Nho giáo là hệ thống tư tưởng về đạo đức, cách tổ chức xã hội, việc cai trị và giáo dục do Khổng Tử khởi xướng ở Trung Hoa thời Xuân Thu, được các môn đệ đời sau phát triển. Người Việt quen gọi nó bằng nhiều tên: đạo Nho, đạo Khổng, Nho học. Học thuyết này vào nước ta từ thời Bắc thuộc và in dấu rất sâu trong lễ nghĩa, thi cử, nếp nhà.
| Nghĩa ngắn | Học thuyết đạo đức, chính trị, giáo dục của Khổng Tử và các nhà Nho |
| Chữ Hán | 儒教 (Nho giáo), 儒家 (Nho gia) |
| Người khởi xướng | Khổng Tử (theo truyền thống: 551–479 TCN) |
| Kinh điển | Tứ thư, Ngũ kinh |
| Ở Việt Nam | Du nhập thời Bắc thuộc; thịnh nhất ở thời Lê sơ |

Nho giáo: học để làm người
Chữ Nho 儒 gồm bộ nhân 亻 (người) đứng cạnh chữ nhu 需. Trước cả Khổng Tử, chữ này đã dùng để gọi những người thạo lễ nhạc, rồi dần chỉ những người học rộng kinh sách. Vì thế “nhà Nho” ở ta là người có chữ, biết lễ nghĩa, chứ không nhất thiết là thầy tu hay người hành lễ.
Khổng Tử sống vào thời nhà Chu suy yếu, chư hầu đánh nhau liên miên. Ông không đặt ra một thế giới bên kia để hướng tới, mà tìm cách sắp lại trật tự cho cõi người: mỗi người làm đúng phận mình, người làm vua phải xứng là vua, người làm cha phải xứng là cha. Đi kèm là một loạt phẩm chất cần tu dưỡng, gói trong năm chữ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Lời thầy được học trò ghi lại thành sách Luận ngữ. Về sau, kinh điển của nhà Nho được gọi chung là Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung) và Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Đến đời Tống, Chu Hy chú giải Tứ thư và biến bộ sách thành chương trình học căn bản, ảnh hưởng tới cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Trình tự mà Nho giáo đặt ra rất rõ: tu thân trước, rồi lo cho gia đình, rồi mới đến việc nước. Thứ tự “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” trong sách Đại học là cái khung mà nhiều thế hệ sĩ tử Việt thuộc lòng.
Dấu vết Nho giáo trong nếp nhà người Việt
Bây giờ ít ai đọc Tứ thư, nhưng nhiều thói quen quen thuộc vẫn mang dấu Nho giáo. Có thể nhận ra qua mấy biểu hiện đời thường:
- Chữ hiếu đứng đầu: con cháu phụng dưỡng cha mẹ, giữ giỗ chạp, coi việc làm cha mẹ buồn lòng là lỗi lớn.
- Trọng thứ bậc: cách xưng hô theo vai trên dưới, chuyện người nhỏ phải mời người lớn ngồi trước, ăn trước.
- Kính thầy, quý chữ: nếp tôn thầy và quý trọng đạo học, thói quen thưởng con khi đỗ đạt.
- Chuẩn mực cho từng vai: những giềng mối như tam cương và năm đức thường của nhà Nho, hay yêu cầu “công, dung, ngôn, hạnh” đặt ra cho phụ nữ xưa.
Những biểu hiện ấy không phải lúc nào cũng tốt. Bên cạnh lòng hiếu và tinh thần hiếu học, Nho giáo phong kiến cũng để lại lối nghĩ coi con trai hơn con gái, đề cao quyền của người đứng đầu gia đình đến mức thành thói gia trưởng trong mỗi mái nhà.
Cả lối giữ khoảng cách giữa trai và gái ngày xưa cũng có gốc Nho học, gói trong câu nam nữ thụ thụ bất thân.
Vì sao Nho giáo bám rễ ở Việt Nam?
Nho giáo vào nước ta cùng với chữ Hán trong thời Bắc thuộc. Chính quyền phương Bắc dùng nó như một công cụ cai trị, nên ban đầu chỉ lan trong giới quan lại và người học chữ. Sau khi giành độc lập, các triều đại đầu tiên vẫn trọng Phật giáo hơn.
Bước ngoặt đến từ nhu cầu xây dựng nhà nước. Nhà Lý dựng Văn Miếu năm 1070 và mở khoa thi Nho học đầu tiên năm 1075. Từ đó, muốn làm quan phải đọc sách Nho, và chính khoa cử đã kéo Nho giáo đi sâu vào làng xã: nhà nào có con đi học, đi thi thì cả họ được thơm lây. Sang thời Lê sơ, nhất là dưới triều Lê Thánh Tông, triều đình đặt Nho giáo lên vị trí tư tưởng chính thống. Các kỳ thi Nho học kéo dài đến năm 1919, đời vua Khải Định, mới chấm dứt.
Tác động của hơn tám thế kỷ ấy có hai mặt. Mặt được: một nền giáo dục coi trọng đạo đức, tinh thần hiếu học, sự gắn bó gia đình và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Mặt hạn chế: lối học nặng thuộc lòng kinh sách, coi nhẹ khoa học kĩ thuật, khuôn phép khắt khe với phụ nữ và người dưới. Nhìn Nho giáo cho công bằng là nhìn thấy cả hai mặt đó.
Nho, Phật, Lão: ba nhà khác gì nhau?
| Tiêu chí | Nho giáo | Phật giáo | Đạo giáo (Lão) |
|---|---|---|---|
| Người khởi xướng | Khổng Tử | Thích Ca Mâu Ni | Lão Tử |
| Nơi ra đời | Trung Hoa | Ấn Độ cổ | Trung Hoa |
| Mối quan tâm chính | Trật tự xã hội, đạo làm người | Thoát khổ, giác ngộ | Sống thuận tự nhiên, vô vi |
| Thái độ với đời | Nhập thế, ra giúp đời | Buông bỏ ham muốn | Lánh xa danh lợi |
Ở thời Lý – Trần, ba dòng tư tưởng này cùng tồn tại khá hòa hợp, sử sách gọi là “tam giáo đồng nguyên”. Nhiều nhà Nho Việt khi làm quan thì theo đạo Khổng, về già lui về ở ẩn lại gần với tinh thần Lão – Trang. Cũng cần tách mấy chữ dễ lẫn: Nho giáo là học thuyết, Nho học là việc học theo học thuyết ấy, còn nhà Nho là người theo học.
Chữ trung, chữ hiếu trong sách Ngữ văn
Học sinh gặp Nho giáo nhiều nhất qua văn học trung đại. Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu dựng nên những nhân vật sống theo nhân nghĩa: thấy việc bất bằng thì ra tay, giúp người không cần đền đáp. Có thể đọc thêm ở bài soạn đoạn Vân Tiên đánh cướp cứu người. Ở chiều ngược lại, Chuyện người con gái Nam Xương cho thấy mặt khắc nghiệt của lễ giáo: người vợ hiền bị nghi oan mà không có cách nào tự minh oan trước người chồng gia trưởng.
Đọc hai tác phẩm cạnh nhau, ta thấy các nhà văn xưa vừa sống trong Nho giáo vừa nhìn ra chỗ hẹp của nó. Chi tiết Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách mà bảo con là cha Đản là chỗ đáng nhớ: một câu nói đùa của người mẹ lại thành bằng chứng buộc tội, vì trong nhà ấy lời người chồng không ai được cãi.
Nho giáo trong vài dòng ghi nhớ
Đạo Nho là gì?
Đạo Nho là tên gọi khác của Nho giáo, cũng hay gọi là đạo Khổng. Đó là con đường tu dưỡng và ứng xử theo lời dạy của Khổng Tử và các nhà Nho kế tục.
Nho giáo có phải là tôn giáo không?
Đây là câu hỏi giới nghiên cứu còn bàn. Nho giáo có nghi lễ tế tự, có thờ Khổng Tử ở Văn Miếu, nhưng không nói về thần linh hay đời sau như một tôn giáo điển hình. Nhiều học giả coi đây trước hết là một học thuyết về đạo đức và chính trị.
Nho giáo du nhập vào Việt Nam khi nào?
Từ thời Bắc thuộc, theo chân chữ Hán và bộ máy cai trị phương Bắc. Nho giáo thật sự lớn mạnh khi nhà Lý mở khoa thi năm 1075 và đạt đỉnh ở thời Lê sơ.
Tư tưởng cốt lõi của Nho giáo là gì?
Là đạo làm người gắn với trật tự xã hội: tu thân để giữ năm đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; mỗi người giữ đúng bổn phận trong các mối quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ; người cầm quyền phải cai trị bằng đức hơn là bằng hình phạt.