Văn học là loại hình nghệ thuật lấy lời và chữ làm chất liệu để dựng nên hình tượng, qua đó phản ánh đời sống và bày tỏ cách nhìn, cảm xúc của con người về đời sống ấy. Hỏi “văn học nghĩa là gì” thì có thể đáp gọn: đó là nghệ thuật của chữ và lời, gồm cả bài ca dao truyền miệng lẫn cuốn tiểu thuyết in thành sách.
| Khái niệm | Nghệ thuật ngôn từ: dùng lời, chữ để tạo hình tượng về con người và cuộc sống |
| Nghĩa gốc Hán Việt | 文學: văn là chữ nghĩa, vẻ đẹp của lời; học là học hỏi, hiểu biết |
| Thuộc | Một ngành nghệ thuật, đứng cạnh âm nhạc, hội họa, điện ảnh… |
| Dấu hiệu nhận biết | Có hình tượng, có hư cấu hoặc chọn lọc, ngôn từ giàu hình ảnh và cảm xúc |
| Tiếng Anh | literature |

Văn học được định nghĩa thế nào trong từ điển và giáo trình?
Từ điển tiếng Việt xếp văn học là danh từ, giải nghĩa là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng để phản ánh hiện thực. Ba chữ then chốt nằm ngay trong câu ấy: ngôn ngữ là chất liệu, hình tượng là cách làm, hiện thực là cái được nói tới.
Các giáo trình lí luận văn học đi xa hơn một bước. Họa sĩ có màu, nhạc sĩ có âm thanh, còn nhà văn chỉ có lời. Lời ấy không tả trực tiếp như tấm ảnh mà gợi ra trong đầu người đọc một bức tranh, một số phận, một tâm trạng. Vì thế văn học thường được gọi bằng cái tên ngắn hơn: nghệ thuật ngôn từ.
Bách khoa thư thế giới còn nêu một cách hiểu rộng. Theo nghĩa rộng nhất, văn học là mọi tác phẩm viết ra; theo nghĩa hẹp, đó là những văn bản có giá trị nghệ thuật nhờ cách dùng ngôn ngữ khác lời nói hằng ngày. Ở trường phổ thông, ta học văn học theo nghĩa hẹp này. Còn khi nói “văn học y khoa” hay “tổng quan văn học” trong một luận văn, chữ ấy lại mang nghĩa rộng, chỉ toàn bộ tài liệu viết về một lĩnh vực.
Câu “văn học là nhân học” hay được nhắc khi bàn về đối tượng của văn chương: con người là trung tâm. Nguồn gốc câu nói ấy được bàn riêng ở bài giải nghĩa câu văn học là nhân học.
Bốn đặc trưng giúp nhận ra một tác phẩm văn học
Không phải trang viết nào có chữ cũng là văn học. Bản tin thời tiết, đơn xin nghỉ học hay hướng dẫn dùng thuốc đều dùng ngôn ngữ, nhưng không ai xếp chúng vào văn học. Khác biệt nằm ở mấy điểm sau.
- Có hình tượng nghệ thuật. Lão Hạc, chị Dậu, ông Hai là những con người được dựng lên bằng chữ. Người đọc thấy họ cười, khóc, day dứt như người thật.
- Có hư cấu hoặc chọn lọc. Nhà văn có thể bịa ra cả một ngôi làng, hoặc lấy chuyện thật nhưng chọn chi tiết, sắp xếp lại để làm nổi điều mình muốn nói.
- Ngôn từ giàu sức gợi. Câu chữ có nhịp, có hình ảnh, có so sánh, ẩn dụ, nhiều khi một câu đọc lên hiểu được hai ba tầng nghĩa.
- Mang tình cảm và cách nhìn của người viết. Một bản báo cáo cố gắng trung lập; một bài thơ thì ngược lại, nó muốn người đọc cùng thương, cùng giận với tác giả.
Đặc trưng thứ tư cũng là lí do văn học gần với nghệ thuật nói chung hơn là với khoa học: nó tác động vào cảm xúc trước, rồi mới tới lí trí.
Các bộ phận và thể loại của văn học
Cách chia quen thuộc nhất trong sách Ngữ văn dựa vào phương thức sáng tác và lưu truyền.
| Bộ phận | Cách hình thành | Thể loại tiêu biểu |
|---|---|---|
| Văn học dân gian | Sáng tác tập thể, truyền miệng qua nhiều đời | Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao, tục ngữ |
| Văn học viết (trung đại) | Có tác giả, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm | Thơ Đường luật, truyện thơ Nôm, hịch, cáo, phú |
| Văn học viết (hiện đại) | Có tác giả, chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ | Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ mới, kịch, kí, tùy bút |
Nếu xét theo cách tác phẩm “nói” với người đọc, giới nghiên cứu thường chia ba loại lớn. Tự sự kể lại sự việc, có cốt truyện và nhân vật. Trữ tình bộc lộ trực tiếp cảm xúc, thường qua nhân vật trữ tình trong thơ. Kịch để nhân vật tự hiện ra qua lời thoại và hành động trên sân khấu. Từ ba loại ấy mới tách ra các thể cụ thể như truyện ngắn, thơ lục bát, chèo, bi kịch.
Nhìn văn học qua vài trang sách quen thuộc
Một câu ca dao, một kiếp người
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Chỉ hai dòng, không ai kí tên, nhưng đủ hình tượng: tấm lụa đẹp mà bị đem bày giữa chợ. Người phụ nữ xưa tự thấy mình đẹp, có giá trị, nhưng số phận lại không do mình quyết. Đây là văn học dân gian, sống bằng trí nhớ của nhiều thế hệ. Muốn biết thêm về thể loại này, đọc bài ca dao là gì và đặc điểm của ca dao.
Một con chó và một ông lão
Trong truyện ngắn của Nam Cao, Lão Hạc bán cậu Vàng rồi khóc, kể với ông giáo rằng con chó nhìn lão như trách. Không có câu nào nói thẳng “lão rất thương con”, vậy mà người đọc hiểu cả nỗi nghèo, lòng tự trọng và tình cha của nhân vật. Đó chính là sức mạnh của hình tượng: để chi tiết tự nói. Bài phân tích truyện ngắn Lão Hạc đi kĩ từng chi tiết này.
Câu mở đầu Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Nguyễn Du không kể ngay chuyện Thúy Kiều mà nêu một suy ngẫm về đời người. Văn học viết trung đại hay mở bằng một ý triết lí như thế, cho người đọc biết câu chuyện sắp kể là để chứng minh điều gì.
Văn học, văn chương và văn bản khác nhau ở đâu?
| Từ | Thường dùng để chỉ | Ví dụ câu |
|---|---|---|
| Văn học | Cả loại hình nghệ thuật ngôn từ, hoặc ngành nghiên cứu nó | Văn học Việt Nam thế kỉ XX; khoa Văn học |
| Văn chương | Tác phẩm văn học, thiên về cái hay, cái đẹp của lời văn | Câu chữ của ông đậm chất văn chương |
| Văn bản | Mọi chuỗi lời có mục đích giao tiếp, kể cả đơn từ, bản tin | Văn bản thông tin, văn bản hành chính |
| Văn hóa | Toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần của một cộng đồng | Văn hóa ẩm thực, văn hóa đọc |
Một số giáo trình lí luận phân biệt chặt hơn: văn chương là nghệ thuật, còn văn học là khoa học nghiên cứu văn chương. Trong đời thường và trong sách giáo khoa, hai từ vẫn được dùng thay cho nhau. Văn học lại là một bộ phận của văn hóa; quan hệ giữa hai khái niệm này đã nói ở bài giải nghĩa từ văn hóa.
Luyện tập: nhận diện văn học qua bốn câu hỏi
Câu 1: Trong các văn bản sau, văn bản nào là tác phẩm văn học: bản tin dự báo bão, truyện cổ tích Tấm Cám, đơn xin nghỉ học, bài thơ Thu điếu?
Đáp án: Truyện cổ tích Tấm Cám và bài thơ Thu điếu. Cả hai đều có hình tượng (cô Tấm, cảnh ao thu và ông câu), có cảm xúc, có ngôn từ gợi hình. Bản tin và lá đơn chỉ nhằm truyền thông tin chính xác.
Câu 2: Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” thuộc bộ phận văn học nào? Vì sao?
Đáp án: Thuộc văn học dân gian, vì do tập thể nhân dân sáng tạo, lưu truyền bằng miệng, không rõ tác giả. Hình ảnh “quả” và “kẻ trồng cây” là cách nói hình tượng về thành quả và người tạo ra thành quả.
Câu 3: Hãy chỉ ra một điểm khác nhau giữa cách nói “Người nông dân nghèo rất thương con” và cách Nam Cao để Lão Hạc khóc sau khi bán chó.
Đáp án: Câu thứ nhất nhận xét trực tiếp, người đọc chỉ biết một thông tin. Nam Cao không nói thẳng mà dựng một cảnh có hành động, nét mặt, lời kể của nhân vật; người đọc tự cảm thấy nỗi đau và tình thương. Đó là khác biệt giữa diễn đạt thông thường và diễn đạt bằng hình tượng.
Câu 4: Xếp các thể sau vào ba loại tự sự, trữ tình, kịch: tiểu thuyết, thơ lục bát, chèo, truyện ngắn, bi kịch.
Đáp án: Tự sự: tiểu thuyết, truyện ngắn. Trữ tình: thơ lục bát (phần lớn bài lục bát bộc lộ cảm xúc, dù có truyện thơ lục bát mang tính tự sự như Truyện Kiều). Kịch: chèo, bi kịch.
Những thắc mắc quanh khái niệm văn học
Văn học tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là literature, bắt nguồn từ chữ Latin littera nghĩa là con chữ. “Tác phẩm văn học” là literary work, còn “văn học dân gian” thường dịch là folk literature hoặc folklore.
Văn học và văn chương có khác nhau không?
Trong giao tiếp và sách học sinh, hai từ gần như đồng nghĩa. Một số nhà lí luận dùng văn chương cho bản thân tác phẩm nghệ thuật, còn văn học cho ngành nghiên cứu. Khi làm bài, cứ theo cách dùng của sách giáo khoa là an toàn.
Văn học dân gian là gì?
Là những sáng tác tập thể, truyền miệng qua nhiều thế hệ, như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện cười. Nó khác văn học viết ở chỗ không có tác giả cụ thể và thường có nhiều dị bản.
Khái niệm văn học có cố định không?
Không hẳn. Trước đây nhiều người chỉ coi thơ, truyện, kịch là văn học; về sau kí, phóng sự, thậm chí lời bài hát cũng được xếp vào khi có giá trị nghệ thuật. Ranh giới thay đổi theo thời đại và quan niệm của mỗi nền văn hóa.