Lý Bạch (701 – 762) là nhà thơ lớn nhất thời Thịnh Đường của Trung Quốc, được hậu thế tôn là “Thi tiên” (ông tiên làng thơ), cùng Đỗ Phủ làm nên đỉnh cao của thơ Đường. Ông tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, cả đời phiêu bạt, hiện còn khoảng một nghìn bài thơ với những kiệt tác như Tĩnh dạ tứ, Vọng Lư sơn bộc bố, Tảo phát Bạch Đế thành. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách và những bài thơ Lý Bạch trong sách giáo khoa Việt Nam.
Tác giả Lý Bạch là ai?
Lý Bạch là nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường, sáng tác rực rỡ nhất dưới triều Đường Huyền Tông. Ông nổi tiếng với hồn thơ tự do, phóng khoáng, tình yêu thiên nhiên, rượu, trăng và bạn bè. Thơ ông đã được dịch và giảng dạy rộng rãi ở Việt Nam, nhiều bài có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn qua nhiều thế hệ.

| Tên | Lý Bạch (李白), tự Thái Bạch (太白), hiệu Thanh Liên cư sĩ |
| Danh xưng | Thi tiên; Hạ Tri Chương gọi ông là “trích tiên nhân” |
| Năm sinh – năm mất | 701 – 762 |
| Quê quán | Nơi sinh còn tranh luận (Toái Diệp ở Trung Á, nay thuộc Kyrgyzstan, hoặc Tứ Xuyên); lớn lên ở huyện Chương Minh, Tứ Xuyên |
| Thể loại | Thơ cổ phong, nhạc phủ, tuyệt cú |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tĩnh dạ tứ, Vọng Lư sơn bộc bố, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Tảo phát Bạch Đế thành, Thục đạo nan, Tương tiến tửu, Nguyệt hạ độc chước |
| Số bài thơ còn lại | Khoảng 1.000 bài |
| Trong SGK hiện hành | Xa ngắm thác núi Lư (Ngữ văn 8), Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngữ văn 9), Tảo phát Bạch Đế thành (Ngữ văn 11) |
Tên tự Thái Bạch là tên cổ của sao Kim. Theo Tân Đường thư, khi sắp sinh ông, mẹ ông nằm mộng thấy sao Thái Bạch nên đặt tên con là Bạch. Hiệu Thanh Liên cư sĩ gắn với làng Thanh Liên ở Tứ Xuyên, nơi ông trải qua tuổi thơ.
Cuộc đời Lý Bạch qua các mốc chính
Hai bộ sử Cựu Đường thư và Tân Đường thư là nguồn chính về tiểu sử Lý Bạch, nhưng nhiều chi tiết đời ông vẫn lẫn với giai thoại. Các mốc dưới đây là những điểm được thừa nhận rộng rãi.
- 701: sinh ra; nơi sinh chưa thống nhất (Toái Diệp ở Trung Á hoặc Tứ Xuyên).
- Khoảng 705: gia đình chuyển về vùng Giang Du, huyện Chương Minh (Tứ Xuyên). Thời trẻ ông học rộng, mê kiếm thuật, thích đạo giáo và ngao du.
- Khoảng 725: rời đất Thục, xuôi Trường Giang bắt đầu những năm du lịch khắp miền Đông Trung Quốc.
- 727: lấy cháu gái của cựu tể tướng Hứa Ngữ Sư ở An Lục (Hồ Bắc).
- 742: được triệu vào kinh đô Trường An, làm việc ở Hàn Lâm viện dưới triều Đường Huyền Tông. Hạ Tri Chương đọc thơ ông và gọi ông là “trích tiên nhân” (người tiên bị đày xuống trần).
- 744: rời triều đình sau khi bị gièm pha; mùa thu năm ấy gặp Đỗ Phủ, khởi đầu tình bạn nổi tiếng nhất lịch sử thơ ca Trung Quốc.
- 755 – 757: loạn An Lộc Sơn bùng nổ; ông nhận lời làm mưu sĩ cho Vĩnh vương Lý Lân. Lý Lân thất bại, ông bị bắt giam ở Tầm Dương.
- 758 – 759: bị kết án lưu đày đi Dạ Lang; năm 759 được ân xá khi đang trên đường đi đày, quay thuyền xuôi về phía đông.
- 762: mất ở Đương Đồ (nay thuộc An Huy) khi nương nhờ người họ hàng là Lý Dương Băng; nguyên nhân cái chết không được ghi chép rõ.

Quanh cái chết của Lý Bạch có một truyền thuyết rất đẹp: nhà thơ say rượu, nhảy xuống sông ôm bóng trăng rồi mất. Đây chỉ là giai thoại dân gian, không phải ghi chép lịch sử, nhưng nó cho thấy người đời sau gắn hình ảnh Lý Bạch với trăng và rượu đến mức nào.
Sự nghiệp sáng tác của Lý Bạch
Lý Bạch sáng tác từ thời trẻ ở đất Thục cho đến cuối đời. Theo các nhà nghiên cứu, số bài thơ của ông mất mát nhiều trong loạn lạc; hiện còn khoảng một nghìn bài, cùng một số bài phú và văn xuôi.
