bổ sung cho nhau.
Câu 4: Vai trò của các bô lão, chiến tích và nguyên nhân thắng lợi (trang 7)
Vai trò của hình tượng các bô lão trong bài phú? Chiến tích trên sông Bạch Đằng đã được gợi lên như thế nào qua lời kể của các bô lão? Thái độ, giọng điệu của họ khi kể chuyện? Qua lời bình luận của các bô lão, trong các yếu tố địa thế sông núi, con người, yếu tố nào giữ vai trò quan trọng nhất làm nên chiến thắng Bạch Đằng?
Trả lời:
- Vai trò: các bô lão là người địa phương, là nhân chứng của lịch sử; họ có thể là hư cấu theo lối phú chủ – khách, giúp bài văn chuyển từ cảm xúc cá nhân sang lời kể, lời bình mang tính cộng đồng.
- Chiến tích được gợi lên: qua những hình ảnh hoành tráng – thuyền bè muôn đội, cờ xí tung bay, gươm giáo sáng lòa, trận đánh khiến trời đất như sắp đổi (“Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất chừ sắp đổi”). Các bô lão còn so sánh với những trận đánh nổi tiếng của Trung Quốc để khẳng định tầm vóc chiến thắng.
- Thái độ, giọng điệu: nhiệt tình, hào hứng, tự hào khi kể; trầm lắng, xúc động khi nhớ người xưa.
- Yếu tố quyết định: các bô lão thừa nhận vai trò của địa thế hiểm trở và cả “trời” giúp, nhưng khẳng định con người mới là then chốt: “Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”. Câu văn chứa một quan niệm rất tiến bộ: nhân tài và đức độ của người cầm quân, của cả dân tộc mới quyết định thắng lợi.
Câu 5: Ý nghĩa lời ca của các bô lão và lời ca của “khách” (trang 7)
Lời ca của các vị bô lão và lời ca nối tiếp của “khách” nhằm khẳng định điều gì?
Trả lời:
- Lời ca của bô lão: dòng sông vẫn cuồn cuộn chảy ra biển, kẻ bất nghĩa thì tiêu vong, người anh hùng thì lưu danh muôn thuở. Đó là một chân lí lịch sử.
- Lời ca của khách: ngợi khen hai vị vua Trần sáng suốt (Thánh Tông, Nhân Tông) và khẳng định lần nữa rằng đất hiểm không bằng đức cao của con người; giặc tan, đất nước được thái bình muôn thuở.
- Ý nghĩa chung: khẳng định chính nghĩa tất thắng, vai trò quyết định của con người và lòng tự hào, tin tưởng vào tương lai dân tộc.
Câu 6: Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài phú (trang 7)
Phát biểu về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài phú.
Trả lời:
- Nội dung: bài phú là niềm tự hào về những chiến công giữ nước và lẽ nhân nghĩa của ông cha; khẳng định con người, với tài năng và đức độ, mới là gốc của thắng lợi; đồng thời gửi gắm nỗi hoài niệm, lòng biết ơn tiền nhân.
- Nghệ thuật: kết cấu mạch lạc; hai hình tượng khách và bô lão sống động, đều phảng phất bóng dáng tác giả; giọng văn lúc hào hùng, lúc trầm lắng; câu văn tự do, linh hoạt; điển cố, phép so sánh, liệt kê dùng đúng chỗ. Giới nghiên cứu coi đây là đỉnh cao của văn phú nước ta thời trung đại.
Câu 7 (Luyện tập): Học thuộc một số câu trong bài phú (trang 7)
Học thuộc một số câu trong bài phú.
Trả lời: Em nên học thuộc ba chỗ tiêu biểu theo bố cục: phần mở đầu giới thiệu khách; đoạn các bô lão tả trận đánh (hai câu có chữ “chừ” về nhật nguyệt và trời đất); câu kết luận về đất hiểm và đức cao. Mẹo học: đọc theo nhịp ngắt của văn phú, ghi nhớ các cặp đối, rồi tự chép lại từng đoạn.
Câu 8 (Luyện tập): So sánh lời ca của “khách” với bài thơ Sông Bạch Đằng của Nguyễn Sưởng (trang 7)
Phân tích, so sánh lời ca của “khách” kết thúc bài Phú sông Bạch Đằng với bài thơ Sông Bạch Đằng của Nguyễn Sưởng (bản dịch SGK trang 7).
Trả lời:
- Giống nhau: cả hai cùng hướng về chiến thắng Bạch Đằng thời Trần, ca ngợi công lao của các vị vua và người anh hùng, coi con người là chủ thể làm nên lịch sử, chan chứa lòng tự hào dân tộc.
- Khác nhau: lời ca của khách đặt trong một bài phú dài, là lời đúc kết tư tưởng của cả tác phẩm, giọng khẳng định, hào sảng; bài thơ của Nguyễn Sưởng ngắn gọn, cô đúc, cảm xúc được nén lại trong hình ảnh dòng sông và dấu tích chiến trận, giọng trầm tư hơn.
- Nhận xét: mỗi tác phẩm một vẻ, nhưng đều cho thấy sông Bạch Đằng đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của văn học thời Trần.
Kết luận
Soạn Phú sông Bạch Đằng, em cần nắm được hai hình tượng khách và các bô lão, cảm xúc tự hào xen hoài niệm, tư tưởng đề cao con người (“cốt mình đức cao”) và những nét đặc sắc của thể phú cổ thể.
Xem thêm: