Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn dưới đây gồm hai phần: lời giải 10 câu hỏi Tự đánh giá của Bài 2 sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập một, trang 51 – 52) và hướng dẫn trả lời 4 câu hỏi đọc hiểu cùng phần Luyện tập trong SGK Ngữ văn 9 tập một chương trình cũ (trang 121). Đoạn trích kể việc Trịnh Hâm đẩy Lục Vân Tiên xuống sông và ông Ngư cứu chàng, rất hay được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu cho học sinh lớp 9.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn
Nắm chắc tác giả, vị trí và bố cục đoạn trích trước khi làm bài sẽ giúp em trả lời nhanh và trúng ý hơn.

Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), thường được gọi là Đồ Chiểu, sinh ở làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (quê mẹ); quê nội ở Thừa Thiên – Huế. Đỗ tú tài khi còn trẻ, đang chuẩn bị thi tiếp ở Huế thì ông nhận tin mẹ mất, trở về chịu tang, lâm bệnh rồi bị mù. Không gục ngã, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và làm thơ. Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, ông dùng ngòi bút để khích lệ tinh thần kháng chiến và trọn đời không hợp tác với giặc. Tìm hiểu đầy đủ hơn ở bài tác giả Nguyễn Đình Chiểu.
Vị trí đoạn trích và thể loại
- Tác phẩm: Truyện Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dài hơn 2.000 câu (số câu khác nhau tùy bản), ra đời khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, khi tác giả đã bị mù và dạy học ở Gia Định.
- Vị trí: đây là một đoạn ở nửa sau của truyện. Trên đường về quê chịu tang mẹ, Vân Tiên bị mù, tiền bạc cạn dần; Trịnh Hâm vờ nhận đưa chàng về nhưng đã lừa trói tiểu đồng trong rừng, rồi giữa đêm đẩy Vân Tiên xuống sông.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm; lời kể mộc mạc, đậm sắc thái Nam Bộ.
Bố cục đoạn trích
- Phần 1 (tám câu đầu): Trịnh Hâm gây tội ác – đẩy bạn xuống sông giữa đêm.
- Phần 2 (10 câu tiếp theo): giao long đưa chàng vào bãi, cả nhà ông chài vớt lên, sưởi ấm và cứu sống.
- Phần 3 (phần cuối): Vân Tiên và ông Ngư trò chuyện; ông Ngư bày tỏ quan niệm sống trong sạch, làm ơn không cần trả.
Một số tài liệu gộp phần 2 và phần 3 làm một (ông Ngư cứu người và quan niệm sống của ông), cách chia nào cũng chấp nhận được nếu em nêu rõ ranh giới.
Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn – Ngữ văn 9 Cánh diều (Tự đánh giá)
Ở sách Cánh diều, Lục Vân Tiên gặp nạn là văn bản dùng cho phần Tự đánh giá cuối Bài 2 (Truyện thơ Nôm). Năm câu đầu là trắc nghiệm, năm câu sau yêu cầu trả lời ngắn hoặc viết đoạn.
Câu 1: Sự việc giống với truyện kể dân gian (trang 51)
Sự việc nào trong văn bản Lục Vân Tiên gặp nạn giống với truyện kể dân gian? A. Hiệp sĩ cứu người gặp nạn và được trả ơn. B. Người nhân đức bị hại nhưng được cứu giúp. C. Ông tiên, ông bụt hiện lên cứu người gặp nạn. D. Người nghèo khổ, hiền lành được đền bù xứng đáng.
Trả lời: Chọn B. Vân Tiên là người trọng nghĩa, bị kẻ ganh ghét hãm hại, rồi được giao long nâng đỡ và cả nhà ông chài cứu sống. Mô típ người tốt gặp nạn được cứu giúp rất quen thuộc trong truyện cổ tích. Phương án A không đúng vì ông Ngư cứu người mà không nhận trả ơn; trong đoạn trích cũng không có ông tiên, ông bụt.
Câu 2: Đặc điểm truyện thơ Nôm qua đoạn trích (trang 51)
Phương án nào nêu đúng đặc điểm truyện thơ Nôm thể hiện qua đoạn trích trên? A. Không có chi tiết, sự việc và cốt truyện. B. Nhân vật không chia thành hai tuyến đối lập. C. Sử dụng thể thơ lục bát và chữ Nôm. D. Sử dụng thể thơ lục bát và chữ Hán.
Trả lời: Chọn C. Đoạn trích viết bằng thể lục bát, nguyên tác ghi bằng chữ Nôm; truyện có cốt truyện rõ và nhân vật chia hai tuyến thiện (ông Ngư) – ác (Trịnh Hâm), nên A, B sai; D sai về chữ viết.
