Soạn bài Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải dưới đây bám theo bài Thực hành đọc hiểu trong Ngữ văn 9 Cánh diều tập một (Bài 1 – Thơ và thơ song thất lục bát, trang 19 – 21). Bài thơ này trước đây cũng là văn bản đọc hiểu của sách Ngữ văn 7 tập một chương trình cũ, nên cuối bài có thêm phần soạn theo câu hỏi trang 68 của sách cũ cho bạn nào cần ôn lại.
Văn bản bài thơ Phò giá về kinh
Bài thơ viết bằng chữ Hán theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt. Khi học, cần đọc cả phần phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ, vì nhiều câu hỏi yêu cầu xét luật, vần, nhịp ở bản phiên âm.

Phiên âm:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
Dịch nghĩa:
Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương,
Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử.
Thái bình rồi nên dốc hết sức lực,
Muôn đời vẫn có non sông này.
Dịch thơ (Trần Trọng Kim):
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Giải thích từ ngữ
- Phò giá: đi theo hộ vệ xe vua. Kinh (kinh sư): kinh đô, ở đây là Thăng Long.
- Chương Dương độ: bến Chương Dương bên sông Hồng (vùng Thường Tín, Hà Nội ngày nay), nơi quân Trần đánh tan thủy quân Nguyên năm 1285.
- Hàm Tử quan: cửa Hàm Tử bên sông Hồng (vùng Khoái Châu, Hưng Yên ngày nay), nơi quân Trần thắng lớn trước khi tiến về giải phóng kinh thành.
- Đoạt sáo: cướp ngọn giáo dài của giặc; chữ 槊 có tài liệu phiên là “sóc”.
- Hồ: từ người xưa dùng để gọi các tộc phương Bắc; trong bài chỉ quân Mông – Nguyên.
Chuẩn bị đọc (trang 19)
Yêu cầu chuẩn bị: đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm về tác giả Trần Quang Khải và bối cảnh bài thơ ra đời.
Tác giả Trần Quang Khải
- Trần Quang Khải (1241 – 1294) là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông, em cùng mẹ với vua Trần Thánh Tông, được phong tước Chiêu Minh Đại vương.
- Ông giữ chức Thượng tướng Thái sư, đứng đầu triều chính dưới ba đời vua Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông; góp công lớn vào thắng lợi năm 1285 trước quân Mông – Nguyên, nổi bật với trận đánh ở bến Chương Dương.
- Không chỉ là võ tướng, ông còn học rộng, giỏi thơ văn, từng có tập thơ Lạc Đạo tập; đến nay chỉ còn lại một số ít bài.
Hoàn cảnh ra đời bài thơ
Năm 1285, sau những trận thắng ở Chương Dương, Hàm Tử và việc giải phóng kinh thành Thăng Long, Trần Quang Khải nhận nhiệm vụ rước Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông hồi kinh, và bài thơ ra đời trên đường phò giá, giữa không khí hân hoan của ngày đại thắng. (Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim kể hơi khác: ông ngâm bài thơ trong buổi khao quân, khi quân Trần đã vào được kinh thành; dù theo cách kể nào, bài thơ vẫn gắn với niềm vui ngày Thăng Long được giải phóng.)
Câu hỏi trong khi đọc Phò giá về kinh (trang 20)
Sách có một câu hỏi theo dõi, nhắc các em dừng lại ở hai dòng thơ đầu khi đọc.
Câu 1: Chú ý các chiến thắng lịch sử và việc sử dụng động từ mạnh (trang 20)
Trả lời:
- Hai chiến thắng được nhắc tên: trận ở bến Chương Dương và trận ở cửa Hàm Tử – hai trận đánh then chốt giúp quân dân nhà Trần giành lại kinh thành năm 1285.
- Động từ mạnh: “đoạt” (cướp) và “cầm” (bắt), trong bản dịch thơ là “cướp”, “bắt”. Hai động từ đặt ngay đầu câu, đi liền với tên địa danh, khiến câu thơ dồn dập như nhịp trống trận.
- Tác dụng: gợi khí thế chủ động tiến công, áp đảo kẻ thù; cho thấy niềm tự hào của người trong cuộc khi kể lại chiến công một cách ngắn gọn, đanh thép.
Trả lời câu hỏi cuối bài Phò giá về kinh (trang 20 – 21)
Phần câu hỏi sau khi đọc gồm 6 câu, đi từ hoàn cảnh ra đời, thể thơ, nội dung đến nhịp điệu và liên hệ.
Câu 1: Từ hoàn cảnh ra đời bài thơ, nêu hiểu biết về hào khí thời Trần (trang 20)
Từ những thông tin về hoàn cảnh ra đời bài thơ Phò giá về kinh, hãy nêu hiểu biết của em về hào khí thời Trần.
Trả lời:
- Bài thơ được viết ngay sau chiến thắng năm 1285, khi quân dân Đại Việt vừa đánh bật đạo quân Mông – Nguyên hùng mạnh ra khỏi kinh thành. Vị tướng làm thơ cũng là người trực tiếp cầm quân, nên niềm vui chiến thắng trong bài rất thật và rất gần.
- “Hào khí Đông A” là cách người sau gọi tinh thần của thời Trần: chữ Trần (陳) gồm chữ Đông (東) và bộ phụ (阝) có dáng giống chữ A. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết đánh, quyết thắng, sự đoàn kết từ vua tôi đến binh lính, trăm họ, đã làm nên ba lần chiến thắng quân Mông – Nguyên.
- Hào khí ấy không chỉ là khí thế xông trận mà còn là tầm nhìn xa: ngay giữa ngày vui chiến thắng, người thời Trần đã nghĩ đến việc gắng sức xây dựng đất nước thái bình, bền vững.
Câu 2: Xác định thể loại qua số dòng, số chữ, niêm, luật, vần (trang 20)
Xác định thể loại của bài thơ qua số dòng, số chữ, niêm, luật và cách hiệp vần ở bản phiên âm.
Trả lời:
Bài thơ thuộc thể ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật:
- Số dòng, số chữ: 4 dòng, mỗi dòng 5 chữ.
- Luật: chữ thứ hai của dòng đầu là “sáo” mang thanh trắc nên bài làm theo luật trắc. Trong từng dòng, chữ thứ hai và chữ thứ tư khác thanh nhau (sáo – Dương, Hồ – Tử, bình – trí, cổ – giang).
- Niêm: dòng 1 niêm với dòng 4 (sáo – cổ cùng thanh trắc), dòng 2 niêm với dòng 3 (Hồ – bình cùng thanh bằng).
- Vần: một vần bằng “an” gieo ở cuối dòng 2 và dòng 4 (quan – san); dòng 1 kết thúc bằng chữ “độ” thanh trắc nên không hiệp vần.
Câu 3: Nội dung, mối quan hệ của hai dòng đầu và hai dòng cuối; chủ đề (trang 21)
Phân tích nội dung và mối quan hệ của hai dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối, từ đó cho biết chủ đề của bài thơ.
Trả lời:
- Hai dòng đầu: ghi lại hai chiến công liền nhau ở Chương Dương và Hàm Tử. Lời thơ như bản tin thắng trận, chỉ có động từ và địa danh, không cần tính từ ca ngợi mà vẫn toát lên niềm tự hào.
- Hai dòng cuối: chuyển từ chiến trận sang nhiệm vụ thời bình. Tác giả nhắn nhủ mọi người hãy dốc sức xây dựng đất nước để non sông bền vững muôn đời.
- Mối quan hệ: hai dòng đầu là tiền đề, hai dòng cuối là hệ quả và bước phát triển. Chiến thắng hôm nay mở ra thái bình; nhưng muốn thái bình lâu dài thì phải tiếp tục “tu trí lực”. Ý thơ đi từ hiện tại hào hùng hướng tới tương lai vững bền.
- Chủ đề: hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình, thịnh trị lâu dài của dân tộc thời Trần.
Câu 4: Cách ngắt nhịp ở bản phiên âm và tác dụng (trang 21)
Tìm hiểu cách ngắt nhịp của bài thơ ở bản phiên âm. Nhịp điệu của các dòng thơ có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung bài thơ?
Trả lời:
- Cách ngắt nhịp: cả bốn dòng đều có thể ngắt theo nhịp 2/3: “Đoạt sáo / Chương Dương độ”, “Cầm Hồ / Hàm Tử quan”, “Thái bình / tu trí lực”, “Vạn cổ / thử giang san”.
- Ở hai dòng đầu: nhịp ngắn, chắc, động từ đứng đầu dòng tạo cảm giác dứt khoát, mạnh mẽ như tiếng reo chiến thắng.
- Ở hai dòng cuối: vẫn nhịp 2/3 nhưng giọng thơ lắng lại thành lời nhắn nhủ, khẳng định; vế sau dài hơn như kéo ý thơ vươn tới “muôn đời”.
- ⇒ Nhịp thơ đều đặn, cân đối góp phần thể hiện giọng điệu hào sảng, tự tin, đúng với không khí của một khúc ca khải hoàn.
Câu 5: So sánh với bài Sông núi nước Nam (trang 21)
So sánh bài thơ trên với bài thơ Sông núi nước Nam để chỉ ra sự tương đồng về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa hai tác phẩm.
Trả lời:
| Phương diện | Điểm tương đồng |
| Nội dung | Cùng ra đời trong kháng chiến chống ngoại xâm, cùng thể hiện lòng yêu nước, ý chí bảo vệ chủ quyền và niềm tin vững chắc vào sự trường tồn của đất nước. |
| Cảm hứng | Giọng thơ hào sảng, tự tin; cảm xúc tự hào dân tộc được nén vào trong ý tưởng chứ không bộc lộ trực tiếp. |
| Thể thơ | Cùng là thơ chữ Hán, thể tứ tuyệt Đường luật (Sông núi nước Nam viết theo thất ngôn, Phò giá về kinh viết theo ngũ ngôn). |
| Ngôn ngữ, cách diễn đạt | Lời thơ ngắn gọn, cô đúc, thiên về biểu ý; không dùng hình ảnh hoa mĩ mà giàu sức nặng khẳng định. |
Điểm khác đáng chú ý: Sông núi nước Nam nghiêng về khẳng định chủ quyền và cảnh cáo kẻ xâm lược, còn Phò giá về kinh vừa ghi lại chiến công vừa hướng tới việc dựng xây đất nước khi chiến tranh đã lùi lại phía sau. Bài soạn Sông núi nước Nam có tại Soạn bài Nam quốc sơn hà.
Câu 6: Ý nghĩa của bài thơ với cuộc sống hôm nay (trang 21)
Nội dung bài thơ có ý nghĩa với cuộc sống hiện nay như thế nào? Vì sao?
Trả lời:
- Nhắc nhớ truyền thống: bài thơ giúp thế hệ hôm nay hiểu và tự hào về những chiến công giữ nước của cha ông.
- Bài học về trách nhiệm thời bình: lời nhắn “tu trí lực” vẫn còn nguyên giá trị. Hòa bình không tự nhiên mà có và cũng không tự nhiên bền vững; mỗi người, nhất là người trẻ, cần học tập, lao động, rèn luyện để góp phần làm đất nước giàu mạnh.
- Vì sao còn ý nghĩa: bởi khát vọng một đất nước thái bình, trường tồn là mong ước chung của mọi thời đại; điều thay đổi chỉ là cách mỗi thế hệ góp sức cho mong ước ấy.
