Trào phúng là lối dùng tiếng cười để chế giễu, phê phán những thói xấu, những điều lố bịch, chưa hoàn thiện ở con người và xã hội. Văn học trào phúng, thơ trào phúng lấy cái cười làm vũ khí; châm biếm, hài hước, đả kích là những cung bậc của tiếng cười ấy. Học sinh gặp khái niệm này rõ nhất ở Ngữ văn 8.
| Khái niệm | Dùng tiếng cười để chế giễu, phê phán cái xấu, cái chưa hay |
| Nghĩa chữ Hán | 嘲諷: trào (riễu cợt) + phúng (nói bóng gió, nói mát) |
| Thuộc | Lý luận văn học: tính chất, giọng điệu của tác phẩm |
| Dấu hiệu nhận biết | Đối tượng là cái xấu; có yếu tố gây cười; mục đích phê phán |

Từ điển và sách Ngữ văn hiểu trào phúng ra sao?
Từ điển tiếng Việt xếp trào phúng vào tính từ, chỉ cái có tác dụng gây cười để châm biếm, phê phán, như trong “thơ trào phúng”, “giọng điệu trào phúng”; từ đồng nghĩa là trào lộng. Từ điển mở trên Wiktionary giảng gần như vậy: dùng lời mỉa mai, chua chát để chế giễu những thói rởm.
Gốc Hán Việt giúp hiểu sâu hơn. Theo Thiều Chửu, 嘲 (trào) là riễu cợt; 諷 (phúng) là nói mát, nói thác sang chuyện khác để người nghe tỉnh ra mà sửa lỗi. Hai chữ đặt cạnh nhau cho thấy trào phúng không cười suông: cười để người ta nhận ra cái sai.
Sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức dành hẳn Bài 4, “Tiếng cười trào phúng trong thơ”, cho kiểu tiếng cười này. Văn bản đọc thứ ba của bài học chia tiếng cười trào phúng thành nhiều giọng điệu và nhấn mạnh đích đến cuối cùng: đẩy lùi cái xấu để con người sống tốt hơn. Phần trả lời câu hỏi có trong bài soạn văn bản bàn về giọng điệu tiếng cười.
Ba câu hỏi để nhận ra chất trào phúng
Đứng trước một bài thơ, truyện hay bài ca dao, có thể tự hỏi ba điều.
Cười ai, cười cái gì? Đối tượng của trào phúng là cái xấu, cái lố, cái không xứng: ông quan bất tài, kẻ khoe khoang, hủ tục tốn kém, cảnh thi cử nhếch nhác. Nếu chỉ là một tình huống vui vô hại, đó là hài hước thông thường.
Tiếng cười tạo ra bằng cách nào? Tác giả trào phúng hay dùng những thủ pháp như phóng đại (xem thêm phép nói quá trong tiếng Việt), nói ngược (khen mà thực ra chê), đặt hai thứ trái nhau cạnh nhau, chơi chữ, nhại lại giọng trang trọng cho thành lố bịch. Chính độ vênh giữa vẻ ngoài và bản chất làm người đọc bật cười.
Cười xong thì đọng lại gì? Tác phẩm trào phúng luôn để lại một thái độ: chê trách, mỉa mai, có khi phẫn uất. Sau tiếng cười là điều tác giả muốn người đọc nghĩ lại.
Hài hước, châm biếm, đả kích: các cung bậc của tiếng cười
Theo cách chia trong sách Ngữ văn 8, tiếng cười trào phúng có ba giọng điệu chính, xếp từ nhẹ đến gắt:
- Hài hước: đùa vui nhẹ nhàng, phá vỡ khuôn phép quen thuộc, mức phê phán thấp. Nhiều bài thơ tự trào, tự cười mình thuộc nhóm này.
- Mỉa mai, châm biếm: dựng lên điều phi lý, đảo lộn trật tự thông thường để lật mặt thật của đối tượng; thường “khen để chê”. Bài “Hỏi thăm quan tuần mất cướp” của Nguyễn Khuyến hay được dẫn làm ví dụ.
- Đả kích: phủ nhận đối tượng quyết liệt, lời lẽ có khi suồng sã, gay gắt như mắng thẳng mặt.
Ranh giới giữa các giọng không cứng nhắc. Một bài thơ có thể mở đầu bằng giọng đùa rồi kết thúc bằng một câu chua cay.
Châm biếm là gì, có giống trào phúng không?
Châm biếm là chế giễu một cách hóm hỉnh, sâu cay nhằm phê phán, ví dụ “giọng châm biếm”, “tranh châm biếm”. Hai từ hay đi chung nên nhiều bạn nghĩ chúng là một. Thực ra trào phúng rộng hơn: nó chỉ cả một loại tiếng cười, một dòng văn học, còn châm biếm là một giọng điệu nằm bên trong.
| Trào phúng | Châm biếm | Hài hước | |
|---|---|---|---|
| Phạm vi | Rộng: tính chất, dòng văn học | Một giọng điệu của trào phúng | Một giọng điệu, cũng dùng ngoài đời |
| Mức phê phán | Từ nhẹ đến rất gay gắt | Sâu cay, kín đáo | Nhẹ, chủ yếu mua vui |
| Cách nói | Đủ mọi thủ pháp gây cười | Nói ngược, mỉa, khen để chê | Dí dỏm, bất ngờ |
| Ví dụ dùng từ | Thơ trào phúng Tú Xương | Giọng châm biếm chua cay | Câu chuyện hài hước |
Tiếng cười trào phúng trong ca dao, thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương
Trong ca dao. Người bình dân cười rất khéo qua chuyện con vật:
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo
Mèo là kẻ thù của chuột mà lại “hỏi thăm” ân cần; chuột thì vờ hiếu nghĩa đi mua đồ “giỗ cha con mèo”. Lời lẽ lễ độ bao nhiêu, cái giả dối của kẻ mạnh lộ ra bấy nhiêu. Cách hiểu từng bài trong chùm có ở bài soạn ba bài ca dao cười thầy cúng, cười mèo chuột.
Trong thơ Nguyễn Khuyến. Bài “Tiến sĩ giấy” vịnh hình nộm ông nghè làm đồ chơi Trung thu cho trẻ:
Cũng cờ cũng biển cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Bốn chữ “cũng” dồn dập liệt kê đủ cờ, biển, cân đai như một ông tiến sĩ thật, rồi câu sau buông nhẹ “có kém ai”. Càng ra vẻ đủ đầy, cái danh hão càng rỗng. Tiếng cười ở đây vừa chê lớp khoa bảng hữu danh vô thực, vừa có phần tự giễu của chính nhà thơ đỗ đạt cao. Cách viết bài phân tích có ở mục bài văn phân tích Tiến sĩ giấy.
Trong thơ Tú Xương. Tả trường thi Nam Định năm Đinh Dậu (1897), ông viết:
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Hai câu đối nhau chan chát: “lọng” đối “váy”, “quan sứ” đối “mụ đầm”. Chốn thi cử vốn trang nghiêm nay đón quan Tây và vợ quan với cờ lọng long trọng, nghịch cảnh ấy đủ khiến người đọc vừa cười vừa xót. Một số bản chép câu đầu là “Cờ cắm rợp trời”. Đọc thêm bài soạn bài thơ về khoa thi năm Đinh Dậu.
Luyện nhận diện trào phúng qua bốn câu hỏi
Câu 1: Câu thành ngữ “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” có tính trào phúng không? Vì sao?
Đáp án: Có. Câu này cười kẻ ăn khỏe, nói hay mà làm thì qua loa, dùng phép so sánh phóng đại và đối lập giữa hai hình ảnh “rồng” oai vệ với hình ảnh “mèo mửa” tầm thường. Đối tượng là thói xấu, mục đích là chê trách.
Câu 2: Trong hai câu sau, câu nào có giọng châm biếm? (a) “Con mèo nhà em ngủ cả ngày, đúng là chuyên gia ngủ.” (b) “Ông ấy hứa xây cầu cho làng đã mười năm, đúng là người giữ lời.”
Đáp án: Câu (b). Lời khen “giữ lời” đặt cạnh việc hứa mười năm không làm là lối nói ngược, khen để chê. Câu (a) chỉ đùa vui, mức phê phán gần như không có, nên thiên về hài hước.
Câu 3: Chỉ ra thủ pháp gây cười trong hai câu “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến / Váy lê quét đất mụ đầm ra”.
Đáp án: Phép đối (lọng – váy, quan sứ – mụ đầm), kết hợp đảo ngữ đưa hình ảnh “lọng cắm rợp trời”, “váy lê quét đất” lên trước. Sự đối lập giữa vẻ phô trương và nơi thi cử tôn nghiêm tạo nên tiếng cười mỉa mai.
Câu 4: Vì sao nói tiếng cười trào phúng vẫn mang tính nhân văn dù nó chê bai?
Đáp án gợi ý: Vì nó nhắm vào thói xấu chứ không nhằm hạ nhục con người; cười để người ta nhận ra cái sai và sửa. Bài trả lời nên nêu đối tượng, mục đích của tiếng cười và lấy một ví dụ cụ thể, chẳng hạn “Tiến sĩ giấy” hay một bài ca dao châm biếm.
Thắc mắc quanh hai chữ trào phúng
Thơ trào phúng là gì?
Là thơ dùng tiếng cười để phê phán thói hư tật xấu hoặc hiện tượng lố bịch trong xã hội. Ở Việt Nam, Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai cây bút trào phúng tiêu biểu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Văn học trào phúng là gì?
Là bộ phận văn học lấy tiếng cười làm phương tiện phê phán, gồm cả ca dao, truyện cười dân gian, thơ, truyện ngắn, kịch. Điểm chung là có đối tượng bị cười và thái độ phê phán rõ ràng.
Trào phúng tiếng Anh là gì?
Thường dịch là satire (danh từ) hoặc satirical (tính từ). Châm biếm có thể dịch là sarcasm hay irony tùy sắc thái.
Trào phúng và trào lộng có khác nhau không?
Từ điển coi hai từ là đồng nghĩa. Trong cách dùng, “trào lộng” thiên về đùa cợt, giễu cho vui hơn; “trào phúng” nhấn vào mục đích phê phán.