Câu 3: Nhận định đúng về cuộc sống của ông Ngư (trang 51)
Nhận định nào dưới đây phù hợp với cuộc sống của ông Ngư được miêu tả trong đoạn trích trên? A. Cuộc sống ngoài cõi thực, đầy thơ mộng. B. Cuộc sống nghèo khổ, nhiều gian khó. C. Cuộc sống trong sạch, ngoài vòng danh lợi. D. Cuộc sống phóng khoáng nhưng buồn sầu.
Trả lời: Chọn C. Ông Ngư tự nói “Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”, sống tự do giữa sông nước, khỏe thì kéo chài, mệt thì thả câu; cuộc sống ấy giản dị, vui vẻ chứ không buồn sầu hay xa rời thực tế.
Câu 4: Đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ (trang 51)
Đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ trong đoạn trích trên là gì? A. Sử dụng nhiều từ ngữ địa phương làm cho đoạn văn mang đậm sắc thái Nam Bộ. B. Sử dụng hiệu quả nhiều điển cố, điển tích. C. Dùng nhiều từ Hán Việt. D. Dùng nhiều từ láy mới mẻ, sinh động.
Trả lời: Chọn A. Đoạn trích dùng nhiều từ ngữ Nam Bộ: “chơn tay”, “đặng”, “nầy”, “nhơn nghĩa”, “rày”, “phui pha”, “hối con vầy lửa”, “hẩm hút”… Lời thơ vì thế mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói của người dân miền Nam.
Câu 5: Nhận định không đúng về nghệ thuật kể chuyện (trang 52)
Nhận định nào dưới đây nêu không đúng về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích? A. Sử dụng ngôn ngữ bình dị, dân dã. B. Sắp xếp các tình tiết hợp lí, hấp dẫn. C. Tạo diễn biến sự việc nhanh, gọn. D. Chú ý khắc hoạ nội tâm nhân vật.
Trả lời: Chọn D. Nguyễn Đình Chiểu kể theo lối truyện dân gian: nhân vật bộc lộ chủ yếu qua hành động, lời nói; tác giả hầu như không đi sâu vào diễn biến tâm lí. Ba nhận định còn lại đều đúng.
Câu 6: Bối cảnh của câu chuyện trong đoạn trích (trang 52)
Tìm hiểu và nêu bối cảnh của câu chuyện trong đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn.
Trả lời:
- Trước đoạn trích: Vân Tiên lên kinh dự thi thì nghe tin mẹ mất, vội về chịu tang; dọc đường chàng khóc thương mẹ đến mù cả hai mắt. Tiền bạc cạn, chàng chỉ còn tiểu đồng theo hầu. Gặp Trịnh Hâm – kẻ vốn ganh ghét tài năng của chàng – Vân Tiên nhờ hắn đưa về quê. Trịnh Hâm lừa tiểu đồng vào rừng, trói vào gốc cây rồi đưa Vân Tiên xuống thuyền.
- Thời gian, không gian xảy ra việc ác: đêm khuya, mọi người trên thuyền đã ngủ, mặt sông mịt mù sương; một người mù không thể kêu cứu hay chống đỡ.
- Sau tai nạn: trời vừa sáng, gia đình ông chài thấy chàng dạt vào bãi và cứu sống. Đó là bối cảnh để cái thiện xuất hiện đối lập với cái ác.
Câu 7: Trịnh Hâm là người như thế nào? (trang 52)
Trịnh Hâm trong đoạn trích là người như thế nào?
Trả lời: Trịnh Hâm là kẻ tàn nhẫn, vô ơn, phản bạn và xảo quyệt.
- Bất nhân: hắn hại một người đang mù lòa, bơ vơ, không còn gì đe dọa đến đường công danh của hắn.
- Bất nghĩa: Vân Tiên là bạn từng cùng hắn đi thi, đã tin cậy giao phó tính mạng cho hắn.
- Xảo quyệt: hắn chọn lúc “Đêm khuya lặng lẽ như tờ” mới ra tay, xô Vân Tiên “xuống vời”, rồi lại “giả tiếng kêu trời”, bịa chuyện để mọi người tưởng là tai nạn. Chỉ tám câu thơ mà lột trần một tâm địa nham hiểm đến tận cùng.
Câu 8: Hành động và nhân cách của vợ chồng ông Ngư (trang 52)
Nhận xét về hành động và nhân cách của vợ chồng ông Ngư trong đoạn trích.
Trả lời:
- Hành động cứu người: thấy người dạt vào bãi, ông chài “vớt ngay lên bờ”; cả nhà cùng xúm vào: con nhóm lửa, “Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”. Các việc làm diễn ra liên tiếp, gấp gáp, cho thấy lòng thương người tự nhiên, không chút tính toán.
- Tấm lòng cưu mang: nghe Vân Tiên kể cảnh ngộ, ông Ngư mời chàng ở lại, chia sẻ cuộc sống “hẩm hút” đạm bạc.
- Quan niệm sống cao đẹp: ông khẳng định làm việc nghĩa không mong đền đáp: “Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?”. Ông chọn cuộc sống lao động tự do, trong sạch, coi nhẹ danh lợi.
Vợ chồng ông Ngư là những người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đối lập hoàn toàn với Trịnh Hâm – kẻ có học mà độc ác.
Câu 9: Thái độ của tác giả với người lao động (trang 52)
Qua đoạn trích, có thể thấy được thái độ, tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu với người dân lao động như thế nào?
Trả lời: Nguyễn Đình Chiểu dành cho người lao động sự trân trọng và niềm tin sâu sắc. Trong truyện, cái ác thường nấp sau những kẻ có học, có địa vị (Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Công…), còn lòng tốt lại tỏa sáng ở những người bình dị như ông Ngư, ông Tiều, tiểu đồng. Qua ông Ngư, tác giả gửi gắm lí tưởng sống nhân nghĩa và khát vọng về một cuộc đời trong sạch, tự do; đồng thời bày tỏ niềm tin rằng người tốt gặp nạn sẽ được cứu giúp, cái thiện rồi sẽ thắng cái ác.
Câu 10: Phân tích một hoặc hai câu thơ em thích nhất (trang 52)
Hãy chọn và phân tích một hoặc hai câu thơ mà em thích nhất trong đoạn trích.
Trả lời: (đoạn văn tham khảo)
Em thích nhất hai câu thơ ông Ngư đáp lời Vân Tiên:
Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?
Vân Tiên lo mình mù lòa, chẳng có gì đền ơn cứu mạng, còn ông lão chài thì gạt đi bằng một câu hỏi tu từ nhẹ nhàng mà dứt khoát. Chữ “dốc lòng” cho thấy việc nghĩa là điều ông làm bằng cả tấm lòng, còn “há chờ” khẳng định ông chưa từng nghĩ đến chuyện được báo đáp. Giọng thơ mộc mạc, đúng lời một người dân chài, nhưng chứa cả một quan niệm sống: thấy người hoạn nạn thì cứu, không tính thiệt hơn. Đặt bên hành động lạnh lùng xô bạn xuống sông của Trịnh Hâm, hai câu thơ càng làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của người lao động mà Nguyễn Đình Chiểu hết lòng ngợi ca.
Soạn bài Lục Vân Tiên gặp nạn theo SGK Ngữ văn 9 cũ
Trong sách Ngữ văn 9 tập một chương trình cũ (Bài 9), văn bản in từ trang 118, phần Đọc – hiểu văn bản có 4 câu hỏi và một bài Luyện tập ở trang 121.
Câu 1: Chủ đề của đoạn trích (trang 121)
Chủ đề của đoạn trích.
Trả lời: Đoạn trích thể hiện sự đối lập giữa cái thiện và cái ác: một bên là tội ác của Trịnh Hâm xuất phát từ lòng đố kị; một bên là lòng tốt và lối sống thanh cao của ông Ngư. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm tin vào cái thiện và lòng quý trọng những người lao động bình thường.
Câu 2: Tâm địa độc ác của Trịnh Hâm và nghệ thuật đoạn thơ tự sự (trang 121)
Hãy phân tích tâm địa độc ác của Trịnh Hâm qua hành động hãm hại bạn mình là Lục Vân Tiên. Em có nhận xét gì về giá trị nghệ thuật của đoạn thơ tự sự này?
Trả lời:
a. Tâm địa của Trịnh Hâm
- Động cơ: lòng ganh ghét tài năng. Dù Vân Tiên đã mù và không còn đi thi được, hắn vẫn muốn trừ khử, chứng tỏ thói đố kị đã thành bản chất.
- Tính toán kĩ: trước đó hắn đã lừa trói tiểu đồng để Vân Tiên không còn ai bên cạnh; hắn đợi đêm khuya, sương mù, người trên thuyền ngủ say mới ra tay.
- Giả dối: làm xong việc ác, hắn “giả tiếng kêu trời”, đánh thức mọi người để tạo cảnh bạn mình chẳng may rơi xuống nước. Kẻ vừa giết người lại đóng vai người đau xót, sự gian ngoan ấy khiến người đọc ghê sợ.
b. Giá trị nghệ thuật
- Chỉ tám câu thơ mà kể đủ thời gian, không gian, hành động và mánh khóe che giấu; tình tiết sắp xếp hợp lí, diễn biến nhanh gọn.
- Lời thơ mộc mạc, giản dị; các động từ mạnh (“ra tay”, “xô ngay”) làm nổi bật sự tàn nhẫn, dứt khoát của hành động.
- Câu thơ “Trong thuyền ai nấy kêu la, Đều thương họ Lục xót xa tấm lòng” tạo sự tương phản: người dưng còn thương Vân Tiên, còn kẻ được nhờ cậy thì giết bạn.
Câu 3: Cái thiện đối lập với cái ác và tình cảm của tác giả (trang 121)
Đối lập với cái ác, cái thiện được biểu hiện như thế nào qua đoạn trích? Đoạn thơ nói lên thái độ, tình cảm của tác giả đối với nhân dân lao động như thế nào?
Trả lời:
- Cái thiện thể hiện qua việc cứu người: giao long dìu Vân Tiên vào bãi; gia đình ông chài vớt chàng lên, hơ lửa sưởi ấm, ai cũng có việc. Cách kể dồn dập cho thấy sự hối hả, tận tình.
- Qua lòng cưu mang: ông Ngư mời Vân Tiên ở lại sống cùng gia đình dù nhà nghèo, chỉ “hẩm hút” qua ngày.
- Qua lối sống: ông Ngư sống giữa sông nước, tự do, trong sạch, xa lánh vòng danh lợi, tìm niềm vui trong lao động.
- Thái độ của tác giả: Nguyễn Đình Chiểu tin rằng phẩm chất tốt đẹp còn bền vững ở những người nghèo khổ mà trọng nghĩa. Ông gửi vào nhân vật ông Ngư khát vọng sống thanh cao của chính mình và niềm tin cái thiện sẽ chiến thắng.
Câu 4: Câu thơ hay nhất và cảm nhận về ngôn ngữ, cảm xúc (trang 121)
Hãy chọn câu mà em cho là hay nhất trong đoạn thơ rồi trình bày những cảm nhận của em về cảm xúc tác giả và ngôn ngữ miêu tả, biểu cảm trong những câu thơ ấy.
Trả lời: Em chọn những câu ông Ngư nói về cuộc sống của mình:
Rày doi mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng.
Một mình thong thả làm ăn,
Khoẻ quơ chài kéo; mệt quăng câu dầm.
Các cặp từ chỉ thời gian (“rày – mai”, “ngày – đêm”) và địa điểm (“doi – vịnh”) nối nhau, gợi một cuộc sống tự do, không bị ràng buộc, đi đâu cũng là nhà. Những hoạt động “hứng gió”, “chơi trăng” vốn thuộc về thú vui của người nhàn, nay gắn với người lao động bình thường, khiến cuộc sống chài lưới trở nên thơ mộng. Câu thơ “Khoẻ quơ chài kéo; mệt quăng câu dầm” dùng phép đối, nhịp nhàng như chính nhịp làm việc thong thả của ông. Ngôn ngữ dân dã, nhiều từ chỉ trạng thái vui sống (“vui vầy”, “thong thả”, “nghêu ngao”, “thung dung”, “vui say”) cho thấy nhà thơ như hóa thân vào ông lão chài để giãi bày ước mơ về một cuộc đời trong sạch, an nhiên.
Câu 5 (Luyện tập): Những nhân vật cùng loại với ông Ngư (trang 121)
Trong Truyện Lục Vân Tiên còn có những nhân vật nào có thể xếp vào cùng một loại với ông Ngư ở đoạn trích này? Họ có những đặc điểm chung gì? Tác giả muốn gửi gắm ý tưởng nào thông qua các nhân vật đó?
Trả lời:
- Nhân vật cùng loại: ông Tiều (cứu Vân Tiên khỏi hang Thương Tòng), tiểu đồng (một lòng trung nghĩa), Hớn Minh (người bạn nghĩa hiệp), bà lão dệt vải trong rừng cưu mang Nguyệt Nga; ngoài ra còn các lực lượng siêu nhiên như giao long, Du thần, ông tiên giúp người ngay.
- Đặc điểm chung: phần lớn là người bình thường, nghèo khó nhưng có tấm lòng nhân hậu, sẵn sàng cứu người gặp nạn mà không cần đền đáp.
- Ý tưởng gửi gắm: niềm tin vào đạo lí “ở hiền gặp lành”, vào lòng tốt của nhân dân; khẳng định chính nghĩa sẽ thắng gian tà.
Kết luận
Khi soạn Lục Vân Tiên gặp nạn, em cần nắm sự đối lập giữa Trịnh Hâm và ông Ngư, nghệ thuật kể chuyện nhanh gọn theo lối dân gian, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ và tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu đối với người lao động. Học tiếp đoạn trích cùng tác phẩm ở bài Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.
Xem thêm:
- Tóm tắt Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ngắn gọn, đầy đủ
- Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Dàn ý và bài văn mẫu
- Những bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu
- Lục Vân Tiên gặp nạn (Nguyễn Đình Chiểu) – Ngữ văn 9: Tác giả, tác phẩm, bố cục
- Tóm tắt Lục Vân Tiên gặp nạn (Nguyễn Đình Chiểu) ngắn gọn, đầy đủ – 6 mẫu hay nhất