Về thể loại. Ông viết thành công nhất ở thơ cổ phong (thể tự do về số câu, vần), nhạc phủ (thơ phỏng theo các khúc hát dân gian) và tuyệt cú (bốn câu). Những bài cổ phong, nhạc phủ dài như Thục đạo nan, Tương tiến tửu cho thấy sức tưởng tượng bay bổng; những bài tuyệt cú như Tĩnh dạ tứ, Tảo phát Bạch Đế thành lại hàm súc, trong trẻo.
Về đề tài. Thơ Lý Bạch xoay quanh mấy mảng lớn: thiên nhiên hùng vĩ (núi Lư, sông Trường Giang, đường Thục); tình bạn và cảnh tiễn biệt; rượu và trăng như những người bạn tri kỷ; nỗi nhớ quê; khát vọng lập công và nỗi bất bình trước cuộc đời không cho mình thi thố tài năng.
Ở Việt Nam, thơ Lý Bạch được dịch từ rất sớm: Tản Đà dịch nhiều bài, về sau có các bản dịch của Tương Như, Ngô Tất Tố và nhiều dịch giả khác. Danh sách các bài thơ hay, kèm phiên âm và dịch nghĩa, có trong bài tuyển tập thơ Lý Bạch hay nhất.
Các tác phẩm tiêu biểu của Lý Bạch
Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
Bốn câu năm chữ, tổng cộng hai mươi chữ, nhưng đây là một trong những bài thơ Đường phổ biến nhất ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Một đêm xa nhà, ánh trăng rọi xuống đầu giường gợi trong lòng người lữ khách nỗi nhớ quê không nói thành lời:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Tạm hiểu: ánh trăng sáng soi trước giường, ngỡ như sương phủ mặt đất; ngước lên ngắm vầng trăng, rồi cúi xuống mà nhớ cố hương. Cặp động tác “cử đầu – đê đầu” (ngẩng – cúi) là điểm nhấn nghệ thuật của bài.
Vọng Lư sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi Lư)
Bài thơ vẽ thác nước núi Lư (Giang Tây) bằng những hình ảnh phóng đại: dòng thác như tấm lụa treo trước mặt sông, dòng nước đổ từ độ cao “ba nghìn thước”, khiến người ngắm ngỡ dải Ngân Hà rơi từ chín tầng mây. Câu kết “Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên” là ví dụ kinh điển về trí tưởng tượng của Lý Bạch.
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
Bài tứ tuyệt tiễn bạn thơ Mạnh Hạo Nhiên từ lầu Hoàng Hạc xuôi về Dương Châu vào tiết xuân tháng ba. Nhà thơ đứng nhìn cánh buồm lẻ khuất dần vào nền trời xanh, chỉ còn dòng Trường Giang chảy ngang chân trời – nỗi buồn ly biệt được nói bằng cảnh. Đọc thêm: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng – tác giả, tác phẩm và bài thơ Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Tảo phát Bạch Đế thành (Sớm từ thành Bạch Đế)
Thường được cho là viết năm 759, khi nhà thơ được ân xá trên đường đi đày. Con thuyền nhẹ lướt ngàn dặm về Giang Lăng trong một ngày, tiếng vượn hai bờ chưa dứt mà thuyền đã qua muôn trùng núi – nhịp thơ nhanh, vui như chính tâm trạng người vừa thoát nạn:
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ,
Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.
Xem soạn bài Tảo phát Bạch Đế thành (Chân trời sáng tạo).
Thục đạo nan, Tương tiến tửu, Nguyệt hạ độc chước
Ba bài thơ dài tiêu biểu cho mảng cổ phong, nhạc phủ: Thục đạo nan (Đường Thục khó) tả con đường hiểm trở vào đất Thục; Tương tiến tửu (Sắp mời rượu) là khúc hát về đời người ngắn ngủi và niềm vui uống rượu; Nguyệt hạ độc chước (Một mình uống rượu dưới trăng) với hình ảnh nâng chén mời trăng, cùng bóng mình thành ba người.
Phong cách nghệ thuật của Lý Bạch
- Lãng mạn, phóng khoáng: thơ Lý Bạch thể hiện một cái tôi tự do, không chịu gò bó, coi thường danh lợi, thích sống giữa núi sông.
- Tưởng tượng và phóng đại: ông hay dùng con số lớn, hình ảnh vũ trụ (ba nghìn thước, chín tầng mây, ngàn dặm) để tạo cảm giác kỳ vĩ.
- Ngôn ngữ tự nhiên, trong sáng: nhiều bài dùng lời lẽ giản dị như lời nói thường mà hàm ý sâu xa, dễ thuộc, dễ truyền tụng.
- Hình tượng trăng và rượu: trăng là bạn, là quê hương, là nỗi cô đơn; rượu là cách nhà thơ đối diện với nỗi buồn đời.
Phong cách ấy khác hẳn Đỗ Phủ – “Thi thánh” với thơ hiện thực, trầm uất (xem soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ). Hai nhà thơ thường được gọi gộp là “Lý – Đỗ”, đại diện cho hai khuynh hướng lớn của thơ Đường. Tìm hiểu thêm về thơ Đường luật.
