Đương đại là thuộc về thời đại hiện nay, thời mà người nói đang sống. Ghép với một danh từ, nó chỉ những gì đang diễn ra hoặc vừa ra đời gần đây: văn học đương đại, nghệ thuật đương đại, xã hội đương đại. Trong giờ Ngữ văn, câu hỏi “văn học đương đại là gì” thường dẫn tới văn học Việt Nam từ sau năm 1975, nhất là từ thời Đổi mới.
| Khái niệm | Thuộc về thời nay; cùng thời với chúng ta |
| Gốc từ | Hán Việt 當代: đương (đang, đang lúc) + đại (đời, thời kỳ) |
| Loại từ | Tính từ, thường đứng sau danh từ: văn học đương đại, đời sống đương đại |
| Tiếng Anh | Contemporary |
| Dấu hiệu nhận biết | Nói về thời đang sống, không phải một giai đoạn đã khép lại |

Đương đại là thời nào?
Câu trả lời ngắn: là thời của chính người đang nói. Mục từ trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi đương đại là tính từ, nghĩa “thuộc về thời đại hiện nay”, lấy ví dụ nền văn học đương đại. Wiktionary tiếng Việt cũng giảng gần như vậy và dịch sang tiếng Anh là contemporary.
Chiết tự giúp thấy rõ hơn. Chữ đương (當) có nghĩa là đang, đang lúc, như trong đương thời, đương nhiệm. Chữ đại (代) là đời, thời kỳ, như trong thời đại, thế hệ, cổ đại. Thiều Chửu giảng 當代 là “đương đời bấy giờ”, tức đời đang diễn ra lúc ấy.
Chính vì thế đương đại là một khái niệm trôi theo thời gian. Ba trăm năm trước, người ta cũng dùng chữ 當代 để nói về đời của họ. Cái đương đại hôm nay rồi sẽ thành lịch sử. Khi gặp chữ này trong sách, nên tự hỏi: tác giả đang đứng ở năm nào để gọi là “đương đại”?
Đương đại, hiện đại, đương thời và cận đại
Bốn từ này đều dính đến thời gian, nhưng điểm mốc khác nhau. Từ điển có xếp hiện đại là từ đồng nghĩa với đương đại; trong đời thường hai từ thay được cho nhau khá nhiều. Riêng trong văn học sử thì nên phân biệt.
| Từ | Mốc để tính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đương đại | Thời người nói đang sống, giai đoạn còn đang tiếp diễn | Nhà văn đương đại, tranh đương đại |
| Hiện đại | Thời đã đổi mới so với kiểu cũ, truyền thống; trong văn học sử Việt Nam thường tính từ đầu thế kỉ XX | Thơ hiện đại, văn xuôi hiện đại |
| Đương thời | Cùng thời với nhân vật hay sự việc đang được nói đến, kể cả trong quá khứ | Người đương thời gọi ông là “ông Nghè” |
| Cận đại | Thời gần với hiện đại nhưng đứng trước nó; hay dùng trong sử học | Lịch sử cận đại |
Một cách nhớ: hiện đại đối lập với cổ điển, truyền thống; đương đại đối lập với quá khứ. Một tòa nhà xây năm 1930 có thể mang phong cách hiện đại, nhưng không còn là kiến trúc đương đại.
Nhận ra một tác phẩm văn học đương đại
Không có một ngày cụ thể đánh dấu văn học Việt Nam “bước sang” đương đại, và các nhà nghiên cứu phân kỳ không giống nhau. Tuy vậy, hai mốc được nhắc nhiều nhất là năm 1975, khi chiến tranh kết thúc và văn học bắt đầu được viết trong thời bình, và năm 1986 với công cuộc Đổi mới, mở rộng đề tài, cách viết và cách nghĩ của người cầm bút. Khi gặp một truyện ngắn, tiểu thuyết sau mốc ấy, có thể nhìn vào mấy dấu hiệu:
- Con người cá nhân lên tiếng. Nhân vật thôi làm người đại diện cho cả tập thể; nỗi riêng, mặc cảm, sự cô đơn được kể kĩ.
- Nhìn lại chiến tranh và lịch sử từ phía mất mát, chấn thương, bên cạnh phía chiến công.
- Đời thường đi vào trang sách: bữa cơm, chuyện nhà, chợ búa, phố phường, mâu thuẫn thế hệ.
- Cách kể đổi mới: kể không theo trình tự thời gian, nhiều điểm nhìn, dòng ý thức, kết thúc để ngỏ.
- Giọng văn đa thanh: khen chê không rạch ròi, người đọc phải tự nghĩ.
Không phải tác phẩm nào viết sau 1975 cũng có đủ các dấu hiệu này. Chúng là xu hướng, không phải luật.
Ba tác phẩm đương đại học sinh THPT hay gặp
Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu). Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi tìm một tấm ảnh đẹp, rồi phát hiện sau khung cảnh thơ mộng là cảnh người chồng đánh vợ. Truyện cho thấy cái nhìn đương đại ở chỗ không tô hồng: nghệ thuật phải nhìn thẳng vào đời sống nhiều mặt, cái đẹp và nỗi khổ có thể nằm trong cùng một khung hình. Câu hỏi đọc hiểu có ở bài soạn văn bản Chiếc thuyền ngoài xa.
Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp). Chuyến đi săn của ông Diểu kết thúc bằng việc ông tha cho con khỉ. Truyện ngắn gọn, giọng kể lạnh, nhiều khoảng trống. Ý nghĩa không được nói thẳng mà để người đọc tự rút ra từ những chi tiết nhỏ, đúng tinh thần đa nghĩa của văn xuôi sau Đổi mới. Gợi ý trả lời câu hỏi nằm trong bài soạn Muối của rừng theo sách mới.
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh). Tiểu thuyết kể về người lính Kiên sau cuộc chiến, đan xen kí ức, giấc mơ và hiện tại. Đây là ví dụ hay được nêu cho khuynh hướng nhận thức lại chiến tranh: điều được khắc sâu là nỗi đau, sự mất mát của con người, và cách kể không đi theo một đường thẳng.
Ba tác phẩm khác nhau về đề tài nhưng giống ở một điểm: chúng đặt câu hỏi nhiều hơn là trả lời sẵn. Đó cũng là chỗ khiến văn học đương đại khó “học thuộc” hơn văn học giai đoạn trước. Để đặt các khái niệm này vào bức tranh rộng, có thể đọc thêm bài văn học hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.
Luyện tập: bốn câu về chữ đương đại
Câu 1: Trong câu “Người đương thời gọi Nguyễn Du là bậc tài hoa”, có thể thay “đương thời” bằng “đương đại” được không?
Đáp án: Không. “Đương thời” ở đây là cùng thời với Nguyễn Du. Nếu thay bằng “đương đại” sẽ thành “người thời nay”, sai ý câu.
Câu 2: Chọn từ đúng điền vào chỗ trống: “Bảo tàng mở khu trưng bày tranh … của các họa sĩ trẻ đang sáng tác.”
Đáp án: Đương đại. Tranh của những người đang sáng tác, thuộc thời nay.
Câu 3: Câu sau dùng từ đã hợp lý chưa: “Truyện Kiều là tác phẩm đương đại của văn học Việt Nam”?
Đáp án: Chưa. Truyện Kiều là tác phẩm văn học trung đại. Có thể nói “Truyện Kiều vẫn được bạn đọc đương đại yêu thích”, khi đó “đương đại” bổ nghĩa cho bạn đọc thời nay chứ không cho tác phẩm.
Câu 4: Nêu hai dấu hiệu giúp nhận ra Chiếc thuyền ngoài xa mang tinh thần văn học đương đại.
Đáp án: Có thể nêu: (1) nhìn đời sống nhiều mặt, không tô hồng, phơi bày nỗi khổ sau vẻ đẹp bề ngoài; (2) quan tâm đến số phận cá nhân, cụ thể là người đàn bà hàng chài và gia đình chị. Có thể thêm: nhân vật nghệ sĩ tự nhận thức lại quan niệm nghệ thuật của mình.
Đương đại trong tranh, nhạc và câu chữ hằng ngày
Nghệ thuật đương đại là gì?
Là các tác phẩm hội họa, điêu khắc, sắp đặt, trình diễn… của nghệ sĩ thời nay, thường phản ánh vấn đề của xã hội đang sống và hay thử nghiệm chất liệu, hình thức mới.
Văn học đương đại Việt Nam bắt đầu từ khi nào?
Không có ngày cố định. Phần đông nhà nghiên cứu lấy mốc sau năm 1975, có người nhấn mạnh hơn vào năm 1986, khi đề tài và cách viết được mở rộng rõ rệt.
Đương đại và hiện đại khác nhau thế nào?
Đương đại là thời đang sống; hiện đại là cái mới so với truyền thống. Trong đời thường hai từ dùng thay nhau được, nhưng nói về văn học sử thì “văn học hiện đại” rộng hơn, bao gồm cả văn học đương đại.
Đương đại tiếng Anh là gì?
Là contemporary, ví dụ contemporary art (nghệ thuật đương đại), contemporary literature (văn học đương đại). Từ modern thường ứng với “hiện đại”.