Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh dưới đây bám theo câu hỏi của sách Ngữ văn 9 tập một chương trình cũ (Bài 5, câu hỏi và Luyện tập ở trang 63). Đoạn trích từ Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ không còn là văn bản đọc chính trong sách Ngữ văn 2018, nhưng vẫn là tư liệu quen thuộc khi tìm hiểu thể tùy bút trung đại và xã hội Lê – Trịnh cuối thế kỉ XVIII. Các bài học khác của khối 9 xem ở chuyên mục Ngữ văn lớp 9.
Tìm hiểu chung về Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin về tác giả, tác phẩm và bố cục đoạn trích.

Tác giả Phạm Đình Hổ
Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), tự Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, người đương thời thường gọi là Chiêu Hổ; quê làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương. Ông sống qua những năm loạn lạc cuối Lê, thời Tây Sơn rồi đầu Nguyễn, phần lớn đời ẩn cư, dạy học và viết sách. Thời Minh Mạng, ông được mời ra làm quan ở Viện Hàn lâm, sau giữ chức Tế tửu ở Quốc Tử Giám, nhưng mấy lần xin từ chức. Ông để lại nhiều công trình bằng chữ Hán về văn học, lịch sử, địa lí, lễ nghi; nổi bật nhất là hai tập Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục.
Tác phẩm Vũ trung tùy bút
- Tên sách có nghĩa là tùy bút viết trong mưa; sách viết bằng chữ Hán, khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX).
- Sách gồm khoảng chín mươi mẩu ghi chép ngắn (các bản đếm 88 hoặc 90 bài): chuyện xảy ra cuối thời Lê – Trịnh, phong tục, lễ nghi, thi cử, nhân vật và di tích lịch sử, địa danh vùng Hải Dương.
- Ngoài giá trị văn chương, sách còn được các nhà sử học, địa lí học quý như một nguồn tư liệu. Bản dịch quen thuộc là của Nguyễn Hữu Tiến.
Bố cục đoạn trích
- Phần 1 (từ đầu đến “…triệu bất tường”): cảnh hưởng lạc tốn kém của chúa Trịnh Sâm trong phủ.
- Phần 2 (còn lại): bọn hoạn quan, cung giám mượn thế chúa để nhũng nhiễu, cướp đoạt của dân.
Hướng dẫn soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (SGK Ngữ văn 9 cũ)
Phần Đọc – hiểu văn bản có 3 câu hỏi, phần Luyện tập có 1 câu, đều ở trang 63.
Câu 1: Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và quan lại hầu cận (trang 63)
Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận được miêu tả thông qua những chi tiết nào? Hãy nhận xét về lời văn ghi chép sự việc của tác giả. Tại sao kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả lại nói: “…kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”?
Trả lời:
a. Các chi tiết miêu tả thói ăn chơi:
- Xây dựng không ngừng: chúa mê trò đèn đuốc, hay ngự ở những hành cung dựng quanh Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy; “Việc xây dựng đình đài cứ liên miên.”
- Những cuộc dạo chơi tốn kém: mỗi tháng ba bốn lần chúa ra cung Thụy Liên bên Tây Hồ; lính đứng dàn quanh hồ, các nội thần đội khăn, giả trang phụ nữ, bày hàng như họp chợ; quan hộ tụng ghé thuyền vào mua bán; có khi nhạc công được đưa lên gác chuông chùa Trấn Quốc hoặc ra bến nước mà tấu nhạc.
- Vơ vét của quý trong dân gian: chim muông, thú hiếm, gỗ cổ, đá đẹp, chậu cảnh, thứ gì quý chúa cũng bắt nộp. Có lần chuyển cả một cây đa lớn từ bên kia sông về, cả một đội lính mới khiêng được, kèm mấy người vác gươm, gõ thanh la thúc giục.
- Bày vẽ trong phủ: đắp non bộ, trồng cây, tạo cảnh như bến bể đầu non.
b. Nhận xét về lời văn: tác giả ghi chép như người đứng ngoài: kể việc cụ thể, có thời gian, địa điểm, con số; liệt kê các sự việc tiêu biểu, tả kĩ từng cảnh, gần như không chen lời bình. Chính lối ghi chép khách quan, tỉ mỉ ấy làm cho sự xa hoa, phiền nhiễu hiện ra rõ ràng, khiến người đọc tự rút ra nhận xét.
c. Ý nghĩa câu “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”: câu kết đoạn tả cảnh vườn phủ chúa lúc đêm khuya: tiếng chim kêu, vượn hót vang khắp nơi, có lúc ầm ĩ như giông bão kéo về. “Thức giả” là người hiểu biết; “triệu bất tường” là điềm chẳng lành. Đây là chỗ hiếm hoi tác giả bộc lộ thái độ, một cách kín đáo: cảnh vật nhân tạo được đem về bằng cưỡng đoạt không mang lại vẻ thanh bình mà gợi không khí rợn ngợp, như điềm báo về ngày tàn của một triều đại chỉ lo hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt của dân. Thực tế lịch sử đã chứng minh dự cảm ấy: chẳng bao lâu sau, cơ nghiệp họ Trịnh sụp đổ.
Câu 2: Thủ đoạn nhũng nhiễu dân của quan lại hầu cận (trang 63)
Bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn văn cuối bài, từ “Nhà ta ở phường Hà Khẩu” đến “cũng vì cớ ấy”.
Trả lời:
a. Thủ đoạn của bọn hoạn quan, cung giám:
- Rình xem nhà ai có cây cảnh đẹp, chim khướu hay là đánh dấu ngay hai chữ “phụng thủ” (lấy để dâng chúa).
- Đêm đến, sai lính lẻn đến lấy đi, rồi khép chủ nhà vào tội giấu đồ dâng chúa để dọa nạt, ép nộp tiền.
- Gặp hòn đá, gốc cây quá lớn, chúng không ngại đập nhà, dỡ tường mà đưa đi.
- Nhà giàu bị vu oan phải mất tiền chạy tội, có nhà đành tự đập non bộ, chặt cây cảnh cho yên thân.
Đó là thủ đoạn cướp trắng rồi còn đổ tội cho người bị cướp; tác giả gọi đúng tên hành vi ấy bằng thành ngữ “nhờ gió bẻ măng”. Sở dĩ chúng dám làm càn là nhờ có thế lực của chúa đứng sau.
b. Ý nghĩa đoạn văn cuối: tác giả kể chuyện xảy ra ngay trong nhà mình: cây lê cao lớn, hoa trắng thơm lừng và đôi cây lựu một trắng một đỏ sai quả đều phải chặt bỏ, cũng chỉ vì sợ bị vu là giấu vật cung phụng. Một chuyện có thật, do chính người viết chứng kiến, làm tăng sức thuyết phục cho những điều đã ghi; đồng thời lời kể bình thản mà chứa nỗi xót xa, bất bình kín đáo trước cảnh dân lành phải tự hủy của quý để tránh họa.
Câu 3: Tùy bút khác truyện như thế nào? (trang 63)
Theo em, thể văn tùy bút trong bài có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước?
Trả lời: So với thể truyện đã học ở bài trước (chẳng hạn Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ), tùy bút trong bài có mấy điểm khác:
| Tiêu chí | Truyện | Tùy bút (trung đại) |
|---|---|---|
| Nội dung | Phản ánh đời sống qua một câu chuyện có nhân vật, sự kiện; có thể hư cấu, có yếu tố kì ảo. | Ghi chép người thật, việc thật mà tác giả biết hoặc chứng kiến. |
| Cốt truyện | Có cốt truyện trọn vẹn, sự việc nối nhau từ đầu đến cuối. | Không cần cốt truyện; ghi theo cảm hứng, có khi tản mạn. |
| Nhân vật | Được xây dựng có ngoại hình, hành động, tâm lí, số phận. | Không tập trung khắc họa nhân vật; người và việc hiện ra qua lời ghi chép. |
| Cái tôi tác giả | Thường ẩn sau câu chuyện. | Thái độ, suy nghĩ của người viết bộc lộ trực tiếp hoặc kín đáo (như câu “triệu bất tường”, chuyện nhà mình). |
Câu 1 (Luyện tập, trang 63): Đoạn văn về tình trạng đất nước thời Lê – Trịnh
Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và bài đọc thêm trong sách, viết đoạn văn ngắn trình bày những điều em nhận thức được về tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII.
Trả lời: (đoạn văn tham khảo) Qua Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, em hình dung được bộ mặt đất nước ta những năm cuối thế kỉ XVIII. Vua Lê chỉ còn hư vị, quyền hành nằm cả trong tay chúa Trịnh, nhưng người nắm quyền ấy lại mải mê xây cung điện, bày cuộc dạo chơi, sai người đi khắp nơi thu gom cây quý, đá lạ về trang trí phủ. Kẻ trên ăn chơi thì kẻ dưới được dịp tác oai tác quái: bọn hoạn quan mượn danh nghĩa dâng chúa để cướp của, vu oan, dọa nạt, đến cả nhà giàu cũng phải tự phá của mình cho khỏi vạ. Người dân thường lại càng khốn khổ, vừa phải gánh phu phen, tốn kém, vừa sống trong lo sợ. Một triều đình xa dân, một bộ máy quan lại sâu mọt như thế khó tránh khỏi suy tàn; dự cảm “triệu bất tường” của Phạm Đình Hổ cũng chính là lời cảnh báo về sự sụp đổ đang đến gần.
Kết luận
Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, em cần nắm hai mảng hiện thực của đoạn trích (thói ăn chơi của chúa, sự nhũng nhiễu của hoạn quan), lối ghi chép khách quan mà vẫn ngầm gửi thái độ, và nét riêng của thể tùy bút so với truyện. Khi làm bài, nên dẫn đúng chi tiết và diễn đạt bằng lời văn của mình.
Xem thêm:
- Chuyện người con gái Nam Xương: Tóm tắt, tác phẩm – tác giả
- Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)
- Tóm tắt Hoàng Lê nhất thống chí ngắn gọn, đầy đủ
- Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Phạm Đình Hổ) – Ngữ văn 9: Tác giả, tác phẩm
- Tóm tắt Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ngắn gọn, đầy đủ – 7 mẫu hay nhất