Soạn bài Phò giá về kinh theo SGK Ngữ văn 7 chương trình cũ (trang 68)
Sách Ngữ văn 7 tập một cũ học bài thơ cùng với Sông núi nước Nam ở Bài 5. Phần Đọc – hiểu văn bản có 3 câu và 1 câu luyện tập.
Câu 1: Nhận dạng thể thơ của bài Tụng giá hoàn kinh sư (trang 68)
Căn cứ vào lời giới thiệu sơ lược về thể ngũ ngôn tứ tuyệt ở phần chú thích, hãy nhận dạng thể thơ của bài về số câu, số chữ, cách hiệp vần.
Trả lời: Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt: có 4 câu, mỗi câu 5 chữ; vần được gieo ở chữ cuối câu 2 và câu 4 (quan – san), đều là vần bằng.
Câu 2: Nội dung hai câu đầu, hai câu sau; cách biểu ý và biểu cảm (trang 68)
Nội dung hai câu đầu và hai câu sau của bài thơ khác nhau ở chỗ nào? Hãy nhận xét về cách biểu ý và biểu cảm của bài thơ.
Trả lời:
- Hai câu đầu nói về quá khứ vừa qua: hào khí chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử. Hai câu sau nói về hiện tại và tương lai: lời khích lệ mọi người dựng xây đất nước thời bình và niềm tin non sông sẽ bền vững muôn đời.
- Cách biểu ý: ý tưởng được nói thẳng, rõ ràng, súc tích, không cầu kì, không dùng hình ảnh trau chuốt.
- Cách biểu cảm: cảm xúc tự hào, phấn chấn không được gọi tên mà nén vào bên trong ý thơ; người đọc cảm nhận được qua giọng thơ dứt khoát và những động từ mạnh.
Câu 3: Điểm giống nhau về biểu ý, biểu cảm với Sông núi nước Nam (trang 68)
Cách biểu ý và biểu cảm của bài Phò giá về kinh và bài Sông núi nước Nam có gì giống nhau?
Trả lời: Cả hai bài đều thiên về nói ý: ý tưởng được trình bày trực tiếp, mạch lạc như một lời khẳng định; còn cảm xúc thì kín đáo, hòa vào ý tưởng. Nhờ vậy, mỗi bài thơ tuy rất ngắn mà vẫn có sức nặng, vang lên như tiếng nói chung của cả dân tộc.
Câu 4 (Luyện tập): Tác dụng của cách nói giản dị, cô đúc (trang 68)
Nêu tác dụng của cách nói giản dị, cô đúc trong bài thơ đối với việc thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình của dân tộc thời Trần.
Trả lời: Chỉ với hai mươi chữ, bài thơ gói được cả một chặng lịch sử: hai trận thắng lớn, ngày giải phóng kinh thành và tầm nhìn về tương lai đất nước. Cách nói giản dị khiến chiến công hiện lên như một sự thật hiển nhiên, không cần tô vẽ; cách nói cô đúc làm cho lời nhắn “thái bình nên gắng sức” trở nên chắc nịch như một mệnh lệnh của thời đại. Chính sự giản dị ấy làm nổi bật khí phách tự tin của người thời Trần và khiến bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ qua nhiều thế hệ.
Kết luận
Soạn bài Phò giá về kinh, các em cần nắm được ba điều: hoàn cảnh ra đời năm 1285 gắn với hai trận Chương Dương, Hàm Tử; đặc điểm thể ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật ở bản phiên âm; và mạch ý đi từ hào khí chiến thắng đến khát vọng thái bình muôn đời. Đây cũng là những ý chính khi viết đoạn văn hay bài văn phân tích.
Xem thêm:
- Mở bài Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà) hay nhất
- Soạn bài Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
- Phò giá về kinh (Trần Quang Khải) – Ngữ văn 9: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Phân tích bài thơ Phò giá về kinh (Trần Quang Khải) – Dàn ý + 6 bài văn mẫu