Lý Bạch được mệnh danh là gì?
Lý Bạch được hậu thế tôn là Thi tiên (詩仙 – ông tiên trong làng thơ), đặt cạnh Đỗ Phủ là Thi thánh. Danh xưng này bắt nguồn từ lời của nhà thơ đàn anh Hạ Tri Chương: khi gặp Lý Bạch ở Trường An, ông gọi Lý Bạch là “trích tiên nhân”, tức người tiên bị đày xuống trần gian. Do lối sống phóng túng và tài uống rượu, Lý Bạch còn được gọi là Tửu tiên.
Nhận định về Lý Bạch
Những lời nhận định dưới đây có tác giả và nguồn rõ ràng:
- Hạ Tri Chương (659 – 744), nhà thơ cùng thời, gọi Lý Bạch là “trích tiên nhân” – người tiên bị giáng xuống trần (theo các sách sử đời Đường, được Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh dẫn lại).
- Đỗ Phủ, trong bài Xuân nhật ức Lý Bạch (Ngày xuân nhớ Lý Bạch), mở đầu bằng hai câu: “Bạch dã thi vô địch, phiêu nhiên tứ bất quần” – nghĩa là: thơ của Bạch không ai địch nổi, ý thơ phiêu diêu không giống người thường.
Lời khen của Đỗ Phủ, một nhà thơ lớn ngang tầm, là bằng chứng sớm nhất cho thấy tài năng của Lý Bạch được chính người cùng thời thừa nhận.
Thơ của Lý Bạch trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Bài thơ | Lớp – bộ sách | Vị trí trong sách | Bài viết trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố) | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 | Bài 7 – Thơ Đường luật (thực hành đọc hiểu) | Phiên âm, dịch nghĩa trong tuyển tập thơ Lý Bạch |
| Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 4 – Khám phá vẻ đẹp văn chương (thực hành đọc) | Tác giả – tác phẩm |
| Tảo phát Bạch Đế thành | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 6 – Đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài Tảo phát Bạch Đế thành |
Trong chương trình cũ, học sinh lớp 7 từng học Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ) và Xa ngắm thác núi Lư, vì vậy đây vẫn là hai bài thơ Lý Bạch quen thuộc nhất với nhiều thế hệ người Việt.
Tóm tắt tiểu sử Lý Bạch ngắn gọn
Lý Bạch (701 – 762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, là nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường, được tôn là Thi tiên. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, khoảng năm 725 rời quê đi du lịch khắp nơi. Năm 742 ông được triệu vào Trường An làm việc ở Hàn Lâm viện, nhưng chỉ hai năm sau đã rời triều đình và gặp Đỗ Phủ. Trong loạn An Lộc Sơn, ông theo Vĩnh vương Lý Lân, bị bắt và bị đày đi Dạ Lang, năm 759 được ân xá. Ông mất năm 762 ở Đương Đồ. Thơ ông lãng mạn, phóng khoáng, giàu tưởng tượng, hiện còn khoảng một nghìn bài.
Câu hỏi thường gặp về Lý Bạch
Lý Bạch là người nước nào?
Lý Bạch là nhà thơ Trung Quốc thời nhà Đường. Nơi sinh của ông còn tranh luận, nhưng ông lớn lên ở Tứ Xuyên.
Lý Bạch sinh năm bao nhiêu, mất năm nào?
Lý Bạch sinh năm 701 và mất năm 762, thọ khoảng 61 tuổi.
Vì sao Lý Bạch được gọi là Thi tiên?
Vì thơ ông bay bổng, siêu thoát như của người tiên; Hạ Tri Chương từng gọi ông là “trích tiên nhân”, hậu thế tôn ông là Thi tiên.
Lý Bạch và Đỗ Phủ có quan hệ thế nào?
Hai người gặp nhau năm 744 và trở thành bạn thơ. Đỗ Phủ để lại khoảng một chục bài thơ viết về Lý Bạch.
Bài thơ nổi tiếng nhất của Lý Bạch là bài nào?
Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) thường được coi là bài thơ phổ biến nhất của Lý Bạch; ở Việt Nam, Xa ngắm thác núi Lư cũng rất quen thuộc.
Lý Bạch có thật sự chết vì ôm trăng không?
Không có ghi chép lịch sử nào xác nhận. Chuyện nhà thơ say rượu nhảy xuống sông ôm bóng trăng chỉ là truyền thuyết; sử chỉ ghi ông mất năm 762 ở Đương Đồ.
Lời kết
Hơn mười hai thế kỷ đã qua, tác giả Lý Bạch vẫn là gương mặt sáng nhất của thơ Đường với hồn thơ tự do và những câu thơ về trăng, về quê hương ai cũng thuộc. Đọc tiểu sử ông là bước đầu để hiểu các bài thơ trong sách giáo khoa. Mời bạn đọc tiếp tuyển tập thơ Lý Bạch trên Văn VN.
Xem thêm: Giới thiệu tác giả Lỗ Tấn · Giới thiệu tác giả Nguyễn Du · Tuyển tập thơ Trung Quốc
Xem thêm: