Trong những trang ghi chép cuối đời, ông kể phần lớn truyện của mình được nghĩ ra trên yên xe đạp, trong những vòng đạp lòng vòng qua những phố Hà Nội mà sống mấy chục năm ông vẫn chưa thuộc hết tên. Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), tên khai sinh Nguyễn Thí, là nhà văn quân đội, tác giả Dấu chân người lính, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau. Ông là người lính viết về chiến tranh trước 1975, rồi sau chiến tranh trở thành một trong những người đi đầu trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Từ làng Thơi đến tạp chí Văn nghệ Quân đội

| Tên khai sinh | Nguyễn Thí (đổi thành Minh Châu khi đi học) |
| Bút danh | Nguyễn Minh Châu |
| Năm sinh – năm mất | 20/10/1930 – 23/1/1989 |
| Quê quán | Làng Văn Thai (tên nôm là làng Thơi), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (Wikipedia ghi xã Sơn Hải, Bảo tàng Văn học ghi xã Quỳnh Hải) |
| Thể loại | Truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, tiểu luận phê bình |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cửa sông, Dấu chân người lính, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau, Phiên chợ Giát |
| Giải thưởng | Giải thưởng Bộ Quốc phòng (1984 – 1989); Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988 – 1989) cho Cỏ lau; Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt II, 2000) |
| Trong SGK hiện hành | Chiếc thuyền ngoài xa (Ngữ văn 12 Cánh diều, thực hành đọc hiểu) |
Cậu bé làng Thơi học trường Kỹ nghệ Huế những năm 1944 – 1945. Tháng 1/1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh rồi gia nhập quân đội, học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn. Từ 1952 đến 1958, ông công tác ở Sư đoàn 320: làm việc trong ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706, rồi làm trợ lý văn hóa Trung đoàn 64.
Từ năm 1962, ông chuyển hẳn sang công tác văn nghệ trong quân đội: thoạt đầu ở phòng Văn nghệ, rồi ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi ông gắn bó đến cuối đời. Ông vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1972.
Trước 1975: những trang văn của người lính
Truyện ngắn đầu tay Sau một buổi tập ra đời năm 1960. Sáu năm sau là tiểu thuyết Cửa sông (các nguồn ghi năm in khác nhau: 1966, 1967; Bảo tàng Văn học ghi 1978, có lẽ là năm tái bản). Tiếp đó là tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970) và tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972) về những người lính trong một chiến dịch lớn, cuốn sách đưa tên ông đến với đông đảo bạn đọc.
Văn ông thời kỳ này mang đúng tinh thần của văn học kháng chiến: ngợi ca, giàu chất trữ tình, nhân vật thường đẹp và trong trẻo. Chính Nguyễn Minh Châu về sau sẽ là người đặt câu hỏi gay gắt nhất về lối viết ấy. Cùng thời, nhiều cây bút văn xuôi khác, như Lê Minh Khuê với Những ngôi sao xa xôi, cũng viết về chiến tranh bằng cảm hứng ngợi ca tương tự.
Sau 1975: quay về đời thường
Chiến tranh kết thúc, ông còn viết thêm vài tiểu thuyết về người lính, nhưng ngòi bút dần rẽ sang hướng khác: số phận con người trong đời thường, những nghịch lý đạo đức, cái giá của chiến tranh trong từng gia đình.
| Năm | Tác phẩm | Thể loại |
|---|---|---|
| 1977 | Miền cháy; Lửa từ những ngôi nhà | Tiểu thuyết |
| 1982 | Những người đi từ trong rừng ra | Tiểu thuyết |
| 1983 | Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành | Tập truyện ngắn |
| 1985 | Bến quê | Tập truyện ngắn |
| 1987 | Mảnh đất tình yêu | Tiểu thuyết |
| 1987 | Chiếc thuyền ngoài xa | Tập truyện ngắn |
| 1988 – 1989 | Phiên chợ Giát; Cỏ lau | Truyện vừa |
Sự chuyển hướng ấy thường được tóm bằng mấy cặp đối lập: từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, từ cái nhìn một chiều sang cái nhìn nhiều chiều. Hai chặng viết, kèm dẫn chứng từ Chiếc thuyền ngoài xa và Bến quê, được phân tích trong bài phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu.
Bài “ai điếu” cho văn nghệ minh họa
Những năm đầu Đổi mới (danh mục tác phẩm trên Wikipedia ghi năm 1987, có tài liệu ghi 1986), Nguyễn Minh Châu viết bài tiểu luận có cái tên khiến cả văn giới xôn xao: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Trong bài, ông thẳng thắn phủ nhận lối văn chương chỉ minh họa cho chủ trương, đòi người viết phải nói thật về con người và đời sống, kể cả những điều khó nói.
Người viết bài ấy không phải người ngoài cuộc mà là một nhà văn đã thành danh từ chính nền văn học được gọi là “minh họa”. Sự tự phê phán đó làm bài viết có sức nặng. Sau khi ông mất, các bài phê bình của ông được tập hợp trong cuốn Trang giấy trước đèn (1994).
