Văn học dân gian là các sáng tác bằng lời do nhân dân cùng làm ra, lưu truyền bằng miệng qua nhiều thế hệ và gắn với sinh hoạt của cộng đồng: lời ru, câu hò, truyện kể bên bếp lửa, câu đố trong phiên chợ. Tên gọi khác của nó là văn học truyền miệng, đứng đối diện với văn học viết có tác giả và văn bản cố định.
| Khái niệm | Sáng tác ngôn từ của tập thể nhân dân, truyền miệng, phục vụ sinh hoạt cộng đồng |
| Tên gọi khác | Văn học truyền miệng, văn chương bình dân; tiếng Anh: folk literature, oral literature |
| Thuộc | Một trong hai bộ phận lớn của văn học Việt Nam (cùng văn học viết) |
| Dấu hiệu nhận biết | Không rõ tác giả, nhiều dị bản, lời lẽ dễ nhớ, gắn với lao động, lễ hội, phong tục |
| Học ở | Ngữ văn 6–7 (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, tục ngữ), Ngữ văn 10 (sử thi, thần thoại) |

Văn học dân gian được định nghĩa thế nào?
Sách Ngữ văn lớp 10 chương trình cũ, ở bài khái quát về văn học dân gian nước ta, nêu định nghĩa gồm ba ý: đó là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, được truyền miệng, do tập thể sáng tạo, và nhằm phục vụ trực tiếp các sinh hoạt khác nhau của cộng đồng. Ba ý ấy cũng là ba câu hỏi để kiểm tra một văn bản có thuộc văn học dân gian hay không.
Wikipedia tiếng Việt thừa nhận giới nghiên cứu chưa có một định nghĩa duy nhất, nhưng điểm chung phổ biến nhất là sự truyền miệng: tác phẩm sống bằng lời nói trước khi được ai đó chép lại. Những truyện như Tấm Cám hay Thánh Gióng mà học sinh đọc trong sách hôm nay chính là các bản do nhà sưu tầm ghi chép từ lời kể.
Chữ “dân gian” ở đây không có nghĩa là “kém trau chuốt”. Nó chỉ nguồn gốc: từ trong nhân dân mà ra. Nhiều câu ca dao gọt giũa đến mức nhà thơ có tên tuổi cũng phải học theo. Muốn đặt khái niệm này vào bức tranh lớn hơn của văn chương, có thể đọc bài văn học là gì và các bộ phận của văn học.
Bốn đặc trưng để nhận ra một tác phẩm dân gian
- Tính truyền miệng. Tác phẩm được ghi nhớ theo kiểu thuộc lòng và truyền đi bằng lời nói, lời hát, qua những lần kể chuyện, hát đối, diễn chèo. Không có bản gốc viết tay nào để tra lại.
- Tính tập thể. Có thể một người nghĩ ra trước, nhưng khi người khác kể lại, hát lại, họ thêm bớt cho hợp với vùng mình, thời mình. Dần dần tác phẩm thành của chung, không còn ai đứng tên.
- Tính thực hành, gắn với sinh hoạt. Câu hò để kéo thuyền, bài vè để kể chuyện làng, lời ru để dỗ con ngủ, câu tục ngữ để nhắc việc mùa màng. Tác phẩm sinh ra để dùng ngay trong đời sống.
- Tính dị bản. Hệ quả của ba điều trên: cùng một bài, một truyện có thể có nhiều bản khác nhau ở vài chữ, vài tình tiết, mà bản nào cũng được coi là đúng.
Trong các đặc trưng của văn học dân gian, hai đặc trưng đầu là gốc rễ, vì truyền miệng và sáng tác tập thể chi phối gần như mọi thứ còn lại. Ba đặc trưng đầu là cách trình bày trong sách giáo khoa cũ; nhiều tài liệu ôn thi bổ sung thêm tính dị bản.
Mười hai thể loại xếp theo bốn nhóm
Sách Ngữ văn 10 cũ kể ra mười hai thể loại. Xếp chúng theo cách thể hiện sẽ dễ nhớ hơn:
| Nhóm | Thể loại | Ví dụ quen thuộc |
|---|---|---|
| Truyện kể văn xuôi | Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười | Thần Trụ Trời, Thánh Gióng, Tấm Cám, Ếch ngồi đáy giếng, Treo biển |
| Truyện kể bằng văn vần | Sử thi, truyện thơ | Đăm Săn (Ê-đê), Tiễn dặn người yêu (Thái) |
| Câu nói, câu hát ngắn | Tục ngữ, câu đố, ca dao, vè | “Tấc đất tấc vàng”, vè kể chuyện làng |
| Sân khấu dân gian | Chèo | Quan Âm Thị Kính |
Mỗi thể loại có cách nhận biết riêng. Ranh giới giữa truyện kể lịch sử và truyện cổ tích chẳng hạn, được giải thích ở bài truyền thuyết khác cổ tích ra sao; còn những câu hát trữ tình thì xem ở bài đặc điểm và các nhóm ca dao.
Văn học dân gian khác văn học viết ở chỗ nào
| Tiêu chí | Văn học dân gian | Văn học viết |
|---|---|---|
| Người sáng tác | Tập thể, không rõ tên | Cá nhân có tên tuổi (Nguyễn Du, Nam Cao…) |
| Phương thức lưu truyền | Lời nói, lời hát, trình diễn | Chữ viết, sách in |
| Văn bản | Nhiều dị bản, không cố định | Một văn bản được tác giả xác định |
| Phong cách | Chung của cộng đồng, nhiều công thức lặp lại | Đậm dấu ấn riêng của người viết |
| Thời điểm ra đời | Có từ khi chưa có chữ viết và vẫn tiếp tục | Từ khi có chữ (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) |
Hai bộ phận này không tách rời. Truyện Kiều mượn nhiều thành ngữ, ca dao; ngược lại, không ít câu thơ của văn học viết đã đi vào dân gian đến mức người ta quên tên tác giả.
Đọc ba ví dụ để thấy đặc trưng hiện ra thế nào?
Một câu ca dao, hai cách hát
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Ở nhiều nơi, người ta lại hát vế đầu là “Công cha như núi ngất trời” và vế sau nối tiếp với hình ảnh biển Đông. Không bản nào sai cả. Đó chính là tính dị bản: câu hát đi qua mỗi vùng thì được người hát chỉnh lại theo cách nói quen miệng, nhưng ý ơn cha nghĩa mẹ vẫn giữ nguyên.
Thánh Gióng và dấu vết ở làng quê
Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là một câu chuyện. Nó gắn với hội Gióng, với những tên đất như làng Cháy hay những ao hồ được kể là vết chân ngựa sắt. Đây là tính thực hành rõ nhất: truyện sống cùng lễ hội, cùng lời giải thích của người dân về chính quê mình. Câu hỏi đọc hiểu của văn bản có ở bài hướng dẫn soạn truyền thuyết Thánh Gióng.
Tấm Cám qua nhiều lần kể
Cô Tấm hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi quả thị. Các bản kể khác nhau ở chi tiết, ở đoạn kết, nhưng khung truyện người em hiền bị hãm hại rồi được đền bù vẫn giữ. Ai kể lại cũng được thêm chút giọng của mình; đó là tính tập thể và tính truyền miệng cùng làm việc.
Luyện tập nhận diện văn học dân gian
Câu 1: Văn học dân gian có những đặc trưng cơ bản nào? Đặc trưng nào chi phối các đặc trưng còn lại?
Đáp án: Các đặc trưng cơ bản gồm tính truyền miệng, tính tập thể, tính thực hành (gắn với sinh hoạt cộng đồng); nhiều tài liệu thêm tính dị bản. Tính truyền miệng và tính tập thể là gốc, vì chính việc truyền bằng lời và để nhiều người cùng sửa đã tạo ra dị bản và khiến tác phẩm không có tác giả riêng.
Câu 2: Xếp các tác phẩm sau vào đúng thể loại: Sơn Tinh, Thủy Tinh; Thầy bói xem voi; Sọ Dừa; Đăm Săn; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Đáp án: Sơn Tinh, Thủy Tinh là truyền thuyết; Thầy bói xem voi là truyện ngụ ngôn; Sọ Dừa là truyện cổ tích; Đăm Săn là sử thi; “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là tục ngữ.
Câu 3: Vì sao “Truyện Kiều” không thuộc văn học dân gian dù có nhiều thành ngữ, ca dao?
Đáp án: Vì Truyện Kiều có tác giả cụ thể là Nguyễn Du, được sáng tác và lưu truyền bằng chữ Nôm, có văn bản do tác giả định hình. Việc mượn chất liệu dân gian không biến tác phẩm thành sáng tác tập thể.
Câu 4: Nêu một ví dụ cho thấy văn học dân gian phục vụ trực tiếp đời sống lao động.
Đáp án tham khảo: Các câu tục ngữ về thời tiết như “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” giúp người nông dân đoán trời để sắp xếp việc đồng áng. Những câu hò khi chèo thuyền, giã gạo cũng giữ nhịp cho người làm việc chung.
Học sinh hay hỏi gì về văn học dân gian
Văn học dân gian gồm những thể loại nào?
Theo sách Ngữ văn 10 cũ có mười hai thể loại: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ và chèo. Có thể gom thành bốn nhóm: truyện kể, truyện bằng văn vần, câu nói câu hát ngắn và sân khấu.
Văn học dân gian còn gọi là gì?
Còn gọi là văn học truyền miệng hoặc văn chương bình dân. Tiếng Anh dùng folk literature hoặc oral literature.
Văn học dân gian có tác giả không?
Có người nghĩ ra đầu tiên, nhưng tên họ không được ghi lại và tác phẩm đã được bao lớp người sửa chữa. Vì vậy ta nói tác giả là tập thể nhân dân.
Văn học dân gian Việt Nam có giá trị gì?
Nó là kho tri thức về thiên nhiên, lao động, phong tục; là bài học đạo lí về lòng nhân ái, sự công bằng; và là nguồn chất liệu nghệ thuật mà văn học viết học theo suốt nhiều thế kỉ. Những đúc kết kinh nghiệm ngắn gọn nhất được bàn riêng ở bài ba nhóm tục ngữ và cách hiểu.