Chiếc thuyền ngoài xa trong sách giáo khoa Ngữ văn 12
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được viết vào tháng 8/1983, in lần đầu trong tập Bến quê (1985), rồi được tác giả lấy làm tên chung cho tập truyện ngắn năm 1987. Từ năm học 2008 – 2009, một đoạn trích của truyện được đưa vào sách Ngữ văn 12 và từ đó trở thành văn bản quen thuộc với nhiều lứa học sinh.
Câu chuyện kể qua nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Anh đến một vùng biển miền Trung để chụp ảnh lịch và bắt được khoảnh khắc “đắt” nhất đời mình: chiếc thuyền lưới vó trong sương sớm. Rồi chính chiếc thuyền ấy cập bờ, và anh chứng kiến người chồng đánh vợ dã man. Ở tòa án huyện, chánh án Đẩu khuyên người đàn bà bỏ chồng, nhưng chị van xin đừng bắt chị bỏ, vì đàn con cần một người đàn ông chèo chống giữa biển. Bức ảnh về sau được treo ở nhiều nơi, còn Phùng mỗi lần nhìn lại thấy hiện lên người đàn bà vùng biển.
| Văn bản | Sách – bài học | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Chiếc thuyền ngoài xa | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại), phần thực hành đọc hiểu | Tuyển tập tác phẩm Nguyễn Minh Châu |
Với học sinh, điều cần nắm là quan niệm nghệ thuật mà truyện đặt ra: cái đẹp của nghệ thuật và sự thật của đời sống không phải lúc nào cũng trùng nhau, và người nghệ sĩ cần nhìn đời đa chiều trước khi phán xét.
Phiên chợ Giát và Cỏ lau: viết đến những ngày cuối
Những năm cuối đời, Nguyễn Minh Châu viết hai truyện vừa được xem là đỉnh cao của ông. Cỏ lau trở lại chiến tranh bằng cái nhìn tỉnh táo, đau đớn của người lính đi qua nó, và được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1988 – 1989. Phiên chợ Giát xoay quanh lão Khúng, một người nông dân nghèo, câu chuyện nông thôn mà nhiều nhà nghiên cứu đọc ra nhiều tầng nghĩa.
Ông hoàn thành những trang cuối của Phiên chợ Giát khi đang điều trị bệnh ung thư máu ở Bệnh viện Quân y 108. Ngày 23/1/1989, ông mất tại Hà Nội, khi chưa tròn sáu mươi tuổi. Ngoài Giải thưởng Hồ Chí Minh truy tặng năm 2000, ông còn được Bộ Quốc phòng trao giải cho toàn bộ tác phẩm viết về chiến tranh và người lính giai đoạn 1984 – 1989.

Chân dung tự họa trong “Ngồi buồn viết mà chơi”
Những ghi chép cuối cùng của ông, viết trong những ngày nằm viện, mang cái tên rất giản dị: Ngồi buồn viết mà chơi. Ở đó, nhà văn quân đội từng viết về những trận đánh lớn tự nhận từ nhỏ đã là “một thằng bé rụt rè”, sợ từ con chuột nhắt đến ma quỷ, lớn lên đến chỗ đông người chỉ muốn tìm một góc khuất mà ngồi.
Ông kể mình sợ micro: một lần phải nói trước hội trường, nghe giọng mình vang qua loa, ông hoảng đến mức từ đó tránh hẳn. Ông cũng không thích thuyết phục ai, chỉ muốn người đọc tự tìm lấy lẽ phải. Đọc những dòng ấy, ta hiểu vì sao truyện của ông ít khi lên giọng: con người nhút nhát ấy dành hết can đảm cho trang viết.
“Người mở đường tinh anh”: một danh xưng và xuất xứ của nó
Hễ giới thiệu Nguyễn Minh Châu, sách vở hay dùng cụm từ “người mở đường tinh anh và tài năng”. Cụm từ này xuất hiện trong nhiều bài nghiên cứu, chẳng hạn các bài đăng trên tạp chí khoa học của Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Đại học Cần Thơ, để chỉ vai trò của ông trong quá trình đổi mới văn học sau 1975.
Nhiều tài liệu dạy học ghi đây là lời của nhà văn Nguyên Ngọc (bút danh khác là Nguyễn Trung Thành, tác giả Rừng xà nu, Đất nước đứng lên). Tuy vậy, Văn VN chưa tìm được bài viết gốc có câu này, nên chỉ dùng nó như một danh xưng phổ biến chứ không coi là trích dẫn nguyên văn. Điều chắc chắn hơn là chính những trang văn sau 1975 của ông, từ Bến quê đến Phiên chợ Giát, đã mở lối cho nhiều cây bút đi sau. Đặt ông cạnh những cây bút xuất hiện cuối thập niên 1980 như Nguyễn Huy Thiệp hay Bảo Ninh, người đọc sẽ thấy rõ hơn ông đứng ở đâu trên con đường đổi mới của văn xuôi Việt Nam.
Có thể đọc thêm những truyện ngắn và tiểu thuyết khác của ông trong bài tuyển tập các tác phẩm Nguyễn Minh Châu.
Xem thêm: